
260
Ministry of Agriculture & Rural Development
B¸o c¸o tiÕn ®é Dù ¸n
037/05VIE
Thiết lập vườn ươm và đào tạo nhằm nâng cao chất
lượng cây giống Mắcca và xây dựng những mô hình
trồng Mắcca tại 03 tỉnh miền Bắc Việt Nam
MS4: Báo cáo 6 tháng lần thứ hai
Tháng 12 năm 2006
1

1. Thông tin về đơn vị thực hiện dự án
Tờn dự ỏn Thiết lập vườn ươm và đào tạo nhằm nâng cao
chất lượng cây giống Mắcca và xây dựng
những mô hình trồng Mắcca tại 03 tỉnh miền
Bắc Việt Nam.
Tổ chức Việt Nam Trung tâm Môi trường, Du lịch và Phát triển,
Hội KHKT Lâm nghiệp Việt Nam
Người đứng đầu nhóm dự án phía Việt Nam GS. Hoàng Hoè
Tổ chức cộng tác Australia Hội Lâm nghiệp trang trại Á nhiệt đới
Australia (SFFA)
Tên người đầu mối liên hệ chính được đề cử của
Tổ chức Đối tác Australia
Martin Novak, Kim Wilson
Ngày bắt đầu thực hiện 10/01/2006
Ngày kết thúc dự án theo đề xuất 10/01/2009
Ngày kết thúc được mở rộng
Thời gian báo cáo 06 tháng cuối năm 2006
Người liên hệ
Tại Australia: Người đứng đầu
Tên: Martin Novak Telephone: 61 2 66895027
Chức vụ: Chủ tịch Fax: 61 2 66895227
Tổ chức Hội Lâm nghiệp trang trại Á nhiệt
đới Australia (SFFA) Email: martin@macanuts.com
Tại Australia: Liên hệ hành chính
Tên: Valda Mitchell Telephone: 61 2 66284372
Chức vụ: Nhân viên hành chính Fax: 61 2 66284386
Tên tổ
chức
Héi L©m nghiÖp trang tr¹i ¸ nhiÖt
®íi australia (SFFA) Email: sffa@ceinternet.com.au
Tại Việt Nam
Tên: Hoàng Hoè Telephone: 04 8642670, 04
7560233
Chức vụ: Giám đốc Fax: 04 7560233
Tên tổ chức CETD Email: hoanghoe@fpt.vn
2

2. Tóm tắt dự án
Dự án này sẽ thiết lập một vườn ươm mới và nâng cấp 3 vườn ươm hiện có và trồng khảo nghiệm
10 ha Vườn cây Mắcca ít nhất có 10 giống thích hợp nhất, được trồng trong 3 địa điểm thuộc 3
tỉnh Miền Bắc Việt Nam. Thu thập những số liệu khảo nghiệm và đánh giá, làm cơ sở cho sự phát
triển công nghiệp Mắcca ở Việt Nam. Công tác đào tạo sẽ được xuyên suốt trong quá trình thực
hiện dự án với các nội dung về tạo giống, ghép cây, thiết kế hiện trường, chuẩn bị đất , trồng cây , chăm
sóc và quản lý vườn cây Măcca. Tất cả những công việc này nhằm hướng tới sản xuất với chất lượng cao,
tăng giá trị, chiến lược tiếp thị với nghành công nghiệp úc như là một đối tác chính.
Một nhóm các chủ trang trại nhỏ được lựa chọn ở các tỉnh: Lạng Sơn, Ba Vì, Hoà Bình. Thêm vào đó, tối
thiểu 100- 500 ha ở các tỉnh nói trên cũng sẽ được xác định như thích hợp cho ngành sản xuất Mắcca thương
mại. Đây là những hoạt động tiên phong trong ngành công nghiệp Mắcca ở Việt Nam.
