intTypePromotion=4

CẨM NANG CHẨN TRỊ ĐÔNG Y - PHÉP DƯỠNG SINH

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
115
lượt xem
20
download

CẨM NANG CHẨN TRỊ ĐÔNG Y - PHÉP DƯỠNG SINH

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Dương Kế Châu, danh y thời Minh ở Trung Quốc, tác giả bộ sách Châm cứu đại thành là một trong những thầy thuốc rất coi trọng dưỡng sinh cả về mặt thể chất và tình thần, chúng tôi xin lược trích những nét chính yếu ông đã viết để cùng tham khảo như sau:

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: CẨM NANG CHẨN TRỊ ĐÔNG Y - PHÉP DƯỠNG SINH

  1. CẨM NANG CHẨN TRỊ ĐÔNG Y PHÉP DƯỠNG SINH PHÉP DƯỠNG SINH Người thấy thuốc trước hết phải biết gương mẫu thực hiện phép dưỡng sinh, lấy kết quả luyện tập dưỡng sinh ở chính bản thân mình làm hình ảnh chứng minh, đồng thời phải giúp người bệnh nhận ra những nguyên nhân đưa đến bệnh tật cho họ, phải hướng dẫn cách phòng ngừa, để sau khi khỏi bệnh, người bệnh có thể tự mình giữ gìn, không để bệnh tái phát. Dương Kế Châu, danh y thời Minh ở Trung Quốc, tác giả bộ sách Châm cứu đại thành là một trong những thầy thuốc rất coi trọng dưỡng sinh cả về mặt thể chất và tình thần, chúng tôi xin lược trích những nét chính yếu ông đã viết để cùng tham khảo như sau: VỀ PHẾ Phế thấy rõ là cái che đậy ngũ tạng, tiếng nói từ đó mà ra, da dẻ dựa vào đó mà được sáng nhẵn, Người ta chỉ vì nội thương thất tình, ngoại cảm lục dâm (trong thì bảy loại tình cảm day dứt gây hại, ngoài thì nhiễm sáu thứ khí trời quá mạnh gây bệnh) mà sinh thở ra hít vào không yên bình, phế kim do đó mà không sạch. Cho nên muốn kim sạch sẽ, trước hết phải giữ cho nhịp thở đều, thở đều thì động nạn chẳng sinh, tâm hoả tự yên. Một là, phải an tâm xuống; hai là, thả lỏng cơ bắp trong thân mình; ba là, luôn nghĩ rằng khí ra voà ở tất cả lỗ chân lông, thông không trở ngại, chú ý làm cho hơi thở nhè nhẹ, đó là cách thở đùng. Thở bắt đầu từ tâm, tâm tĩnh thì khí đều, từng hơi thở đều quay về gốc, đó là mẹ của kim đan (kim đan là thuốc trường sinh)... Mùa thu nên kiêng ăn các loại rau quả họ dưa (dưa, bí, mướp). Mùa thu thấy ấm chân, mát đầu, đó là lúc khí được thanh túc (sạch sẽ nghiêm chỉnh), và cơ thể được thu liễm (được gom vào). Từ ngày hạ chí trở đi, âm khí vượng dần, chiếu mỏng, áo mỏng nên bồi thêm nền thọ. “Mập pháp” dặn rằng: “Đi, ở, nằm, ngồi thường ngậm miệng, thở ra hít vào cho điều hoà nhịp; ít nói, cam tân ngọc dịch (nước miếng) xuống họng đều đều, không lúc nào phổI không nhuận (ẩm ướt), làm cho tà hoả giáng xuống mà phế kim được mát”. Bản quyền: Viện Thông tin Thư viện Y học Trung ương 1
