
Bản trường ca khai mở một
hướng đi (Phê bình tập "Ngày đang
mở sáng" của Trần Anh Thái)
i tìm hình thức mới cho thơ không có nghĩa là “đả cựu nghinh tân” hay
“hữu cựu bài tân”. Tìm hình thức mới mà nội dung cũ thì chẳng khác “bình
mới” mà “rượu cũ”.
Trường ca Ngày đang mở sáng làm theo thể tự do, chẳng luật lệ, thi pháp nào quy
định và nó chẳng cần cao sang, quý phái để gọi là “thi pháp nghệ thuật khúc chiết”, “cấu
trúc phức điệu của âm nhạc giao hưởng”, hay “thi pháp động” mà Nguyễn Trọng Tạo
dành trọn cho trường ca Trầm tích của Hoàng Trần Cương. Nó chỉ đi từ thể thơ tự do,
nhiều phân đoạn với bố cục mạch lạc, nhịp nhàng cần thiết đầy đủ. Diện mạo bản trường
ca có mặt mũi “khôi ngô tuấn tú” hay không cũng nhờ vào cách trang điểm tự nhiên này
đề chuyển tải nội dung từ hiện thực chiến tranh mà các giả từng sống qua. Nó sử dụng
các biện pháp tu từ, xây dựng hình ảnh, bố trí tình tiết và nhất là, nó không đóng vai trò
MC dẫn chương trình kiêm ca sĩ.
Can thiệp vào từng nhân vật hay từng vấn đề trong tác phẩm của mình, hầu hết
những tác giả đều tham dự hội đồng thẩm vấn đơn phương độc mã này. Nghĩa là tác giả
miêu tả những tốt xấu đâu đấy cả rồi cứ thế mà kết luận thay cho độc giả. Đó là phương
Đ

pháp cũ của các thể loại văn chương. Trái với việc can thiệp “nội bộ” vào tác phẩm của
mình, tác giả khúc huyền caNgày đang mở sáng chỉ đưa dữ liệu, miêu tả hiện thực, dẫn
chứng bằng lời lẽ, ngôn ngữ, hành động... để người mà ấm trong. Nó sẽ mang tên tác giả
đó như khẳng định bản quyền của tác phẩm mà ta quen nhìn hàng chữ “Copyricht” (bản
quyền). Đó cũng là thi pháp đọc tự đánh giá tốt xấu, có giá trị hay không? Quyền tự
đánh giá nhân vật, đánh giá tác phẩm, đều thuộc về độc giả. Tác giả miêu tả dường
như... rất lạnh lùng nhưng bên trong tàng ẩn một tình cảm bao la. Phương pháp sáng tác
trên gọi là thi pháp cá nhân tĩnh mà động (lạnh ngoài cũ mà mới). Nó cũ vì đã có người
từng sử dụng. Nó mới là người sử dụng không lặp lại cách viết của người trước dù trong
cùng một chủ đề. Rõ ràng nhất là những gì thuộc sở hữu đại từ như “của tôi” đã được
Trần Anh Thái đánh rơi mất... của! còn “tôi”.
Thi ca không nói đến ai đúng ai sai hay ai mới hơn ai. Nó chỉ biết, thơ có hồn hay
thơ vô hồn, cảm được hay vô cảm. Nếu cảm nhận chưa thông thì đừng theo khuynh
hướng “cuốn theo chiều gió”. Khen chê cũng bởi nhà ngươi. Khen người hôm nọ, chê
cười bữa nay! Là sao? Người ta khen Nguyễn Du gì thì khen nhưng khen về thi pháp lục
bát thì chưa chắc! Vì hơn một nửaTruyện Kiều sai luật và cưỡng vận.
Với những trường ca, đều thấy rõ là các tác giả ra sức vận dụng toàn bộ các loại
thể của thơ bao nhiêu hay bấy nhiêu. Thơ từ một từ đến đoạn dài nhằng mà ta đùa gọi
thơ xe lửa. Một phương thức dùng trong trường ca là điệp từ, điệp ngữ đầu câu ta có thể
bắt gặp ở hầu hết các tác giả, từ các nhà thơ mới đến Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn
Duy, Nguyễn Quang Thiều, Thi Hoàng...
Trần Anh Thái cũng sử dụng điệp từ đầu câu nhấn mạnh như thế và từng mỗi điệp
từ mang ý nghĩa riêng biệt phụ trợ cho nội dung nhưng mới ở chỗ chúng không điệp từ
dẫn nguyên câu mà câu có điệp từ lại chia ra, nhìn “rất thoáng”: Những con còng rúc
hang/ Những vòm cây/ Những cơn gió/ Ngày.../ Như không thấy gì/ Như không tồn tại/
Như không có bạn/ Như không có người/ Mây dại lửng lơ/ Ngày!.../ Ngày!.../ Ngày!.../
Đằng đẵng... ngày!...