Tổ chức chính của Australia- Hội Lâm nghiệp Trang trại Á nhiệt đới sẽ quản lý và đảm bảo việc thực hiện một
cách có hiệu quả các hoạt động dự án cùng với đối tác Việt Nam là Trung tâm Môi trường, Du lịch và Phát
triển. 12 tổ chức cộng tác khác sẽ cung cấp cho dự án những kiến thức bao gồm: MARD, , RCFTI, AMS,
CSIRO, UQ, SCU và RIFAV. Cán bộ của Trung tâm khuyến nông Quốc gia và của các tỉnh sẽ tham gia các
lớp tập huấn của dự án, Bộ NN&PTNN sẽ nghiên cứu chính sách để hỗ trợ những người nông dân mong
mu
ố
n tr
ồ
n
g
câ
y
M
ắ
cca.
3. BÁO CÁO TÓM TẮT
Dự án đã được tiếp tục thực hiện trong suốt 6 tháng cuối năm 2006, bao gồm các cuộc
họp tại Úc và Việt Nam nhằm thông tin về tiến độ và trao đổi các thông tin quan trọng
liên quan tới các tổ chức tham gia dự án.
Báo cáo cuối cùng về chuyến khảo sát Mác ca ở Trung Quốc đã được gửi tới các
thành viên. Kết quả của chuyến khảo sát gồm 02 báo cáo viết của cả hai nhóm Việt
Nam và Úc, băng video DVD, đĩa ảnh CD có các phần ghi chú.
Chuyến công tác của nhóm Úc được tổ chức vào tháng 10, qua đó, hơn 1000 loại
cành mầm của Úc đã được phân phát cho 3 vườn ươm. Bao gồm 10 giống của Úc:
246, 344, 741, 814, 816, 842, 849, A4, A16, A38 (nguyên gốc Hawaiian, trừ A4, A16
và A32) là những giống đ ược lựa chọn đưa vào khảo nghiệm. Nhóm đã thăm vườn
ươm của FSI, vườn ươm mới ở Yên Thuỷ, khu khảo nghiệm và tham gia khoá tập
huấn cũng như cung cấp thông tin về những khía cạnh quan trọng đối với sự phát
triển của giống cây này. Các vấn đề về nảy mầm của loại hạt Úc và tỷ lệ nẩy mầm
thấp của một số loài đã được đề cập. Mọi người đã quyết định nhập khẩu hạt giống từ
Trung Quốc chứ không phải từ Úc. Tỷ lệ nảy mầm của các h¹t từ Úc thấp, tỷ lệ nẩy
chồi của các giống A tương đối kém và điều này đó được khẳng định ở một số vườn
ươm. Mọi người cũng đồng ý sẽ sử dụng các cành mầm của Úc cho việc ghép mầm
trong tương lai. Giải pháp đối với những vấn đề về cách buộc mắt ghép mới đã được
tiến hành. Một số vườn ươm đã áp dụng các kỹ thuật ghép của Úc từ khoá đào tạo
trước. Điều này có nghĩa là ở Việt Nam và Trung Quốc, các kỹ thuật viên tham gia
khoá tập huấn đã được áp dụng kỹ thuật này. Thông qua khoá tập huấn này, một lần
nữa, họ được thực hành để có thể hướng dẫn tốt hơn cho các cán bộ ghép cành và các
kỹ thuật bào ghép khớp hơn. Còn đối với những ai chưa từng áp dụng kỹ thuật này,
đây là dịp để khuyến khích họ sử dụng. Bên cạnh đó, 3 cộng tác viên người Trung
3

Quốc cũng đã cung cấp nhiều thông tin tại khoá tập huấn, các thông tin cụ thể sẽ được
đề cập dưới đây.
Các vườn ươm đã từng áp dụng phương pháp của Úc để nhân giống và làm ruột bầu
được khen ngợi và khuyến khích tiếp tục đưa ra các số liệu so sánh. Minh chứng đầu
tiên cho thấy rằng phương pháp làm ruột bầu mới rất có hiệu quả.
Điểm trọng tâm của giai đoạn này là Hội thảo tập huấn về trồng cây Mác ca tại Lạng
Sơn được tổ chức hơn 2 ngày với sự tham gia của 44 đại biểu (Phụ lục 2.1 và 2.2).