  2. CẨM NANG CHẨN TRỊ ĐÔNG Y PHÉP DƯỠNG SINH VỀ TỲ Tỳ ở giữa ngũ tạng; gửi vượng trong 4 mùa (tứ quý: đoạn cuối của bốn mùa), chứa ngũ vị mà nuôi lớn, năm thần nhân đó mà lộ rõ ra ngoài, tứ chi, bách bài (trâm đốt xương và bàn chân) dựa vào đó mà vận động. Người ta chỉ do ăn uống không điều độ, làm mệt mỏi quá sức thì tỳ khí bị thương (bị hại); tỳ vị cùng bị thương thì ăn uống không tiêu hoá, miệng không biết mùi vị, tứ chi mệt mỏi, bụng trên đầy trướng, làm mửa, làm ỉa, làm tích ở ruột, những điều đó sách Nội Kinh đều chép đầy đủ, nên tìm học để biết. Đã không đói mà ăn mạnh thì tỳ mệt, không khát mà uống mạnh thì dạ trướng. Ăn quá no thì khí mạnh không thong, làm cho tâm bí tắc; ăn quá ít thì thân gầy, tâm bang khuâng, ý nghĩ không vững chắc. Ăn vật tanh trọc thì tâm thức hôn me, muốn ngồi tưởng nhớ (niệm) cũng không yên; ăn vật không phù hợp thì tứ đại ly phản (khí, huyết, tân, dịch rời nhau) mà động đến bệnh cũ, đều không phải là vệ sinh. Nêu một câu để làm ví dụ, “Ăn tất phải có giờ, uống tất phải có mức”, “không no không đói là được”. NGười ăn uống như vây, không chỉ tỳ vị thuần sạch mà ngũ tạng, lục phủ cũng điều hoà. Kinh nói rằng : “Tỳ phổ vượng có thể sinh ra vạn vật, suy thì sinh ra bách bệnh”. Ngày xưa Đông Pha (Tô Đông Pha, nhà tư tưởng, nhà thơ lớn của Trung Quốc) điều tỳ thổ, ăn uống không quá một chén rượu, một miếng thịt, có người mời ép ăn uống, ông thưa tránh rằng: “Một là, an phận để dưỡng phúc: hai là, khoan vị để dưỡng khí; ba là: giảm phí để dưỡng của” Người muốn giữ cệ sinh thì dưỡng ở trong, người không muốn giữ vệ sinh thì dưỡng ở ngoài. Người dưỡng ở trong thì tạng phủ yên ổn, điều thuận huyết mạch. Người dưỡng ở ngoài thì rất chăm nếm thứ ngon, hết mức ăn uống cho sướng miệng, tuy cơ thể có béo đẫy, nhưng khí thì khốc liệt gậm hết phủ tạng ở trong. Bản quyền: Viện Thông tin Thư viện Y học Trung ương 2
  3. CẨM NANG CHẨN TRỊ ĐÔNG Y PHÉP DƯỠNG SINH VỀ TÂM Tâm là chủ soái của toàn than, đầu đường sinh tử. Tâm sống thì mọi thứ muốn sống, mà thần không nhập khí (thần không biến vào hơi thở). Tâm tính thì mọi thứ muốn tĩnh, mà thần với khí hoà hợp nhau (bao bọc nhau). “Nội kinh” nói rằng: Tháng hạ, thân người ra phát dương khí ra ngoài, dấu âm khí ở trong, là lúc thoát tinh thần, tránh lưu thong (giao hợp nam nữ) làm tiết tinh khí. Ba tháng mùa hạ nói chung, khí thiên địa giao nhau, vạn vật hoá thực (lớn mạnh), “đêm nằm dậy sớm, không ngán ban ngày”, làm cho khí không giận giữ, khả năng biến thành tài năng. Đó là ứng với khí mùa hạ, phải dưỡng thành cái đạo như thế. Làm ngược lại thì tổn thương tâm, đến mùa thu dễ sinh khái ngược (một loại sốt dai dẳng), cho nên, người ta thường ngồi yên tĩnh, điều nhịp thở ở tim, ăn nóng, tránh lạnh, thường “buông mi che mắt, đem ánh sang chiếu vào trong, giáng tâm hoả xuống an điền”. (nghĩ như nhìn thấy đan điền), làm cho thần và khí hoà hợp nhau. Thái Huyền Dưỡng Sơ viết: Tâm trạng ở sâu, đúng là cái gốc của sự nhanh nhay, thần không ngoài chỗ đó, tâm bị lôi kéo ở việc thì hoả động ở trong. Tâm hoả ở mùa hạ bảo làm chính vượng, mạch vốn hồng, đại. Nếu như mạch hoãn là thương thử, đến đêm không nên ăn nhiều, ngủ không nên quạt, vì dễ bị gió độc. Bản quyền: Viện Thông tin Thư viện Y học Trung ương 3
