
Bảnđồ tưduy – một trong những
công cụhỗtrợdạy học và công tác
quản lí nhà trường hiệu quả, dễthực
hiện.
Bảnđồ tưduy (BĐTD) là hình thức ghi chép sửdụng màu sắc, hình ảnh
để mởrộng và đào sâu các ý tưởng. BĐTD một công cụtổchức tưduy nền
tảng, có thểmiêu tảnó là một kĩthuật hình họa với sựkết hợp giữa từngữ,
hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạtđộng và chức năng
của bộnão, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộnão.
Cơchếhoạtđộng của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng
lướiliên tưởng (các nhánh). BĐTD là công cụ đồ họa nốicác hình ảnh có liên hệvới
nhau vì vậy có thểvận dụng BĐTD vào hỗtrợdạy học kiến thức mới, củng cốkiến
thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệthống hóa kiến thức sau mỗi chương,... và giúp cán
bộquản lí giáo dục lập kếhoạch công tác.
BĐTD giúp HS họcđược phương pháp học:Việc rèn luyện phương pháp
học tập cho HS không chỉlà một biện pháp nâng cao hiệu quảdạy học mà còn là
mục tiêu dạy học. Thực tếcho thấy một sốHS học rất chăm chỉnhưng vẫn học kém,
nhất là môn toán, các em này thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã

quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận
dụng kiến thứcđã học trướcđó vào những phần sau. Phần lớn sốHS này khi đọc
sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tựghi chép để lưu thông tin, lưu
kiến thức trọng tâm vào trí nhớcủa mình. Sửdụng thành thạo BĐTD trong dạy học
HS sẽhọcđược phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát
triển tưduy.
BĐTD- giúp HS học tập một cách tích cực.Một sốkết quảnghiên cứu cho
thấy bộnão của con người sẽhiểu sâu, nhớlâu và in đậm cái mà do chính mình tự
suy nghĩ, tựviết, vẽra theo ngôn ngữcủa mình vì vậy việc sửdụng BĐTD giúp HS
học tập một cách tích cực, huy động tốiđa tiềm năng của bộnão.
Việc HS tựvẽBĐTD có ưuđiểm là phát huy tốiđa tính sáng tạo của HS, phát
triển năng khiếu hội họa, sởthích của HS, các em tựdo chọn màu sắc (xanh, đỏ,
vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong…), các em tự“sáng tác” nên trên
mỗi BĐTD thểhiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng HS và BĐTD do
các em tựthiết kếnên các em yêu quí, trân trọng “tác phẩm” của mình.
BĐTD giúp HS ghi chép có hiệu quả.Do đặcđiểm của BĐTD nên người thiết
kếBĐTD phải chọn lọc thông tin, từngữ, sắp xếp, bốcụcđể “ghi” thông tin cần
thiết nhất và lôgic, vì vậy, sửdụng BĐTD sẽgiúp HS dần dần hình thành cách ghi
chép có hiệu quả.
Tác giảStella Cottrell đã tổng kết cách “ghi chép” có hiệu quảtrên BĐTD: 1).
Dùng từkhóa và ý chính; 2). Viết cụm từ, không viết thành câu; 3).Dùng các từviết
tắt. 4).Có tiêu đề. 5). Đánh sốcác ý; 6). Liên kết ý nên dùng nét đứt, mũi tên, số,
màu sắc,… 7). Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thểtra cứu lại dễdàng. 8). Sử
dụng màu sắcđể ghi.

Chẳng hạn, HS lớp 11 học vềphép dời hình và phép đồng dạng trong mặt
phẳng, mặt tròn xoay (hình học 12),… có thểhệthống các phép dời hình bằng
BĐTD. Với cách làm này rèn luyện cho bộóc các em hướng dần tới cách suy nghĩ
lôgic, mạch lạc và cũng là cách giúp các em hiểu bài, ghi nhớkiến thức vào não chứ
không phải là học thuộc lòng, học vẹt.
Trước khi học bài mới “Giản dị” (môn Giáo dục công dân) GV có thểgợi ý
cho HS vẽBĐTD bằng từkhóa “giản dị” sau đó cho các em thảo luậnđể vẽtiếp các
nhánh và bổsung dần các ý nhỏ, dẫnđến việc các em tựchiếm lĩnh kiến thức mới
một cách nhẹnhàng, tựnhiên nhưng lại rất hiệu quả đồng thời kích thích hứng thú
học tập của HS.
Sửdụng BĐTD giúp GV chủnhiệm, cán bộquản lí nhà trường lập kế
hoạch công tác và có cái nhìn tổng quát toàn bộkếhoạch từchỉtiêu, phương
hướng, biện pháp,…và dễtheo dõi quá trình thực hiệnđồng thời có thểbổsung
thêm các chỉtiêu, biện pháp,…một cách rất dễdàng so với việc viết kếhoạch theo
cách thông thường thành các dòng chữ.
Ví dụ, có thểtóm lược 5 nội dung của phong trào thi đua “xây dựng THTT,
HSTC” nhưsau:
Ví dụ: BĐTD tóm lược vấnđề đổi mới PPDH:
Ví dụ: kếhoạch năm học của một nhà trường có thểviết theo các mặt hoạt
động: dạy học, giáo dụcđạođức,… hoặc viết kếhoạch theo tháng, theo chủ đề,…

