
Chất sửthi và chất tiểu
thuyết trong "Dấu chân người
lính" của Nguyễn Minh Châu
Thểloại tiểu thuyết sửthi (Roman - épopée) hình thành ởNga vào
thếkỷXIX và sang thếkỷXX thì phổbiến rộng rãi trong các nước XHCN.
Thểloại này mang trong mình một cấu trúc rất phức tạp, bởi có sựkết hợp
hai tính chất trái ngược nhau nhưlửa với nước, đó là “chất sửthi” và “chất
tiểu thuyết”. Trong lịch sửvăn học thếgiới, người ta đã chứng kiến sựhình
thành và phát triển của tiểu thuyết trên cơsởphá bỏphong cách cao cảvà
tính khuôn mẫu của sửthi bằng tiếng cười Carnaval. Nhưng sựdung hoà
trởlại hai tính chất này đã tạo nên “bi kịch thểloại”. Trong đời sống văn học
Việt Nam thời chiến tranh, diễn ra nhiều vụphê bình quy chụp, uốn nắn...
làm cho nhiều tác phẩm bịthăng trầm cũng bắtđầu từviệc xửlý chưa hợp
thời mối tương quan giữa chất sửthi và chất tiểu thuyết của nhà văn.
Nguyễn Minh Châu là người tỏra nắm vững đặcđiểm thểloại. Nhờbiết
cách dung hợp hai tính chất trái ngược này mà ông đã làm nên sựthành
công vang dội của cuốn tiểu thuyết sửthi Dấu chân người lính.
Trước hết, Dấu chân người lính có sựdung hợp giữa thểtài sửthi
(lịch sửdân tộc) và thểtài tiểu thuyết (thếsự,đời tư). Chủ đề cơbản

củaDấu chân người lính là lịch sửdân tộc. Nội dung chủyếu nói vềcuộc
hành quân, vây đánh giặcởnúi rừng Quảng Trị.Đề tài chiến tranh chi phối
hầu hết tất cảmọi hoạtđộng của các nhân vậtởcác vùng miền, dân tộc,
lứa tuổi, giới tính, thành phần xã hội. Lấy ví dụnhưgia đình chính uỷKinh,
mỗi ngườiđảm nhận một nhiệm vụriêng. Hai cha con Kinh, Lữra trậnđánh
giặcđể thống nhấtđất nước. Vợ ở nhà là chiến sĩ“ba đảmđang” trong sản
xuấtđể chi viện chiến trường. Cậu con trai thì đi du họcđể chuẩn bịkiến
thiết mộtđất nước giàu mạnh trong tương lai. Mọi quan hệgia đình đều
được “quân sựhoá”. Các nhân vật khác cũng vậy, tất cảcác làng quê ở
miền Bắcđều có mặt trong cuộc hành quân vĩ đại nhất trong lịch sửdân
tộc. Để dung chứa những sựkiện lớn lao ấy, tác giả đã tạo nên một không
gian chiến trường hoành tráng và giới thiệu khá đầyđủ những tri thức về
chiến tranh: các loại binh chủng, tổchức quân đội, kinh nghiệm chiến
trường, tinh thần chiếnđấu của hai phe, các loại vũkhí, khung cảnh chiến
trường... Nói tóm lại, nó gần nhưmột bộtiểu thuyết lịch sửvềchiến tranh
cách mạng.
Bên cạnh đề tài lịch sửdân tộc, Dấu chân người lính còn có đề tài thế
sự, trước hết thểhiệnởsựphản ánh các bi kịch xã hội trong gia đình già
Phang. Cha tham gia cách mạng, làm chủtịch uỷban xã nhưng thằng Kiếm
con ông là trung đội trưởng biệt kích ngụy, đượcđồng bọn xem như“anh
hùng”. Tuy nhiên, do quan hệ đạo lý ràng buộc mà Kiếm luôn lẩn tránh một
cuộc chạm trán với “chủtịch uỷban xã”. Trong khi đó, già Phang lại mang
súng đi lùng sụcđứa con trai duy nhất của mình: “Cuộc sănđuổi giữa hai
người thậtđáng sợ”. Ông hứa với cách mạng: “Tôi sẽgiết nó! Tôi đã quyết
định rồi. Tôi vẫnđể giành cho nó một viên đạn trong khẩu súng săn của tôi”.