  4. CẨM NANG CHẨN TRỊ ĐÔNG Y PHÉP DƯỠNG SINH VỀ CAN Can lấy mắt làm huyệt, người ta ngủ thì huyết quy về can, mắt nhờ đó mà có thể nhìn thấy. Thường khi ngủ có cái hoả nghi ngờ không có tên (vô danh hoặc phức chi hoả) nó xen kẽ, không thể trùng giãn ra để mà ngủ, cũng vẫn phải đi ngủ. Nếu như đảm hư hàn mà không ngủ thì tinh thần mệt mỏi, chí lại không an. Can thực nhiệt mà ngủ quá nhiều thì tuệ kính sinh bụi (trí khôn bị mờ), thiện căn chôn đi mát (tính tình biến thành hung ác). Tất cả đèu do không điều can, đảm; nằm sấp mà ngủ là ma đạo. Nay nếu ra mấy điều cần thiết: Không cáu giận, không ngủ ngày. Ngủ là hình, không ngủ là thần. tinh của cái ngủ cũng là cái linh của thần. Người ta ít ngủ thì về già tính tình và tri thức sáng sủa, sạch sẽ, không những thần khí tươi mát, sảng khoái mà giâc mộng cũng yên. Nếu như tham ngủ thì máu chảy về tim, nguyên thần dời chỗ ở, không chỉ che bịt mất tính trời, thần cũng theo cảnh mà hôn mê. “Nội kinh” nói: “Ba tháng màu xuân, đó là phát trần, trời đát bắt đầu sinh, vạn vật đã tươi tốt, đêm nằm, ngày dậy, rộng bước ở sân (đi bách bộ, đi dạo), xoã tóc (ngày xưa búi tóc phải mở ra cho thoáng), thả lỏng thân hình, đã làm cho chi sinh. Đó là ứng với khí mùa xuân. Đó là đạo dưỡng sinh. Ngược lạ là thương can (hại gan). Bản quyền: Viện Thông tin Thư viện Y học Trung ương 4
  5. CẨM NANG CHẨN TRỊ ĐÔNG Y PHÉP DƯỠNG SINH VỀ THẬN Người ta bẩm (được nhận) khí của Trời Đất (năng lượng vũ trụ) mà có sự sống. Cái tinh của Thái cực ngụ ở đó. Như ta vững vàng, đầy đủ, và lớn mạnh giữa trời và đất. Con người lấy tình để dụ dỗ, lấy vật để lôi kéo, lấy cái hữu hạn đó để làm trời thật, theo cái không cùng để phóng túng lòng dục, tiêu hao ngày càng quá lắm. Trong không có chủ thì một bày tà thừa, mà bách bệnh hoành hành. Như một cái động mở bốn cửa để nạp đầy thêm, mấy nỗi mà không đưa đến hại? Thường làm chủ được thân mình thì doanh vệ đi khắp vòng quanh, tà không thể tự nhập. Các phong, hàn, thử, thấp kia, ví như ta có thành vững chắc, nó chỉ như kẻ cướp ở ngoài. Tuy gót chân chúng luôn đến nhòm ngó, nhưng nghiệt thay! Làm sao mà chúng đạt được mong muốn bừa bãi? Nếu đi gọi thầy thuốc ấn mạch, theo phương làm tễ, liệu bỗng chốc mà thu công hiệu làm cho trở lại như cũ mà không bị hư hỏng hay không? Nếu để kẻ cướp đến mới ngăn cản, làm sao bằng như không có kẻ cướp để không phải ngăn cản? Bệnh đến mà phải chữa, làm sao bằng không có bệnh để mà không phải chữa? Cũng như việc cầu kim thạch hiếm quý mà thường mắc cái bệnh bất túc, làm sao được như cầu cái tinh của than ta mà ta hằng tự có thừa? Tiên Thánh nói: “Trời đất đại quý là châu ngọc, thân người đại quý là Tinh, Thần. “Nội kinh” nói: “Người con trai, con gái mà đại dục thì còn gì?”