
1
HỌC VIỆN QUÂN Y
BỘ MÔN: TRUYỀN NHIỄM
BỆNH VIÊM HỌNG,
BỆNH BẠCH HẦU
Môn học: Truyền nhiễm
Bài: Bệnh Viêm họng, Bệnh Bạch hầu
Đối tượng: Bác sỹ dài hạn quan y
Năm học: 2008-2009
Giảng viên: Thượng tá-ThsCK1 Hoàng Tiến Tuyên

2
BỆNH BẠCH HẦU
(Diphthérie)
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. Định nghĩa
Bệnh bạch hầu là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây theo đường
hô hấp. Đây là một bệnh nhiễm trùng - nhiễm độc (toxi - infection) do
trực khuẩn bạch hầu (Corynebacterium Diphtheriae )gây nên. Tổn
thương của bệnh là viêm, loét ở vùng mũi, họng, thanh quản ... với
những màng giả kèm theo biểu hiện nhiễm độc nặng, tổn thương hệ thần
kinh và tim mạch. Bệnh có vaccine dự phòng.
1.2. Lịch sử nghiên cứu
Hình ảnh lâm sàng bệnh bạch hầu được mô tả lần đầu tiên vào thế
kỷ thứ nhất bởi A.Kapdokiski. Nhiều thông báo, nghiên cứu được thực
hiện vào thế kỷ XVII và XVIII. Năm 1826, Bretonneau mô tả chi tiết
bệnh cảnh lâm sàng. A Tronsseau qua nghiên cứu vụ dịch xảy ra năm
1846 tại Pari đã đặt tên bệnh là Diphthérie. Năm 1883, Klebs phát hiện ra
căn nguyên gây bệnh là trực khuẩn. Năm 1884, F.Loeffler phân lập được
chủng trực khuẩn bạch hầu và đưa ra các bằng chứng gây bệnh. Do vậy,
trực khuẩn bạch hầu còn có tên gọi là trực khuẩn Klebs-Loeffler. Năm
1888, Roux và Yersin xác định được ngoại độc tố của trực khuẩn bạch
hầu. Năm 1923, G. Ramon đã bào chế thành công giải độc tố từ ngoại
độc tố để sản xuất vaccine dự phòng bệnh.

3
2. DỊCH TỄ HỌC
2.1. Mầm bệnh
Là Corynebacterium Diphtheriae ( còn có tên là trực khuẩn Klebs-
Loeffler ), là trực khuẩn hình que diêm, không vỏ, không sinh nha bào,
đầu tròn, ái khí không di động bắt màu gram (+). Kích thước 2- 8 x 0,5-
1mm. Quan sát dưới kính hiển vi chúng thường xếp với nhau thành hình
thể V, L, Y. Trong môi trường nuôi cấy(môi trường Schroer), sau 48 giờ
tạo khuẩn lạc có màu đen.
Trực khuẩn bạch hầu có kháng nguyên thân O và kháng nguyên bề
mặt K. Dựa vào tính chất sinh học như hình thể, khuẩn lạc, tính chất thủy
phân tinh bột, các nhà vi sinh vật đã định được 3 týp sinh học là Gravis,
Intermedius và Mitis.Týp Gravis thường gây dịch bạch hầu lớn, týp Mitis
gây ra những vụ dịch tản mát, dai dẳng. Các týp này có chung kháng
nguyên là Polyosit, các vi khuẩn giả bạch hầu không có kháng nguyên
này.
Cả 3 týp đều tiết ra ngoại độc tố. Ngoại độc tố dễ bị bất hoạt với
nhiệt độ. Do vậy, các nhà khoa học đã chế tạo thành công giải độc tố
này từ ngoại độc tố bạch hầu để làm vaccine. Độc tố bạch hầu là yếu tố
gây bệnh chủ yếu, lượng độc tố có liên quan đến các týp sinh học.
Trực khuẩn bạch hầu có sức đề kháng cao ở ngoài môi trường, ở
nhiệt độ phòng, trong màng giả đã khô hoặc dính vào quần áo, đồ
dùng…có thể sống được khá lâu. Trong điều kiện khí hậu khô hanh,
lạnh, vi khuẩn chịu đựng khá hơn, trong sữa sống được 20 ngày. Chết ở
500C trong 6 phút, 650C trong 2 phút. Dưới ánh sáng tự nhiên sống được
vài ngày.

