
182
của mình. Sớm hôm sau, khi thầy lén mang tráp ra khỏi nhà, gia chủ tưởng
thầy bỏ đi nên đã cố giằng cái tráp giữ thầy ở lại. Kết cục, cái tráp tung ra và
sự thật bị phơi bày. Cùng với câu chuyện này, những truyện Thầy đồ nói
liều, Thầy đồ liếm mật, Dủ dỉ là con dù dì, Bất là cây bất... đã miêu tả hoàn
tất bản chất thối nát của những kẻ được coi là lắm chữ. Tương tự như vậy,
những truyện Trinh với Liêm, Quan huyện thanh liêm, Thần bia trả nghĩa,
Nhưng nó lại phải bằng hai mày... đã nêu bật bản chất tham lam, dốt nát của
các bậc cha mẹ dân.
Truyện cười được đặt ra không phải là để giải trí đơn thuần mà là để
nêu lên những nhận thức sâu sắc, nghiêm túc về con người và xã hội, là vũ
khí đấu tranh giai cấp sắc bén người xưa dùng để phủ nhận những điều phi lí
tồn tại trong xã hội phong kiến đang tan rã.
Nhiệm vụ:
+ Nhiệm vụ1: đọc phần thông tin cơ bản và các tài liệu số 3, 5, 8.
+ Nhiệm vụ 2: kể tên các thể loại TCDG, nêu những hiểu biết của
mình về từng thể loại, chủ yếu là các vấn đề: khái niệm, đặc trưng cơ bản,
nội dung, ý nghĩa của chúng đối với việc giáo dục trẻ em.
Đánh giá hoạt động 1 – SV thực hiện các câu hỏi và bài tập sau:
+ Hãy dùng một số từ ngữ ngắn gọn để phân biệt các thể loại TCDG
và liệt kê các loại nhân vật tiêu biểu cho từng thể loại.
+ Phân tích một vài truyện truyền thuyết tiêu biểu nhằm làm rõ đặc
trưng kì ảo hoá lịch sử của truyền thuyết.
+ Tại sao nói cổ tích là thể loại truyện cổ dân gian được dùng để
giáo dục đạo đức cho trẻ em?
+ Nêu hai hình thức thể hiện bài học triết lí trong truyện ngụ ngôn.

183
Hoạt động 2: Hướng dẫn phương pháp tiếp nhận và phân tích TCDG (2
tiết)
Thông tin cho hoạt động 2:
Đặc điểm tiếp nhận của trẻ em: Trong hai phương diện quan trọng của
tiếp nhận văn học là đồng cảm và đối thoại thì bạn đọc trẻ em mới chỉ đạt tới
mức độ đồng cảm. Đồng cảm là cùng cảm thông, người đọc hiểu được
những gì tác giả muốn nói, từ ý nghĩa trực tiếp đến gián tiếp, cái hiển ngôn
tới cái hàm ngôn, hiểu tình cảm, tư tưởng tác giả muốn biểu đạt… Tiếp xúc
với tác phẩm văn chương, trẻ em bộc lộ ngay thái độ yêu ghét đối với từng
nhân vật, đồng tình hay phản đối ngay hành vi này hay hành vi khác của họ,
đồng thời nêu lên những nhận xét đánh giá từ những tình cảm yêu ghét đó.
Như trên đã nói, TCDG tác động đến tình cảm của bạn đọc trước, sau đó
mới tác động đến nhận thức của họ, điều đó giải thích vì sao trẻ em lại yêu
thích TCDG đến vậy. Cũng chính vì hoạt động tiếp nhận văn học của trẻ em
còn nặng về xúc cảm, cảm tính, nên càng cần đến sự định hướng dẫn dắt của
người lớn.
Cụ thể, cần hướng dẫn trẻ em cách tiếp cận các tác phẩm TCDG theo
các hướng sau:
- Từ góc độ đặc trưng thể loại: điều này giúp trẻ nhanh chóng nắm bắt
được nội dung cơ bản cũng như mục đích sáng tác của từng thể loại.
- Từ góc độ nhân vật: mỗi thể loại xây dựng một kiểu nhân vật riêng
cho mình, vì vậy nhân vật là nơi hội tụ những vấn đề cơ bản nhất của nhận
thức đời sống và tình cảm thẩm mĩ mà tác phẩm thể hiện.
- Từ các mô típ cốt truyện hoặc các thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu.