. Thật thà mà nói, có thể lấy cái lý để hạn chế dục, để giao ngự tình. Tuy sắc đẹp ở ngay trước mặt, chẳng qua cũng vui mắt, thoả chí mà thôi. Làm sao có thể phóng túng cái tình để chon cái tinh? Cho nên nói: “dầu hết thì dèn tắt, tuỷ kiệt thì người không còn, thêm dầu thì đèn cháy to, bổ tuỷ thì người mạnh”. Lại nói, tháng đông trời bế, khí huyết tàng, dương ẩn ở trong, vùng tâm và cách nhiều nhiệt, nhất thiết tránh ra mồ hôi để tiết dương khí (không dùng phép phát hãn), như thế nói là bế tàng. Khi nước đóng băng, đất rạn nứt, không nhiều dương, đi nằm sớm, dậy muộn, tất phải đợi mặt trời sang (ban ngày sang rõ),làm cho chí như ẩn náu, như có ý riêng tư, đã bỏ lạnh sẽ được nóng, không tiết bì phu (không để lộ da ra lạnh), làm cho cấp thiết đoạt lấy khí, đó là ứng với khí mùa đông. Đó là đạo dưỡng tàn, ngược lại thì hại thận, đến mùa xuân thì nuy quyết (liệt bại). Bản quyền: Viện Thông tin Thư viện Y học Trung ương 5
  6. CẨM NANG CHẨN TRỊ ĐÔNG Y PHÉP DƯỠNG SINH VỀ NHÂM, ĐỐC Thường người ta sống phải dưỡng ở gốc, giữ gìn ở nguồn. Đốc thì từ Hội âm mà đi lên lưng. Nhâm thì Hội âm mà đi lên bụng. Thân người ta có Nhâm, Đốc, bởi vì thiên, địa có Tý, Ngọ. Nhâm, Đốc ở than người ta là lấy lưng, bụng mà nói. Tý, Ngọ của trời đất là lấy Nam, Bắc mà nói. Có thể chia ra, có thể hợp lại, phân ra để thấy âm dương không lẫn lộn, hợp lại để xét bàn không có khoảng cách. Một mà là hai.Hai mà là một. Người ta hiểu rõ về Nhâm, Đốc, có thể giữ được than. Cũng như Vua sáng suốt có thể chăm dân để yên nước. Dân chết thì nước mất, Nhâm suy thì thân tàn. Đã là thượng than, triết sĩ hẳn phải theo lời dặn ngày xưa, đạo dẫn các kinh (lấy ý dẫn khí đi theo các kinh mạch), điều dưỡng thành thục thì nhà Tiên có thể chắc nền móng (khí huyết lưu thong là nền móng của tuổi thọ), rồi sau đó quét trừ vọng niệm (ý nghĩ tự nảy sinh lung tung, không đầu đuôi, không định sẵn), lấy tĩnh định (ngồi im giữ được sự vắng lặng trong tâm thức) làm cơ bản mà thu cái nhìn về gần (hoặc nhìn thấy tại Ấn đường,hoặc như nhìn thấy tại đầu chót mũi là cái nhìn về gần), nghe lại gần, chứa ánh sang mờ mờ( trước mắt thấy như một vầng nửa sang nửa tối), điều hơi thở êm êm, nắm vững chắc bên trong( luôn lưu ý vùng đan điền, không dời ý đi nơi khác), chú ý tới cái “ huyền “, khoảnh khắc như lửa phát trong nước, hoa nở trong tuyết, hai cái thận như được đun sôi lên, bang quang nhu lửa nóng, Nhâm, Đốc như cái xe bằng lửa lăn ( hoả xa luân ), tứ chi tựa như núi đá. Khoảng chừng như uống một ngụm nước, thiên cơ tự động nhè nhẹ mà xoay, im lặng mà nâng, hơi có ý định một tý, thì kim, thuỷ tự nhiên trộn lẫn ( phế khí trộn với thận khí ), thuỷ, hoả tự nhiên thăng giáng ( tâm khí và thận khí thăng giáng ký tế cho nhau…Đây là nội dung mà các nhà luyện khí công lấy làm cơ bản nhất). Bản quyền: Viện Thông tin Thư viện Y học Trung ương 6