Đặc biệt, Trần Anh Thái đã không “tham lam” dùng thể “văn xuôi” tuỳ bút vào
trường ca. Lạm dụng nó nhiều, trường ca như chàng trai trẻ bỗng chốc hoá ông già! Một

phương thức mới cần chú ý, Trần Anh Thái không chen thể lục bát vào trường ca. Lục bát
là loại thể dễ đánh lừa người ta. Nó khó làm được hay trong các thể loại. Vì vậy mà các
tác giả thường gieo vần cưỡng vận nên dù có luật sư vần lưng hay vần thông gì cãi hộ
cũng không phá cái án “tay nghề non”. Phương pháp sáng tác là một quá trình thực hiện
những thao tác từ đơn giản đến phức tạp để tìm ra cho tác phẩm mình một hướng đi mà
tác phẩm phải có tính thời gian. Thi pháp là cách viết, cách làm. Ví dụ viết trường ca:
Không nên ôm đồm mọi thể thơ. Không sử dụng nó nếu như không rành lắm. Không chắc
ăn về thể loại thì không nhúng tay vào. Mạnh về thể loại nào thì sài loại đó! Không trình
bày khi thì lên đèo, khi xuống dốc, khi viết in, khi viết hoa... hoa mà những cái đó chỉ tổ
loá mắt người đọc. Trần Anh Thái đã xen kẻ những thể loại thơ ba từ, bốn từ xen kẽ vào
những năm từ, sáu từ đến nhiều từ. Cho nên, khi đọc hầu hết các trường ca, người đọc
mới thấy được thế mạnh, yếu của trường ca là ở điểm nào. khúc huyền ca Ngày đang mở
sáng là sự kết hợp các yếu tố cần thiết bảo đảm tính vừa phải để nó được tự nhiên mà
sống cùng thời gian. Yếu tố kết hợp với cách dùng thể loại thơ là các phép tu từ mang tính
thẩm mỹ nhất định.
Trong trường ca này, Trần Anh Thái hoàn toàn thả lỏng mình. Tác giả chẳng hề
kết luận, đánh giá mà chỉ nêu lên sự việc, miêu tả sự vật. Ví dụ để nói về người mẹ trên
cánh đồng khô, Trần Anh Thái chỉ tả:
Mẹ ra đi trong đêm
Sương khuya mò bóng
Thượng đế ở đâu nơi hốc mắt thẳm sâu
rười rượi luống cày, chim sếu co ro ngày không gió.
Người đọc tự hiểu người mẹ này như thế nào? Thượng đế này là đáng trách hay
đáng tin? Ruộng cày ra sao qua những từ ngữ có tính biểu cảm ở các trường ca khác, các
tác giả đã nói dùng hết các sắc thái biểu cảm người đọc, làm cho người đọc không cần
phải nghĩ ngợi gì thêm.
Nói về thân phận người thợ cày, Trần Anh Thái chỉ viết: Thượng đế rong chơi/
Người thợ cày nhâm nhi giọt máu của mình/ Chảy qua những dòng sông cánh đồng biển

sâu lam lũ mà chẳng một lời bình, một lời kết thì người đọc cũng hiểu người thợ cày lam
lũ này đáng thương khi “đổ vào cánh đồng cơn đói mờ run”.
Tác giả chỉ dùng từng sắc thái tu từ biểu thị mối quan hệ tình cảm của từng nhân
vật mà không can thiệp vào. Ví dụ về hoàn cảnh gia đình, tác giả chỉ viết: Mẹ thức lúc
nửa đêm/ Cơm tàn tro nguội/ Anh tôi biền biệt chiến trường/ Bầy chim thản nhiên bay
qua.
Người đọc hiểu được nỗi lòng người mẹ như đang ngồi trên đống lửa vì có người
con trai đang ở chiến trường.
Hay Trần Anh Thái chỉ dùng ngôn ngữ miêu tả gián tiếp qua “hương khói ban
thờ” và “trăng rằm côi cút” tạo hình ảnh:Hương khói ban thờ đỏ mắt/ Trăng rằm côi cút
sáng ngoài sân.