Không chỉcó mâu thuẫn cha con mà còn có mâu thuẫn vợchồng. Chịcán
bộhuyện kể: “Chính người chồng đã một lần phục kích bắn lén chị”. Hai vợ
chồng Kiếm và Xiêm cũng đứng vềhai phe khác nhau. Kiếm bỏvợ để lấy
con đĩ lai. Các sĩquan Mỹngụy thay nhau ăn nằm với vợhai của Kiếm. Và
con đĩ lai này trúng đạn pháo trong tưthếtrần truồng. Kiếm bắn chết chỉ
huy và hiểu thêm vềnhân tình thếthái ở đời. Ranh giới giữa hai phe cách

mạng và quốc gia nhiều khi không rạch ròi cho thấy, sựphức tạp của cuộc
chiến. Nhiều lính ngụy Vân Kiều bỏphe địch vềbuôn làng trình diện cách
mạng nhưng vẫn ngang nhiên khoe những “anh hùng” của phe mình. Và đi
dân công nhưng vẫn “khoác áo lính ngụyđi nghễu nghện” trước mặt các
chiến sĩgiải phóng. Nhiều khi hai phe gặp nhau nhưng không bắn nhau:
“Có một lần các trinh sát viên chạm trán một toán địch, hai bên “gặp” nhau
trong một hoàn cảnh đặc biệt: anh em bên ta đi xác định bình độ phía nam
hàng rào, toán lính ngụy có khoảng chừng chục tên điđặt thêm hàng rào.
Hai bên trông thấy nhau nhưng đều tránh nhau”. Trong tác phẩm, ta thấy
khi nào có cuộcđụng độ giữa quân giải phóng và lính Mỹthì súng nổrất
giòn giã. Bởi vì đó là hai dân tộc xa lạnhau, nói nhưHêghen “Khi các dân
tộcấy nổi lên chống lại nhau thì không có mối quan hệnào về đạo lý bịphá
vỡhết”(1). Còn khi có cuộcđụng độ giữa người Việt với người Việt thì súng
nổít giòn giã hơn. Lấy ví dụtrong lầnđơn vịLượng đánh vào đồn lính
ngụy, anh đã không dùng hoảlực mạnh và đặt thêm bộc phá để giết sạch
ngụy binh (nhưnhững lầnđánh Mỹ) mà phát loa gọi hàng, gọiđích danh
thằng Kiếm. Hậu quảlà anh bịthương nặng, và có thể đặt giảthiết rằng
trong rất nhiềuđạn găm vào người Lượng, có đạn của thằng Kiếm. Tức là
giúp người, người trảoán. Cuộc xung đột chính trịtrong nội bộgia đình,
dân tộc thường có sựtrảgiá đau đớn. Hêghen cho rằng, những xung đột
trong nội bộgia đình, dòng họ, các cuộc nội chiến... là không thích hợp cho
sửthi mà chỉthích hợp cho bi kịch(2). Trong Dấu chân người lính, Nguyễn
Minh Châu đã giải quyết các bi kịch thếsựnày theo hướng của sửthi, bằng
cách cho Kiếm quay trởvềcuộc sống làm ăn lương thiện, kết thúc mâu
thuẫn cha con, vợchồng cũng chấm dứt cảnh “đời riêng chẳng có gì vui vẻ”
của ông già Phang. Tác giảkết thúc trong sựchiến thắng của cách mạng,
cảmột vùng rộng lớnđược giải phóng, lòng người náo nức. Bởi vậy, tác
phẩm vẫn mang âm hưởng hùng ca.
Dấu chân người lính còn khai thác cả đề tài đời tư, xoay quanh các
mối tình bộba: Lữ- Hiền - Moan và Xiêm - Lượng - Nết. Lữthầm yêu trộm
nhớcô văn công Hiền trong khi cô này lại cảm tình với Moan (bạn thân Lữ).

Nết thầm yêu trộm nhớLượng, được Khuê (em Nết) và các y bác sĩlàm
xúc tác, nhưng Lượng lại hướng vềXiêm. Lượng đã “gây ra trong tâm hồn
Xiêm một niềm hy vọng và một tình yêu hết sức mãnh liệt”. “Đôi mắt Xiêm
bao giờcũng cháy rực. Đôi mắt cầu khẩn tình yêu và khao khát đòi giải
phóng. Cho nên mối tình của Lượng đối với Xiêm mỗi ngày càng trởnên
tha thiết và ngang trái”. Điều gay cấnở đây là Xiêm đã có chồng - thằng
Kiếm, kẻthù của Lượng. Vậy, Kiếm sẽgiết Lượng hay Lượng sẽgiết Kiếm
để chiếmđoạt “vịnữthần của núi rừng ấy”? Điềuđáng ngạc nhiên là già
Phang biết rõ mối tình vụng trộm của con dâu mình và ngườiđồng chí của
mình nhưng làm ngơ để cho Xiêm tựlựa chọn. Xiêm rơi vào tình trạng bi
kịch. Đó là một chuyện tình “rất tiểu thuyết” nhưng lạiđược xửlý theo cách
của sửthi. Nghĩa là, Lượng vẫnđặt lợi ích của cách mạng lên trên lợi ích
cá nhân. Anh không muốn người ta đồn rằng: “một cán bộgiải phóng đã
cướp vợmột tên lính ngụy”. Điều bất ngờhơn là trong một lầnđánh đồn
giặc, Lượng có chủý tìm kẻtình địch của mình để đem vềcho người yêu
của mình. Một hành động vừa công vừa tư, vừa sửthi nhưng cũng vừa tiểu
thuyết. Và cách giải quyết bi kịch cũng phù hợp với quan điểm cộng đồng.