Chương trình bao gồm các phần trình bày và đi thăm thực địa. Hội thảo tập huấn đã
được nghe phần trình bày của những người quản lý dự án của Việt Nam và Úc, GS.
Hoàng Hoè và ông Martin Novak tổng quan về tiến độ dự án và những khía cạnh
quan trọng phát triển dự án (Phụ lục 3).
Ông Kim Wilson, Giám đốc của Gray Plantations Phó Chủ tịch của Hội AMS, đã có 2
phần trình bày về cập nhật tiến độ dự án ở 3 vùng trồng khảo nghiệm và vườn ươm
(Phụ lục 5) và tổng quan về trồng cây Mác ca R&D ở Úc và trên thế giới, bao gồm
các thông tin mới nhất được đưa ra tại Hội nghị về Mác ca, được tổ chức tại Bra-zin
tháng 8/2006.
Các đối tác của dự án cũng báo cáo về các kết quả hoạt động cũng như thách thức
trong việc thực hiện. ThS. Hải của FSI đã trình bày báo cáo về kết quả nghiên cứu về
Mác ca của ông với TS. Khả trong suốt 3 năm qua tại 6 tỉnh ở Việt Nam (Phụ lục 7).
Bà Đặng Thị Thùy Thảo, WASI đã trình bày tóm tắt báo cáo do Trần Vinh soạn thảo
về các thí nghiệm của họ tại Hội thảo và sẽ tiếp tục phối hợp với dự án (Phụ lục 8).
Đoàn đại biểu Trung Quốc, đại diện bởi TS. Trần Hiền Quốc đã trình bày báo cáo
tổng thể về R&D ở Quảng Tây, Trung Quốc (Phụ lục 4). Phần trình bày tập trung vào
thí nghiệm về 8 giống Mác ca, kiểm nghiệm chất lượng và sản lượng NIS. Tiếp sau
đó là các hình ảnh minh hoạ về hoạt động của vườn ươm, qua đó các đại biểu đã cùng
nhau trao đổi/ tranh luận về các giống Mác ca đang được sử dụng tại Trung Quốc, Úc
và Việt Nam. Chuyến thực địa đã tạo cơ hội cho các đại biểu minh chứng và thảo luận
kỹ hơn về các giống Mác ca đang được sử dụng.
Hiện nay, dự án đang làm việc với các tổ chức đang tiến hành trồng khảo nghiệm 16
giống Mác ca. Có 3 nơi trồng khảo nghiệm các giống cơ bản tại Lạng Sơn, Ba Vì và
Yên Thuỷ, 8 khảo nghiệm của FSI và 6 khảo nghiệm của WASI. Đặc biệt, Công ty
Thái BìnhFood sẽ trồng Mác ca và khảo nghiệm 8 giống ở Trung Quốc (Phụ lục 9).
4. Giới thiệu và các thông tin cơ bản
D−íi ®©y lµ c¸c môc tiªu cña dù ¸n:
Môc tiªu 1: - Liên kết các bên tham gia lại với nhau để cùng hoạt động hướng tới xây
dựng ngành công nghiệp Mác ca có giá trị cao và bền vững cho Việt Nam.
Tiếp theo các cuộc họp ban đầu được tổ chức trong 6 tháng đầu năm của dự án, các
cuộc họp khác đã được tổ chức ở Việt Nam và Úc với sự tham gia của các đối tác.
Một hội thảo tập huấn đã được tổ chức ở Lạng Sơn với sự tham gia của 44 đại biểu,
bao gồm một đoàn Trung Quốc gồm 3 người, đại diện của các đối tác dự án, đại diện
của Chính phủ, các công ty tư nhân và NGOs. Một nhóm chuyên gia Úc đã đi thăm 2
vườn ươm và khu trồng khảo nghiệm, tại đó phiên tập huấn cùng tham gia đã được tổ
4

chức. Nhóm chuyên gia cũng đã đi thăm và đánh giá vườn ươm mới và khu trồng
khảo nghiệm cũng như gặp gỡ, tiếp xúc với các trưởng thôn và thu hút sự tham gia
của người nong dân và công nhân.