BĐTD có thểvận dụng được với bất kì điều kiện cơsởvật chất nào của các
nhà trường hiện nay. Có thểthiết kếBĐTD trên giấy, bìa, bảng phụ,… hoặc cũng có
thểthiết kếtrên phần mềm bảnđồ tưduy. Với trường có điều kiện cơsởhạtầng
công nghệthông tin tốt có thểcài vào máy tính phần mềm Mindmap cho GV, HS sử
dụng, bằng cách vào trang web www.download.com.vn gõ vào ô “tìm kiếm” cụm từ
Mindmap, ta có thểtải vềbản miễn phí ConceptDraw MINDMAP 5 Professional,
việc sửdụng phần mềm này khá đơn giản.
Việc sửdụng BĐTD giúp cán bộquản lí có cái nhìn tổng quát toàn bộvấnđề,
giúp GV đổi mới PPDH, giúp học sinh học tập tích cựcđó chính là một trong những
cách làm thiết thực triển khai nội dung dạy học có hiệu quả- nội dung quan trọng
nhất trong năm nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng Trường học thân thiện,
học sinh tích cực” mà BộGiáo dục và Đào tạo phát động.
Đặt câu hỏi trong giảng dạy
Trong tiến trình dạy học trên lớp, câu hỏi phát vấnđóng một vai trò
thiết yếu, là kênh thông tin hai chiều giữa người dạy và người học, thông qua
câu hòi người dạy có thểkích thích khảnăng tựtìm hiểu, tựkhám phá và
phát triển những tốchất tiềmẩnởngười học.

. NHỮNG CÁI “KHÔNG” KHI ĐẶT CÂU HỎI
1. Không nên đặt các câu hỏiđúng-sai hay các câu hỏi cho phép cơhội 50%
đúng và 50% sai. Ví dụ: “Có phải Orwell viếtAnimal Farm không?”, “Ai thắng trong
cuộc nội chiến?” Các kiểu câu hỏi này khuyến khích sựsuy đoán, tưduy tức thì, và
định hướng đúng sai, không phải tưduy khái niệm hay giải quyết vấnđề. Nếu giáo
viên vô tình hỏi kiểu câu hỏi này thì họphải hỏi ngay lập tức các câu hỏi khác như
“tại sao” hay “nhưthếnào”.
2. Không đặt những câu hỏi mập mờhay không xác định: “Các thành phố
chính của nước Mỹlà gì?”. Những câu hỏi nhưvậy dễnhầm lẫn và thường phải
được nhắc lại hay tinh giản. Câu hỏi phải rõ ràng và phù hợp với dự định của giáo
viên.
3. Không đặt các câu hỏi suy đoán. Các câu hỏi suy đoán có thểcũng là
những câu hỏi có/không, những câu hỏi không xác định hay mơhồ. Nên yêu cầu
người học giải thích ý nghĩa và chỉra các mối liên hệ, chứkhông đi tìm những
thông tin chi tiết và vụn vặn.
4. 4. Không đặt các câu hỏi kép hay câu hỏiđa diện. Ví dụ: “công thức hoá học
của muối là gì?” “Khối lượng phân tửcủa nó là bao nhiêu?” Trước khi người học có
thểtrảlời câu hỏi thứnhất, thì câu hỏi thứhai lạiđược hỏi. Kết quảlà người học
không biết câu hỏi nào giáo viên muốn họtrảlời.
5. 5. Không đặt những câu hỏi gợi ý hay dẫn dắt. Ví dụ: “Tại sao Andrew
Jackson là một tổng thống vĩ đại?” Câu hỏi thực sựcầnđến một quan điểm, nhưng
quan điểm hay sựxét đoán đã được nhậnđịnh.
6. Không hỏi những câu rườm rà. Ví dụ: “Trong mối liên hệvới các yếu tốô
nhiễm và các tia nắng mặt trời, chúng ta có thể điđến kết luận gì vềmức nước
trong tương lai?” “Manifest Destiny dẫnđến chủnghĩađế quốc và chủnghĩa thực
dân nhưthếnào trong khi tăng cường công nghiệp hoá đất nước?” Những câu hỏi
này đa chiều, không xác định, và dài dòng. Tỉa tót lời khi hỏi, sửdụng từvựng đơn
giản, không quá trang trọng hay tối nghĩa, hỏi những câu hỏi rõ ràng, đơn lẻ để
tránh việc che lấp ý nghĩa trong câu hỏi của bạn và làm cho người học nhầm lẫn.

