Đằng sau những ước lệ
ngôn tcủa "Thiên đô chiếu"
Chắc chắn rằng sau khi đã được n lập, một trong những việc cần làm ngay được
nhà vua xác định và nhanh chóng thực hin, là việc dời đô. Như đã nói trên, ngài
khẳng quyết tường minh rằng, việc dời đô cùng một lúc có quan hệ mật thiết và trực tiếp
đến an ninh cá nhân, dòng dõi hoàng tộc, nhu cầu an cư lạc nghiệp của cư dân nơi đế đô,
điều kiện nắm quyền tr ớc và lớn nhất, xa nhất là vn mệnh vương triều - vận mnh
quốc gia. Nhà vua không hề giấu giếm, ngược lại, thẳng thắn bộc bạch nỗi niềm canh
cánh y. Nội dung chủ yếu của bản “chiếu” này chính một sự giãiy cùng những lý
lẽ thuyết phục quần thn về quyết định quan trọng đó.
Việc dời đô din ra tuy không quá vội vàng, mà được trù hoạch cẩn thận, nhưng
cũng có thnói là khẩn trương, gấp gáp.
Nửa sau của lời “chiếu”, như đã biết, ít nhiều làm dấy lên những sự phân vân,
những liphản bin”, nhất là đối với độc giả thời nay. Nhưng trước khi thể hiện “lập
trường”, hãy tĩnh trí quan chiêm đôi dòng lch sử.
Cũng nên dừng lại bàn đôi lời về cách nhìn nhận, đánh giá đối với các “yếu nhân
nhập cư” trong cả một thời gian khá lâu dài trong lịch sử, để hiểu hơn cách thế ứng xử
từng được tỏ ra ở các tác giả, tác phẩm của ngưi Nam” về sau, trong đó có Lý Thái
Tổ.
Giữa các nn vật từng là quan li ngưi Trung Quốc đô hộ ở nước ta, có một s
n tuổi đlại những du ấn đậm nét. Không mấy ai chỉ để lại “tiếng thơm”, nhưng s
không công bng nếu nhìn nhn nhất loạt những ngưi này chđơn giản là thuộc vào
lũ xâm lược đô hộ tàn bạo, khát máu”, chỉ là nhng kẻ thù “kng đi trời
chung”. Cao Bin là một người cần được xét đoán nhiều chiều như thế. Cchính slẫn
dã sđều không ít những truyện tích cùng rt nhiều những ý kiến đánh giá, bình
nghtrái chiều. Do chỗ hành trng, ng lực, quan hệ và tính cách phức tạp, những
người như Cao Biền hay Hoàng Phúc thuc vào loi quan cao cấp để lại trong ký ức
của ngưi Việt những “kỷ niệm đa nghĩa, thậm chí được huyền thoi hóa, truyền
thuyết a. Họ, trong cảm quan ngưi Việt, là nhng “phức cảm lịch sử. Dù sao mặc
lòng, không th chối rằng các sgia chính thống của các triều đại qn chủ Việt Nam,
dù nuôi trong m khm mt lòng u nước u sắc, cũng từng viết về những người
y bng không ít những lời lẽ trọng thị, thậm ckính phục. Thái độ đó của các sgia
xưa,một mức độ đại diện ktiêu biu, cũng phản ánh ti độ của cộng đồng cư dân
Vit và các chính th đại diện dân tộc đi với nền n hóa, văn minh Trung Quốc, th
hin thế ứng xử đa trị, đa chiều của ngưi Vit đối với phức thể khổng lồ tờng
xuyên có quan hphức tạp với quốc gia - n tộc mình, với cộng đồng cư dân
mình. Xét cho cùng, stiếp cận đa chiu ấy về những mối liên h giữa hai cộng đồng,
hai thc thể quyền lực là một tất yếu lịch s.
Cao Biền, như chính sử Việt chép, sau hơn mười năm chinh phạt ở nhiều nơi,
sang Giao Châu vi chức quan Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ “giphủ xưng vương, đắp La
Thành…(5). Theo ghi nhn của các sử gia, trong thời gian tr nhậmi này, Biền làm
được nhiều việc mang li ích lợi lớn cho cộng đồng Việt. Ngoài tài trnước cầm quân
của một nho tướng, nhờ vào nhng kiến thức ngoài luồng” như tri thức về Đạo giáo và
phương k, Biền cũng làm khá nhiu việc “khó hiu”, có nhiều hành xử “không giống
ai” nhưng xét về kết quả là hữu ích. Ngô Sĩ Liên tng bình luận: “Việc Cao Biền đào
kênh sao mà kdị thế? Đó là vì việc làm hợp lẽ, cho nên được trời giúp. Trời là lẽ phải.
Đất có chỗ hiểm, chỗ bằng, đó là lthường. Nếu hiểm mà không vượt được thì tri phải
nhờ đến tay người làm gì?… Xem như lời của Biền nói “Nay khai đường biển để giúp
sinh dân, nếu không theo lòng riêng thì có gì khó”. Lòng thành phát ra tlời nói, thì lời
nói ấy há chẳng là thuận ư?Lòng tin thành thực cảm thông đến cả vàng đá, huống nữa
là trời?Việc gì trời đã giúp sức là thuận…”(6). Các bộ sử Trung Quốc, cả những bộ sử
chép k chuyện ông này, như Tân Đường thư - Cao Biền truyện đều không thấy nói việc
Cao Biền “xưng vương”, nhưng có điều chắc chắn là vi một ông quan đa mưu túc trí
lm kế nhiều mưu, văn võ toàni và tham vng kng hề nhỏ như Cao Bin, triều đình
trung ương của nhà Đường không thể mảy maylà cảnh giác”. Không để viên quan
này “mọc rễ nơi biên viễn vốn thường trực một khả năng ly khai khỏi thiên triều, vào
năm 875 vua Đường gọi ông ta về Bắc, đổi làm Tây Xuyên Tiết độ sứ.
Không thể nói rằng lịch đại sử gia của Việt Nam đã “hữu khuynh” hay vì lịch s
quan Nho giáo đã làm sai lạc cách nhìn họ. Công bằng và khách quan bao giờ cũng là
dấu hiệu của một nền văn hóa ứng xử ở một cộng đồng đã phát trin tới độ trưởng thành.