Mục tiêu 2 – Tăng cường năng lực cho 3 vườn ươm hiện nay.
Các khóa tập huấn đã được tổ chức ở 3 vườn ươm, với các dụng cụ thực hành như
cành ghép, các mẫu thiết bị vườn ươm và băng DVD, CD (Phụ lục 10). Mọi người
cũng đến thăm vườn ươm của FSI và phân phát cành ghép cũng như cung cấp thông
tin. Tuy nhiên, không đến thăm được Ba Vì trong thời gian đó nhưng Giám đốc và
cán bộ của Ba Vì đã tham dự Hội thảo tập huấn ở Lạng Sơn và cùng đi thăm các vườn
ươm cũng như tham gia khóa tập huấn ở đó.
Mục tiêu 3 – Xây dựng một vười ươm kiểu mới theo mô hình vườn ươm của Úc. Tạo
cơ hội đầu tư và đảm bảo cung ứng đầy đủ
Khu vườn ươm mới đã được thăm và đánh giá. Đã đạt đượng những tiến bộ đáng kể
trong việc thực hiện các kế hoạch đề ra. Vườn ươm đã ươm hơn 6000 cây giống Mác
ca mà hiện nay đang được trồng trong túi bầu và đặt trong khu có mái che mới.
Mục tiêu 4 – Trồng khảo nghiệm ít nhất 10 giống Mác ca ở 3 nơi Ba Vì, Hòa Bình và
Lạng Sơn ở Việt Nam.
Cành ghép của Úc đã được chuyển tới 3 vườn ươm và FSI, bao gồm những giống sau:
246, 344, 741, 814, 816, 842, 849, A4, A16, A38. Ngoài ra, 4 loại giống khác từ
Trung Quốc cũng được sử dung như: OC, 695, 788, Guy Yen 1. Hiện các giống này
đang được trồng ở các vườn ươm để khảo nghiệm. Đây là lần thứ 4, cành ghép của Úc
được chuyển tới các vườn ươm. Đã chuyển hai đợt cành ghép trong khuôn khổ của
dự án và 2 đợt này đã được phân phối đến 3 vườn ươm, cũng như trước đây, năm
2004 và 2005 đã đưa 2 đợt cành ghép cho các vườn ươm. Điều này đảm bảo đủ cây
ghép cho 3 lô khảo nghiệm chính và bổ sung cho các lần khảo nghiệm khác cũng như
cho những người nông dân có quan tâm.
Mục tiêu 5 – Tổ chức chuyến khảo sát tới miền Nam Trung Quốc. Đoàn gồm 10-12
thành viên dự án chủ chốt, bao gồm các nhà nghiên cứu và quản lý.
Các báo cáo cuối cùng (một báo cáo của trưởng nhóm Việt Nam và một báo cáo tiếng
Anh của trưởng nhóm Úc) về thành công của đoàn khảo sát, được tổ chức vào tháng
3/ tháng 4 năm 2006 đã được phân phát tới các đại biểu dự Hội thảo tập huấn Lạng
Sơn. Đính kèm báo cáo này có báo cáo kết quả đoàn khảo sát (Phụ lục 11). Băng
DVD và đĩa ảnh CD cũng đã được gửi tới các đại biểu . Ngoài ra còn một số bản lưu
giữ tại CETD.
Mục tiêu 6 – Đánh giá sự phát triển của Mác ca ở Thái Lan. Các nhà quản lý dự án sẽ
tiến hành đánh giá.
Dự kiến, chuyến đánh giá này sẽ được tổ chức trước chuyến làm việc của Úc sang
Việt Nam hồi tháng 10. Tuy nhiên, những bất ổn ở Thái Lan và Lễ hội vườn Quốc tế
ở Trường Mai đã ảnh hưởng và làm chuyến thăm bị hoãn lại vào một thời điểm nào
đó trong 2007. Trưởng nhóm của Úc đã có chuyến thăm sơ bộ khi đi qua Thái Lan,
5