Cũng vậy, với hoàn cảnh má Mừng, nhân vật má này chẳng nói gì, tác giả chỉ
ghi: Gương mặt chồng và năm đứa con/ Tàn nhang rơi lạnh... thì người đọc giật mình
biết là má có 6 người thân đã hy sinh với 4 từ “tàn nhang rơi lạnh”.
Trong khúc huyền ca, tình cảm “cậu bé và cô bé” không giống bất cứ chuyện tình
nào trong văn học. Nó chẳng có từ yêu, không bỏ xuống chữ thương. Tác giả chỉ
viết: Đêm đóng cửa vẽ gương mặt em trong trái tim tôi khi ấy/ Cây bút buông rơi trang
giấy vo nhàu.
Người đọc biết rằng từ đây, trái tim cậu bé đã có một nữ chủ nhân dễ thương ngự
trị. Có nghĩa là “em đã nhốt anh trong trái tim của em”.
Để diễn tả trường tương tư, Trần Anh Thái không “yêu xanh núi, nhớ tím trời”
như Tứ tuyệt tương tư của Xuân Diệu “hoa tím tương tư đã nở đầy” hay la ó “Lệ Kiều
ơi hỡi” như Hàn Mặc Tử với “Trường tương tư” của mình và chẳng giống “Trường
tương tư” của Lý Bạch “Nguyệt minh nhân ỷ lâu” (Người tựa lầu đêm trăng) hoặc “ruột
tằm chính khúc” vò tới vò lui trong “Tương tư” của Tú Mỡ. Cũng vậy, khác với “Tương
tư” 6/8 lệch thi pháp và cưỡng vận khổ sở của “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông” mà
Nguyễn Bính hít hà. Trái lại tương tư của khúc huyền ca nhẹ nhàng, bí ẩn mà... nặng
công hơn: Vô cớ một tiếng chim/ Vô cớ u buồn/... Lang thang khắp các nẻo đường/ Trĩu
nặng dấu chân em.

“Vô cớ” cũng là cái cớ, là một cách biểu hiện tương tư khá cảm xúc.
Để biểu thị mức độ tình cảm của tác giả khi dựng lại hình ảnh chiến trường, hầu hết
các tác giả các thể loại cùng chủ đề này nói chung và trường ca nói riêng, cái “tôi” của tác
giả nằm trọn trong tác phẩm. Mức độ khen chê, thù hận, thương yêu đều dàn trải hết qua
nhân vật “tôi” này. Khúc huyền ca không hề biểu hiện một thái độ của cá nhân chủ nghĩa
trong tác phẩm. Đó là một tư duy theo phương pháp mới khi phác hoạ lại hình ảnh chiến
tranh. Qua bao nhiêu năm, dĩ nhiên, cái nhìn về chiến tranh phải khác đi. Nhận xét, kết luận
về kẻ thù cũng nên hiểu ở mức độ giá trị con người chứ không nên đánh đồng là thú vật với
những từ ngữ “mày, tao, nó, thằng, quỷ, cá mập, rắn độc, xà tinh”.
Trung thực và tôn trọng bản chất sự thật, Trần Anh Thái viết theo một quan điểm
nhân văn là việc làm được coi quang minh lỗi lạc. Chỉ một đoạn ngắn: Tôi nghe lạnh
giữa hai bờ cuộc chiến/ Cái chết nối hàng/ Cái chết tiễn đưa nhau.
Quan niệm của người lính cũng như tác giả về cuộc chiến đã rõ ràng: Cái chết/
Bom vùi lấp mặt/ Mặt trời lấp mặt/ Xác quân thù xác bạn gục vào nhau/ Kéo hoàng hôn
rã rời.
Tác giả chỉ miêu tả lạnh tanh:
Bóng người dìu nhau bết máu. Màn đêm lặng phắc bãi chiến trường, gió khô mặt
đất. Mơ hồ cơn co giật, tiếng gọi thất thanh, tiếng kêu cứu vớt, ròng gương mặt thời
gian ám mùi bom đạn.
Những xác chết ngổn ngang hình hài méo mó. Từng nhúm xương chắp vá vô tình
đêm tối mò tìm. Căn hầm nồng nặc.
Bầu trời những vì sao tối dần, cái chết im lìm chờ cuốn ni lông đưa về đất. Thời
gian rỉ máu, không gian ngột ngạt tanh nồng. Côn trùng rền rĩ.
Họ đã đi tới đích cuộc đời. Không còn tường thành giam hãm.
Giữa trận chiến ai mạnh nấy thắng. Người lính trong khúc huyền ca với tư cách
một kẻ thắng trận: Kẻ thắng trận hai tay ôm mặt khóc/ Thương tích tạc vào gió thổi
ngàn sau.

