Các dấu hiệu của thơ tượng
trưng trong bài "Màu thời
gian" của Đoàn Phú T
Bài thơ Màu thời gian ca Đoàn Phú Tứ, xuất hin lần đầu trên báo Ngày nay (sTết
1940), in lại trong Xuân Thu n tập(1942) là mt trong những bài thơ tiêu biểu mđầu cho
thơ tượng trưng hiện đại Việt Nam. Bài thơ đã được tác giả ca Thi nn Vit Nam vinh
danh: "Trong thơ ta lkhông bài nào khác tinh tế và kín đáo n thế"(1). S tinh tế và
n đáo ấy củaMàu thời gian phải chăng được tạo nên bởic đc trưng ca thơ ợng trưng,
bi sự thức tỉnh ca giác quan và m hồn c giả?
Giáo sư Trần Đình S khi bàn về thơ tượng tng trong cuốn Những thế giới ngh
thuật thơ đã khẳng định: Ch đề của thơ ợng trưng là "tiếng nói ca thế gii, là khát vọng
tìm kiếm cái bí ẩnđằng sau, bao gồm bản chất thế giới, các hiện tượng ca tâm linh con
người, ca thế giới cảm giác và vô thc"(2). Khác vớic bài thơ tượng trưng nói "tiếng nói
ca thế gii", Màu thi gian y t và khơi gợi trong chúng ta cái khát vng kiếm tìm s
n ca thế gii tâm linh, thế giới cảm giác ca con người đằng sau lời thơ, sau mỗi hình ảnh
thơ và từ, ng. Bắt đầu từ nhan đề!
Nhan đ Màu thi gian bn thân nó là một câu đnh triết học, mới nghe qua
tưởng chừng như đã có sẵn lời gii trong đó nhưng hra không phải! Muốn hiểu được b
u tầng ý nghĩa ca u thi gian, phải đọc toàn b bài thơ, và phải đọc đi đọc lại nhiều lần
mi phần nào hiểu được cái dng ý của thi nhân. Thời gian là phi vật thể, cho nên nó không
màu, không mùi, không v. Đặt vấn đề xác định "màu" ca thời gian, Đoàn Phú Tờng
như muốn kể câu chuyn vđời người, cũng là câu chuyện về đời mình - "một câu chuyện
tâmnh"(3).
Trước khi nguồn gốc ca i thơ được chính những người bạn thân của Đoàn Phú T
trong nhóm Xuân Thu Nhã Tập làmng tỏ, bất cứ người nào đọc bài thơ có lẽ cũng đều có
chung một cảm giác như nhà nghiên cứu Nguyễn Sơn khi cho rằng đó là một bài thơ "không
hiểu nổi", " thanh tht, nó lâng lâng, như khi nhìn áng mây trôi, khi ngm dòng nước
chảy… nó lung linh như một khúc nhạc thiều..., nó chập chờn như một bóng Liêu Trai!"(4).
Nghĩa là nời ta ch biết nó "hay" nhưng hay n thế nào thì không dgì mà nói cho rõ ràng
mạch lạc được. Bởi lẽ, tkhi ra đời, thơ tượng trưng đã luôn mi mẻ và khó hiu; người đọc
thơ có cảm giác, linh cm về những điu thầm kín nhà thơ đang din tả, nhưng không
mấy người đọc gọi được tên nhng điều thầmn, nhng điều bí mật ấy cho nên đành "kính
nhi vin chi", thích thì tch vậy ch thc s cũng chẳng hiểu bài thơ nói gì.
Bài thơ gồm 18 dòng, chia tnh 5 khổ. Hai khđầu mỗi kh3 dòng, viết theo thể t
do, các dòng thơ dài ngắn đan xen. Ba khổ cuối mỗi kh4 dòng, viết theo thể thơ cổ: n
ngôn và thất ngôn. Tni thơ có đến hơn 2/3 s t mang thanh bng(71/101). Điệp
ngữ: Màu thời gian, Hương thời gian; Điệp âm: anh; Hệ thống hình ảnh ẩn dụ chuyển đổi
cm giác: tiếng chim thanh, g xanh… Tất cả tạo cho lời thơ một âm điu khoan thai, nhp
nhàng, đọc lên thấy ngân nga, vang xa,c đng trực tiếp vào giác quan và tâm hồn độc giả.