Nhân vật sửthi là những con ngườiđẹpđẽ, rấtđáng để chiêm
ngưỡng. Trong Dấu chân người lính, ta gặp rất nhiều nhân vậtđáng kính
trọng nhưchính uỷKinh, Nhẫn, Lượng, Lữ, Hiền, Nết, già Phang, v.v... Về
cơbản, họlà con người sửthi nhưng một sốtrong họcũng mang ít nhiều
chất tiểu thuyết. Mứcđộ đậm nhạt của chất tiểu thuyết tuỳvào địa vịxã hội
(chức vụcao hay thấp), và vai trò của nhân vật trong tác phẩm (nhân vật
chính hay phụ, chính diện hay phản diện). Cũng nhưL. Tônxtôi, Nguyễn
Minh Châu đã tô vẽnhân vật có chức vụcao nhất trong tác phẩm của mình
một chút sắc màu tiểu thuyết. Chính uỷKinh có nhiều nét giống Cutudốp; cả
hai đều bịchột một mắt (“độc nhỡn”), và đều có tác phong giản dị, bình dân,
không oai nghiêm lẫm liệt nhưcác vịtướng trong sửthi cổ. Chính uỷKinh
ăn mặc dân dã, quê mùa đến mức có lần thấy ông lùa bò, chiến sĩKhuê
tưởng ông là “nông dân”. Vịchính uỷtrung đoàn này ăn nói “xuềxoà”, gọi
lính đáng tuổi con mình là “ông”. Thấy lính chê thơmình cũng nổi tựái:

“Ông mô nói thơmình cổ?”. “Câu nói của Kinh đầy tiếng địa phương, rất
nặng” (giọng NghệTĩnh). Giữa chỉhuy và chiến sĩcó quan hệrất thân mật,
cởi mở, bình đẳng, dường nhưkhông có sựcách biệt nào, đó là tinh thần
dân chủcủa tiểu thuyết. Khi gặp chính uỷtrên đường hành quân, đám lính
trẻla tướng lên: “A, thầyĐường Tăng!”, “Chào thầyĐường Tăng sang
nước Việt Nam lấy... đầu Mỹ, anh em ơi!”, “Thầy có chú tiểuđồng kháu ra
kháu!”. Tiếng cườiđã “làm gần gũi và thân mật hoá” các nhân vật, nó phá
tan những cái gì cứng đờ, nghiêm nghịlàm cho nhân vật anh hùng bớt lên
gân. Nhà thơThái Văn vốn có “phong độ tỏra một con người thưthái và
điềmđạm” và có vẻ đạo mạo nhờ “đôi kính trắng”. Nhưng phong cách trang
nghiêm của ông cũng bịcánh lính trẻhạbệ:“Đồng chí cán bộsư đoàn này
kểmột cách hào hứng giữa cuộc họpởmặt trận bộrằng chính mình có gặp
“cu cậu” đang cọdép ởquãng suối dưới chân đèo “chót thì bóp” (...) cánh
lính trẻnghịch ngợm tán vung lên: “Tao thấy ông ấy tắm truồng mà đeo
kính”. Chi tiết này kết hợp cảcái nghiêm nghịcủa sửthi (đeo kính) và cái
khôi hài của tiểu thuyết (tắm truồng). Nói nhưBakhtin: “Người ta phá vỡ đối
tượng, lột trần nó (lột bộcánh đẳng cấp của nó): đối tượng trần truồng trở
nên nực cười”(3).
Có thểnói, Dấu chân người lính là một rừng cười, cứvài trang, ta lại
nghe rộlên tiếng cười của các chàng lính trẻ. Hình như đối tượng nào cũng
bị đem ra cười. Không chỉcó tiếng cười mỉa mai châm biếm phe địch mà
còn có cảtiếng cười bông đùa vui nhộn hướng vào phe ta như: chính uỷ
Kinh, Thái Văn, bác Đảo cấp dưỡng, mẹvợcủaĐàm, các cô văn công và
giữa lính với nhau. Chức năng của tiếng cười hài hướcở đây rấtđa dạng.
Trước hết, nó rút ngắn khoảng cách sửthi giữa các nhân vật và giữa nhân
với với tác giả,độc giả. “Chính tiếng cườiđã phá bỏkhoảng cách sửthi và
nói chung là mọi khoảng cách ngôi thứ- giá trị- ngăn chia” (Bakhtin). Tiếng
cười giúp cho các cấp chỉhuy xích lại gần chiến sĩnhưng không có nghĩa là
các chiến sĩkhông tôn trọng chỉhuy. Tiếng cười còn có tác dụng xoá tan
những khắc nghiệt của chiến tranh, nó thổi ngọn gió tiểu thuyết mát mẻvào
cái lò sửthi nóng nực. Tạo cho con người có thêm sảng khoái và nghịlực

