
Các biện pháp tu từ thường gặp nhất
1 Biện pháp tu từ từ vựng
- Biện pháp so sánh.
So sánh là biện pháp đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật hiện tượng khác
có nét tương đồng để tăng thêm sự lôi cuốn, gợi hình cho biểu đạt. Việc sử dụng
biện pháp so sánh giúp cho hình ảnh được miêu tả sinh động hơn, giúp người đọc
dễ dàng hiểu, tưởng tượng và hình dung rõ nét hơn về hình ảnh đang nói đến.
Có các kiểu so sánh cơ bản như: so sánh ngang bằng và so sánh không
ngang bằng. So sánh ngang bằng là kiểu so sánh các sự vật, hiện tượng tương đồng
nhau, tìm ra sự giống nhau của các sự vật, sự việc giúp người độc dễ hình dung
hơn. Còn so sánh không ngang bằng là loại so sánh đối chiếu sự vật, sự việc hiện
tượng trong mối quan hệ không ngang bằng để làm nổi bật sự vật, sự việc mà tác
giả muốn nhấn mạnh.
Các từ hay được sử dụng trong biện pháp so sánh: so sánh ngang bằng (như,
giống như, như là, tự như...); so sánh không ngang bằng (khác, kém, kém hơn,
không bằng...)
Ví dụ: Trong bài thơ Bầm ơi của Tố hữu có câu thơ
"Con đi trăm núi ngàn khe
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng Bầm"
- Biện pháp ẩn dụ.
Ẩn dụ là gọi tên sự vật, sự việc bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét
tương đồng với nhau có tác dụng nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm.
Có 04 loại ẩn dụ:
Ẩn dụ hình thức được hiểu là việc người nói người viết giấu đi một phần ý
nghĩa;
Ẩn dụ cách thức là hình thức một vấn đề thông qua nhiều cách khác nhau;
Ẩn dụ phẩm chất là việc dùng phẩm chất của sự vật, sự việc này bằng phẩm
chất của sự vật, hiện tượng khác mà cả hai phải có nét tương đồng;
Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác là hình thức miêu tả tính chất, đặc điểm của sự
vật được cảm nhận bằng giác quan này nhưng lại được miêu tả bằng từ ngữ sử
dụng cho giác quan khác.
Nhìn chung ẩn dụ và so sánh đều có những đặc điểm giống nhau như cả hai
đều dùng để gọi tên sự vật, sự việc này bằng tên sự vật , sự việc khác nhằm tăng

sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. Biện pháp ẩn dụ khác với biện pháp so sánh
ở chỗ, ẩn du còn được coi là so sánh ngầm. So sánh thường có các dấu hiệu dễ
dàng nhận biết hơn, còn ẩn dụ thì không cần từ hay dấu câu phân biệt giữa các sự
vật, sự việc được nêu ra.
Ví dụ: Trong ca dạo của Việt Nam biện pháp ẩn dụ thường xuyên được sử dụng
như "Uống nước nhớ nguồn hay ăn quả nhớ kẻ trồng cây" ...
- Biện pháp hoán dụ.
Hoán dụ là việc dùng tên sự vật hiện tượng này để gọi tên sự vật hiện tượng
khác dựa trên những điểm giống nhau, gần gũi giữa chúng.
Có 04 hình thức hoán dụ, đó là:
Lấy bộ phận chỉ cái toàn thể;
Lấy sự vật chứa đựng gọi sự vật bị chứa đưng;
Lấy dấu hiệu, đặc điểm của sự vật chỉ các sự vật;
Lấy cái cụ thể chỉ cái trừu tượng, vô hình.
=> Khác với biện pháp ẩn dụ, cơ sở liên tưởng của hoán dụ của hai sự vật, sự việc
đó là sự gần gũi, sự vật này liên quan trực tiếp đến sự vật kia. Còn cơ sở nhận biết
biện pháp ẩn dụ là mặc dù không có sự liên quan của hai sự vật nhưng miễn sao có
điểm giống nhau khi đó có thể thay sự vật này cho sự vật kia.
Ví dụ: Lá vàng còn ở trên cây - Lá xanh rụng xuống trời ơi là trời hay Người đầu
bạc tiễn kẻ đầu xanh. Đều nói về sự chia ly (sống chết) bằng biện pháp hoán dụ thể
hiện sự tiếc thương, mất mát đi ngược với quy luật của cuộc sống qua đó diễn tả
nỗi đau của sự chia lìa.
- Biện pháp nhân hóa.