Trong ý niệm của riêngi, bài thơ bao giờ cũng đẹp như một bức tranh lập thể. Các
họa tranh lập ththường sử dụng thủ pháp nghthuật cắtn: đem các mảnh vụn khác
nhau ca đời sống mà ghép lại thành một chỉnh thể, để người xem thể thưởng thức nó t
nhiều góc độ. Cùng với tởng tượng bay bổng, người xem thấy được các lát cắt khác nhau
ca đời sống con nời và xã hội loài nời. Bài thơ Màu thi gian có s đan xen giữa
c mảnh vụn ca hin tại và quá khvới những hình ảnh vừa thuần tuý va tượng trưng, gợi
ấn tượng về thời gian. Thời gian được nhìn nhận như một vật th màu, mùi, một sinh
thđược cấu tạo bởi hai phần: vật chất và tinh thần. Đó là một thời gian biến ảo linh hoạt,
sng động. Dấu ấn ca sự đan xen giữa hiện tại và quá khứ thể hiện ngay trong sự kết hợp
đầy dụng ý của c gigia thể thơ tự do (hiện tại) và th thơ cổ (quá khứ).
Ba ng đầu của bài thơ là câu chuyện ca hiện tại:
Sớm nay tiếng chim thanh
Trong gió xanh
Dìu vương hương ấm thong xuân tình
Lắng nghe lời tâm sự ca nhà thơ, ta cảm nhận ý thơ tt lên niềm hân hoan dịu nhv
một tình yêu trong hin tại, một tìnhu mi, nên thơ, đầy ý v mà c giả rất nâng niu, tn
trng. Lẽ tất nhiên là cảm nhận này được gợi t mỗi hình ảnh thơ: Sớm nay, tiếng chim
thanh, g xanh, hươngm, xuânnh; nhưng nếu tách rời hình nh thơ ở khđầu với các kh
sau thì lời thơ tự nó ng không còn mang ý nghĩa ấy nữa.
Nếu ba dòng thơ đầu là câu chuyện của hiện tại thì những câu thơ tiếp (khổ II,
III, IV) lại là hồic vquá khứ hay câu chuyện về một thời đã xa.
Nn xưa không lạnh nữa, Tần Phi!
Ta lặng dâng nàng
Triy phảng phất nhuốm thời gian
Thi nn Vit Nam (Sđd, trang 102) đã nhng chú giải t v vba câu thơ này.
Trong đó, Tần Phi là tên thi nhân tự đặt, dựa trên mt tích cổ: xưa có người cung phi của Hán
Đế là nàng phu nhân, lúc gn mất nhất đnh không cho vua xem mặt vì s vua tng
thấy nét mặt tiều tụy ca mình s hết yêu. Ngàn xưa không lạnh na nghĩa là chuyện xưa đã
hu quên, nay nhớ lại lòng thấy nôn nao. Hình ảnh ở câu th ba ch hồn của nhà t. Nhà thơ
muốn nóing hồn mình cho người yêu nhưng không nói được vì nói như thế sẽ sỗ sàng, bởi
tình yêu đây chưa tng được san sẻ.
i thú v, tinh tế ca thơ ợng trưng là ở chc thi tượng trưng thường hay dùng
những hình ảnh ợng trưng để hóa những điu thầmn trong lòng mình. Thơ ợng
tng, vì thế, ch miêu tả cái biểu đạt mà che giu cái được biểu đạt.ng như c nhà tượng
tng khác, Đn Phú Tkhắc phc tính hơi lvà ít hàmc ca thơ lãng mạn bằngch
hạn chế những lời gii thích, trìnhy trực tiếp tình cảm và ý nghĩ để người đọc t tìm hiểu,
khai mở và chiếm lĩnh vđẹp riêng ca mỗi hình ảnh thơ.
Cái được biểu đạt ca những hình nh thơ trên v sau này cũng được Đình Hòe,
Nguyễn Lương Ngc và Nguyễn Xuân Kht - những người bạn ca nhà thơ trong nhóm
Xuân Thu Nhã Tp - tiết l phần nào. Thực ra, bài thơ và tứ thơ được gợi hng từ câu chuyện
“bí mật" về một người đẹp bên H Tây - người con gái quê Huế, thường mc áo la m và
chơi đàn dương cầm tuyệt hay. Theo Nguyễn Lương Ngọc, đó là "một thiếu n con nhà sang,
người mềm mại, mặt đẹp", đặc biệt là đôi mắt "bcâu" "m tròn", đen láy. Đình Hòe thì
cho rằng Đoàn Phú T ca ngày y đã "si giai điệu và si giai nhân", mỗi lần được ngắm nhìn
nàng và nghe tiếng đàn thánh thót ca nàng, hồn chàng "như bị hút vào không trung"(5). Được
một thời gian, nghe tin nàng ốm nặng, Đoàn Phú T bạo dạn xin vào thăm nhưng nàng đã t
chối. Có l, trong cảm nhận ca thi nhân - người b t chối, tâm trạng của nàng lúc ấy ng
giống với Tần Phi. Chuyện đã qua lâu nhưng khi nh lại, cõi lòng nhà thơ lại như đang cồn
cào, nôn nao, khó t. Phải chăng t những xúc cảm đó, những hình nh ca Màu thời gian đã
viên thành!