  7. CẨM NANG CHẨN TRỊ ĐÔNG Y PHÉP DƯỠNG SINH VỀ TINH THẦN Ông không chỉ nhắc nhở về dưỡng sinh theo tạng phủ, kinh mạch mà còn nhắc nhở về dưỡng sinh tinh thần, ông nói: Nhưng nếu không trừ lục hại, không giữ được thập thiểu (những lời khuyên về đạo đức, tác phong) thì luyện tập dưỡng sinh kinh mạch, tạng phủ, có thể giảm bớt được bệnh tật, nhưng cuối cùng là đạo lớn thì mệt mỏi. Ông giải thích về lục hại và thập thiểu: A. Như thế nào là lục hại (sáu cái có hại)? - Nhất viết: Bạc danh lợi (cọi nhẹ cái danh và cái lợi). - Nhị viết: Cấm thanh sắc (cấm sa đà vào lời nói khéo và sắc đẹp). - Tam viết: Liêm hóa tài (giữ trong sạch về tiền và của). - Tứ viết: Tổn tư vị (giảm bớt thức ăn nhiều béo bổ). - Ngũ viết: Bình hư vọng (dẹp những mong muốn hão huyền). - Lục viết: Trừ tật đố (bỏ hẳn thói ghen ghét đi). Ông nói: “Sáu cái đó mà còn vướng một là chưa hợp vệ sinh. Tuy lòng cầu mong diệu lý, miệng niệm chân kinh, mồm nhai anh hoa (đồ ăn tinh túy), thở hít cảnh tượng, cũng không thể bổ thêm cái đã mất”. B. Như thế nào là thập thiểu (mười cái nên giữ ở mức độ ít)? - Nhất viết: Thiểu tư (ít lo nghĩ). - Nhị viết: Thiểu niệm (ít tự nhắc nhở thầm điều gì đó). - Tam viết: Thiểu tiếu (ít cười cợt). - Tứ viết: Thiểu ngôn (ít lời). - Ngũ viết: Thiểu ẩm (ít uống rượu). - Lục viết: Thiểu nộ (ít cáu giận). - Thất viết: Thiểu lạc (ít vui mừng). - Bát viết: Thiểu sầu (ít buồn rầu). - Cửu viết: Thiểu hảo (ít ham thích). - Thập viết: Thiểu cơ (ít quá đói). Bởi vì: Phàm nghĩ nhiều thì thần tán (tư tưởng phân tán). - Nhắc nhở nhiều thì tâm lao (tim bị mệt). - Cười nhiều thì phế phủ phiên (phổi bị nghiêng lệch). - Nói nhiều thì khí huyết hư hao. - Uống rượu nhiều thì thương thần (hại thần) tổn thọ. - Cáu nhiều thì tấu lý bôn phù (lỗ chân lông nếp nhăn nổi chạy). Bản quyền: Viện Thông tin Thư viện Y học Trung ương 7
  8. CẨM NANG CHẨN TRỊ ĐÔNG Y PHÉP DƯỠNG SINH - Vui nhiều thì tâm thần tà đãng (tâm thần lệch lạc). - Rầu rĩ nhiều thì đầu diện tiêu khô (đầu mặt bơ phờ). - Hám nhiều thì chí khí hội tán (chí khí tan vỡ). - Đói nhiều thì trí lự trầm mê (mất khả năng suy nghĩ). Ông nói: “Đây là những thứ tìm người để sống, nó rất búa rìu, tính chất ăn người ta mạnh như lang sói. Người vệ sinh phải tránh cái đó!”. Bản quyền: Viện Thông tin Thư viện Y học Trung ương 8
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2