Biện pháp nhân hóa được hiểu là cách để gọi hoặc miêu tả đồ vật, cây
cối, con vật ... bằng những từ ngữ sử dụng cho con người như hành động, suy nghĩ,
tính cách cho nó trở nên sinh động, gần gũi, hấp dẫn và có hồn hơn. Nhân hóa là
người, hóa là biến hóa. Nhân hóa có nghĩa là biến sự vật thành con người.
Có 03 hình thức nhân hóa phổ biến:
Gọi sự vật bằng những từ ngữ để gọi con người, ví dụ như chị, chú, ông...;
Miêu tả sự vật bằng những từ ngữ miêu tả con người, ví dụ như tay, chân...;
Xưng hô với sự thân mật như con người được hiểu như xưng hô con mèo
như cách xưng hô với con người;

- Biện pháp điệp ngữ.
Điệp ngữ là một biện pháp tu từ, được nhận biết bằng việc sử dụng việc lặp
đi , lặp lại một từ, một cụm từ hoặc toàn bộ câu với một dụng ý cu thể nhằm nhấn
mạnh, khẳng định hoặc liệt kê các sự vật, hiện tượng mà tác giả muốn nói đến.
Có 03 loại hình thức điệp ngữ:
Điệp ngữ ngắt quãng là việc lặp lại một từ hoặc cụm từ mà có sự cách quãng
với nhau mà không có sự liên tiếp;
Điệp ngữ nối tiếp là việc lặp lai một từ hay một cụm từ nối tiếp nhau;
Điệp ngữ chuyển vòng
- Biện pháp liệt kê.
Liệt kê là một trong những biện pháp tu từ được sử dụng để làm tăng hiệu
quả diễn đạt, biểu đạt. Biện pháp liệt kê được sử dùng trong nhiều văn bản, tác
phẩm khác nhau. Liệt kê là việc sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ hay cụm từ cùng loại
để diễn tả được đầy đủ hơn thông tin với những khía cạnh khác nhau mà tác giả
muốn truyền đạt.
Sử dụng phép liệt kê nhằm nhấn mạnh ý, chứng minh cho nhận định của tác
giả. Trong các tác phẩm văn học, liệt kê dùng để tăng tính biểu cảm cho tác phẩm.
Dấu hiệu để dễ dàng nhận biết biện pháp liệt kê đó là những từ, hoặc cụm từ
giống nhau, liên tiếp nhau. Thông thường khi sử dụng biện pháp liệt kê, người thực
hiện thường cách các từ hay cụm từ bằng dấu phẩy, hoặc dấu chấm phẩy.
Có 4 loại liệt kê, bao gồm:
Liệt kê theo từng cặp: sử dụng những cặp từ có một vài điểm chung để phân
biệt với các từ khác, thường được liên kết bằng các từ như là và, với, cùng;
Liệt kê tăng tiến: theo đúng thứ tự, trình tự theo tự nhiên hoặc theo một quy
luật nhất định, ví dụ như từ thấp đến cao, từ cao đến thấy;
Liệt kê không theo từng cặp: sử dụng những từ cùng mô tả một đặc điểm
chung nào đó như con người, sự vật, hiện tượng, thiên nhiên ... ;
Liệt kê không tăng tiến: không quan trọng thứ tự các từ cần liệt kê, miễn là
câu vẫn có nghĩa và người đọc hiểu được ý nghĩa toàn bộ của câu.
- Nói giảm - Nói tránh
Nói giảm nói tránh là một biện pháp biểu đạt một cách tế nhị, nhẹ nhàng,
giảm đi cảm giác ghê sợ, đau buồn, nặng nề trong lời nói hoặc trong câu văn. Nói
giảm nói tránh đôi khi thể hiện được sự tôn trọng giữa người với người, nhận xét
một cách tế nhị, có văn hóa.

Dấu hiệu nhận biết biện pháp nói giảm nói tránh: nếu trong câu có các từ
ngữ diễn đạt tế nhị, tránh nghĩa thông thường của nó.
Có nhiều cách nói giảm nói tránh, ví dụ như: sử dụng từ đồng nghĩa đặc biệt
là từ Hán Việt, sử dụng cách nói vòng, có thể sử dụng cách nói phủ định với việc
sử dụng các từ trái nghĩa,
- Biện pháp nói quá
Biện pháp tu từ nói quá được hiểu là cách nói phóng đại mức độ, quy mô,
tính chất của một sự vật, sự việc hay hiện tượng có thật trong thực tế. Nói quá
không phải là nói khoác, nói quá là phóng đại sự vật, sự việc ở mức độ lớn hơn
nhưng vẫn đúng với sự thật, còn nói khoác là nói sai hoàn toàn sự thật. Không chỉ
trong đời sống hàng ngày, nói quá còn được áp dụng trong các tác phẩm văn học
thường gặp trong các bài ca dao, châm biếm, ...