Màu thi gian không xanh
Màu thi gian m nt
ơng thời gian kng nồng
ơng thời gian thanh thanh
Nếu nói "ợng trưng là s thăng hoa ca tri giác và cảm giác, nó không chứng minh
, mà làm nảy sinh một trạng thái ý thc, nó phá vỡ mọi ngẫu nhiên, nó là biểu hiện cao
nhất, tinh thần nhất mà nghệ thuật có thđược"(6) thì ci thơ nói chung và khthơ này
nói riêng đã thể hiện được điều đó. Thời gian trong bài thơ là tượng trưng. Nó không phải
thời qian vật mà là thời gian tâm trạng, thời gian của sự trầm tư. Do đó, nó "không làm cho
mọi sự vật biến mất, mà là hình thc tồn tại và lưu gi của tình cảm con người", trong đó
“tình người làm cho thi gian trở thành hương sắc"(7).
Trong quan niệm của người Pháp, thời gian màu xanh - màu ca niềm tin và hy
vọng. Trong quan niệm của Đoàn Phú T, màu thời gian không xanh mà m nt. Đoàn Phú
T yêu màum - màu tím Huế thương, yêu hoa tím, yêu màu áom của giai nhân, "mầu
hoa lẫn với mầu yêu"(8). Trong tâm thc người phương Đông, màu tím tượng tng cho tình
yêu, cho s thủy chung, màum là màu ca tình yêu. Thời gian được cảm nhận bằng tâm
hồn yêu nên thời gian mang màu tím. Cũng như "màu thời gian", "hương thời gian"ng là
"ơng yêu", một tìnhu đã qua lâu rồi nên ch thấy thanh sạch, nhẹ nhàng. Màu được cảm
nhận bằng thị giác. Mùi hương được cảm nhận bằng khứu giác. Màu thời gian và hương thời
gian được cảm nhn không ch bằng thị giác, khứu giác mà bằng sự phối kết hợp một cách
hài hòa, tinh tế của các giác quan nên đã gợi liênởng đến màu tình yêu và hương tình yêu:
vừa cụ thể, va nhiều mộng mơ; va trần tc, vừa thanh cao tht tục.
Vn là u chuyện của quá kh, t quá khgần, ý thơ, điệu thơ cùng với hồn thi nhân
đi vquá khứ xa, và "càng đi xa về quá khứ, câu thơ càng thiết tha, càng rc rỡ" (Hoài
Thanh):
Tóc mây mt món chiếc dao vàng
Nghìn tng e lệ phng Quân Vương
Trămm tình cũ lìa kng hận
Tp y hoa thiếp ph chàng
Ý t ca những câu thơ trênng bắt nguồn t tích cũ. Đó là chuyn nàngơng Quý
Phi hồi mới vào cung, vì hay ghen nên b vua Đường Minh Hoàng giam một nơi. Sau đó,
nhân một lần vua cử người đến thăm, Dương Quý Phi đã cắt tóc dâng vua để đáp lại mối tình
tu mến của vua và giãiy nỗi nhcủa mình. Đn Phú T đã kết hợp chuyện này với
chuyện Tần Phi ở trên thànhu chuyện tưởng tượng về người giai nhân trong lòng nhà thơ.
Phải chăng nhà thơ đang tưởng tượng người đẹpng tình cảm vi mình, hay nhà thơ
đang hy vọng tình cm chân thành ca mình sẽ được đền đáp? Thật khó thđưa ra kết
luận sau cùng. Vì thơ ca là tiếng nói của linh cảm, của bản năng, của vô thc ; cho nên lời l
thơ ca là không cnh xác, là lấp lửng, mơ hồ. lẽ vì thế mà dù đã biết được nguồn gốc cảm
hứng của bài thơ, ta vẫn không cảm thấy lời thơ thô tục, ý thơ nhàm chán. Ngược lại, lời thơ
ng trở nên đẹp đẽ, ý thơ tiếp tục chuyển t quá khvề hiện tại và câu thơ vẫn giđược
"i vhuy hoàng và trang trọng"(9) ca nó.
Duyên trăm năm đứt đoạn