4
Trực khuẩn bạch hầu đề kháng cao với Sulfamid, nhạy cảm với
Pénicilline và kháng sinh phổ rộng.
2.2. Nguồn bệnh
Người (bệnh nhân và người mang khuẩn) là nguồn bệnh duy nhất.
Bệnh nhân là nguồn lây từ cuối thời kỳ nung bệnh cho đến khi khỏi bệnh
được 2-3 tuần có khi hàng tháng, có trường hợp đến 64 tuần. Người
mang khuẩn không triệu chứng(tỷ lệ 10-50 % trong vụ dịch) và người
mang khuẩn sau khi bị bệnh là nguồn lây bệnh rất nguy hiểm do khó
kiểm soát.
2.3. Đường lây
Đường lây chủ yếu: qua đường hô hấp do tiếp xúc trực tiếp (ho, hắt
hơi, nói chuyện…) trực khuẩn bạch hầu có trong dịch tiết từ mũi họng
của bệnh nhân.
Lây gián tiếp: qua đồ dùng, quần áo, đồ chơi trẻ em, thức ăn, nhất
là sữa tươi nhiễm mầm bệnh.
2.4. Cơ thể cảm thụ
Lứa tuổi dễ mắc bệnh là trẻ em dưới 15 tuổi chỉ số nhiễm bệnh
khoảng 15-20 % ở trẻ chưa có miễn dịch. Trẻ sơ sinh (< 6 tháng) không
mắc bệnh do có kháng thể thụ động từ mẹ truyền sang.
Sau khi mắc bệnh có miễn dịch bền vững (nồng độ kháng thể
kháng độc tố bạch hầu> 10UI/ml). Tuy nhiên, tỷ lệ tái phát là 2-5%.
Nhiễm khuẩn thể ẩn cũng có miễn dịch như khi bị bệnh .
Miễn dịch thu được sau khi tiêm giải độc tố thường kéo dài nhưng
giảm dần vì vậy nếu không tiêm nhắc lại thì vẫn có thể bị bệnh.

5
Phát hiện khả năng miễn dịch với trực khuẩn bạch hầu bằng phản
ứng Schick (phản ứng trung hoà). Tiêm 0,1 ml độc tố bạch hầu nguyên
chất hoà tan trong Albumin, tiêm trong da, mặt trước cẳng tay. Nếu cơ
thể không có kháng thể kháng độc tố bạch hầu sẽ xuất hiện phản ứng
viêm tại chỗ (phản ứng dương tính). Ngược lại, nếu phản ứng viêm âm
tính(phản ứng âm tính) thì chứng tỏ cơ thể có kháng thể kháng độc tố
bạch hầu. Phản ứng Schick thường chỉ được áp dụng trong điều tra dịch
tễ bệnh bạch hầu
3. CƠ CHẾ BỆNH SINH VÀ TỔN THƯƠNG MÔ BỆNH
HỌC
3.1. Cơ chế bệnh sinh
Cửa vào là niêm mạc đường hô hấp : mũi, họng thanh quản, đường
sinh dục và da bị thương. Tại cửa vào trực khuẩn bạch hầu sinh sản và
phát triển, tiết ra ngoại độc tố. Ngoại độc tố theo hệ tuần hoàn và bạch
huyết đi khắp cơ thể gây ra các tổn thương ở khắp các cơ quan, nhất là ở
tim và hệ thần kinh trung ương, thận thượng thận.
Ngoại độc tố của bạch hầu là một chuỗi Polypeptid, bản chất là
glycoprotein, có trọng lượng phân tử 60.000dalton. Ngoại độc tố có 2
tiểu phần được nối với nhau bởi cầu nối disulfid . Tiểu phần B (binding)
bám vào thụ cảm thể đặc hiệu trên màng tế bào giúp tiểu phần A (active)
có hoạt tính enzyme xâm nhập vào trong tế bào.Tiểu phần A làm giảm
quá trình trao đổi chất và tổng hợp Protein dẫn đến thoái hoá và chết tế
bào. Bệnh sinh bệnh bạch hầu không chỉ có liên quan đến số lượng và
độc tính của ngoại độc tố mà còn liên quan đến đáp ứng của cơ thể với