Khác hoàn toàn với biện pháp nói giảm, nói tránh, nói quá là một biện pháp
cường điệu giúp biểu đạt dễ dàng hơn bản chất của đối tượng. Đồng thời góp phần
tạo ấn tượng, tăng sức biểu cảm cho lời nói, câu văn, gây ấn tượng cho người nghe,
người đọc.
Dấu hiệu nhận biết biện pháp tu từ nói quá đó là sử dụng các từ ngữ mang
sẵn ý nghĩa phóng đại cụ thể như cực kỳ, vô kể, vô hạn, tuyệt diệu, vô cùng ...;
hoặc có thể sử dụng các thành ngữ như khỏe như voi, đẹp như tiên ...
- Biện pháp chơi chữ
Chơi chữ là việc lợi dụng những đặc điểm về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo
sắc thái dí dỏm, hài hước và cả châm biếm để làm cho câu văn trở nên hấp dẫn và
thú vị hơn. Biện pháp tu từ này được sử dụng phổ biến trong thơ ca chính thống, ca
dao, tục ngữ gắn liền trong cuộc sống đời thường.
Mục đích của việc sử dụng biện pháp tu từ chơi chữ giúp câu thơ, câu văn
thêm phần dí dỏm, trào phúng và có tính giáo dục cao.
Có 05 biện pháp chơi chữ phổ biến, như là:
Cách chơi chữ bằng từ đồng âm;
Cách chơi chữ dùng từ gần âm;
Lối chơi chữ sử dụng điệp âm;
Cách chơi chữ dùng từ nói lái;
Chơi chữ dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.
Ngoài ra, còn có các lối chơi chữ khác như dùng từ nhiều nghĩa, dùng từ cùng
trường nghĩa.

2 Các biện pháp tu từ cú pháp
- Đảo ngữ
Đảo ngữ được hiểu đơn giản là việc thay đổi vị trí thông thường của một từ,
cụm từ trong câu nhưng không làm mất đi quan hệ cú pháp vốn có. Việc thay đổi
trật tụ kết cấu cú pháp trong câu thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả, đồng thời
sẽ tạo ra sắc thái tu từ.
Việc sử dụng đảo ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh thể hiện cảm xúc của
người viết.
Ví dụ như câu thơ trong bài thơ Qua đèo ngang của Bà Huyện Thanh Quan: "Lom
khom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên sông chợ mấy nhà."
- Điệp cấu trúc
Đây là một biện pháp tu từ dùng sự trùng điệp về âm hưởng bằng cách lặp đi
lặp lại những thanh điệu cùng nhóm bằng hoặc nhóm trắc, nhằm mục đích tăng
nhạc tính, tăng tính tạo hình và biểu cảm của câu thơ.
Điệp cấu trúc nhằm nhấn mạnh nội dung, tạo sự nhịp nhàng cân đối cho văn bản.
Ví dụ: Trong Tuyên ngôn độc lập của chủ tịch Hồ Chí Minh có sử dụng biện
pháp điệp cấu trúc: chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế
độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta,
để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
- Chêm xen
Biện pháp chêm xen là một kỹ thuật ngôn ngữ được áp dụng để tạo sự liên
kết và mạch lạc giữa các ý tưởng, từ, cụm từ hoặc câu trong một văn bản hoặc bài
thuyết. Với sự sử dụng thông minh và linh hoạt của biện pháp này, người viết hay
người nói có thể tạo ra một dòng suy nghĩ liền mạch và logic, giúp người đọc hoặc
người nghe hiểu rõ hơn và theo dõi được luồng thông tin.
Một trong những cách thức phổ biến để áp dụng biện pháp chêm xen là
thông qua việc sử dụng các từ nối, như "thêm vào đó", "ngoài ra", "tuy nhiên", "do
đó", "vì vậy", "mặt khác", và nhiều từ ngữ tương tự khác. Các từ nối này giúp tạo
ra sự liên kết giữa các ý tưởng, đồng thời cho phép người viết hoặc người nói diễn
đạt sự chuyển tiếp và mở rộng suy nghĩ của mình.
- Câu hỏi tu từ
Câu hỏi tu từ là câu hỏi được đặt ra nhưng không nhằm mục đích tìm kiếm
câu trả lời hoặc câu trả lời nằm ngay trong câu hỏi. Loại câu này được sử dụng