184
Nhiệm vụ:
+ Nhiệm vụ 1: đọc phần thông tin cơ bản.
+ Nhiệm vụ 2: trình bày những hiểu biết của mình về đặc điểm tâm
sinh lí của trẻ em - đối tượng tiếp nhận TCDG trong chương trình Tiếng Việt
tiểu học.
+ Nhiệm vụ 3: thảo luận, nêu ý kiến về phương pháp tiếp nhận và
phân tích TCDG sao cho phù hợp với đặc trưng thể loại và đối tượng tiếp
nhận.
+ Nhiệm vụ 4: phân tích một số TCDG trong chương trình Tiếng Việt
tiểu học, lựa chọn văn bản tác phẩm và phân tích theo các định hướng đã nêu
trong nhiệm vụ 2. GV cho SV trình bày cá nhân, đóng góp ý kiến thảo luận,
sau đó chữa bài.
Đánh giá hoạt động 2 – SV thực hiện các câu hỏi và bài tập sau:
+ Cần lưu ý những vấn đề nào khi dạy từng thể loại truyện cổ dân
gian cho HS tiểu học?
+ Nêu vài biện pháp đúc kết bài học giáo dục từ truyện cổ dân gian.
Thông tin phản hồi cho các hoạt động:
- Thông tin phản hồi cho hoạt động 1:
+ Phân biệt các thể loại TCDG và liệt kê các loại nhân vật tiêu biểu
cho từng thể loại: Nói đến thần thoại là nói đến đặc trưng giải thích nguồn
gốc tự nhiên và nguồn gốc sự sống thông qua vai trò cùng hoạt động của các
nhân vật Thần. Nói đến truyền thuyết là nói về những câu chuyện cổ có cách
miêu tả lịch sử độc đáo – lịch sử và các nhân vật lịch sử được kì ảo hoá, thể
hiện thái độ đánh giá của nhân dân, nhân vật của truyền thuyết thường bất
tử, trở thành Thánh nhân, có khả năng âm phù dương trợ. Nói đến cổ tích là

185
nói đến những truyện cổ sử dụng yếu tố thần kì để phản ánh hiện thực và mơ
ước của người xưa, từ số phận những con người nhỏ bé, bất hạnh mà nêu lên
những bài học đạo đức cho trẻ em. Ngụ ngôn là những bài học triết lí được
đúc kết từ những tình huống ứng xử cụ thể, với các nhân vật loài vật là chủ
yếu. Truyện cười chế giễu những thói xấu, cái thiếu hoàn thiện của con
ngưòi bằng tiếng cười với các nhân vật đủ loại từ người thường đến thánh
thần.
+ Phân tích các truyền thuyết Thánh Gióng; An Dương Vương; Sơn
Tinh, Thuỷ Tinh… hoặc một số truyện tự chọn khác nhằm làm rõ đặc trưng
kì ảo hoá lịch sử của truyền thuyết. Cần chỉ ra những sự thực lịch sử được
phản ánh trong các câu chuyện đó, đồng thời phân tích vai trò của các yếu tố
kì ảo, hoang đường mà truyền thuyết sử dụng nhằm tôn vinh công trạng
những người anh hùng.
+ Truyện cổ tích được coi là thể loại được sáng tác với mục đích giáo
dục đạo đức cho trẻ em vì: những mâu thuẫn, xung đột trong gia đình, ngoài
xã hội được cổ tích phản ánh đều xoay quanh phạm trù đạo đức, các nhân
vật chính diện hay phản diện đều thể hiện lí tưởng đạo đức của người xưa,
đó là quan niệm ở hiền gặp lành, ác giả ác báo (Phân tích một số ví dụ tiêu
biểu).
+ Hai hình thức thể hiện bài học triết lí trong truyện ngụ ngôn là công
khai và tiềm ẩn. Các bài học được đúc kết bằng nhan đề câu chuyện hoặc
bằng lời nói của nhân vật đều trực tiếp cung cấp cho người nghe những
thông tin cần thiết sau khi giới thiệu một tình huống ứng xử nào đó. Các bài
học buộc người nghe phải tự khái quát qua hàm ngôn câu chuyện là những
bài học gián tiếp, sức mạnh của nó phụ thuộc khá nhiều vào khả năng lĩnh
hội của người nghe ( Lấy ví dụ và phân tích).
- Thông tin phản hồi cho hoạt động 2:

186
+ Khi dạy từng thể loại truyện cổ dân gian cần lưu ý những vấn đề
sau:
* Với thần thoại: nêu rõ vai trò của các vị thần trong việc giải thích
tự nhiên của người xưa.
* Với truyền thuyết: đặc biệt nhấn mạnh các công trạng của người
anh hùng và cho HS thấy rõ thái độ tôn sùng của người xưa đối với họ thông
qua việc sử dụng các chi tiết hư cấu.
* Với cổ tích : khơi dậy tình cảm yêu thương chia sẻ của HS thông
qua số phận các nhân vật, đúc kết các bài học giáo dục từ cốt truyện.
* Với ngụ ngôn: cần làm rõ ý nghĩa tượng trưng của các nhân vật
loài vật, giúp HS phát hiện các bài học triết lí của truyện.
* Với truyện cười: khai thác cái cười trong truyện thông qua những
biểu hiện bất bình thường của nhân vật.
+ Vài biện pháp đúc kết bài học giáo dục từ truyện cổ : sử dụng câu
hỏi gợi ý, sử dụng phép so sánh, sử dụng bài tập trắc nghiệm...
Tiểu chủ đề 3: Tìm hiểu các thể loại văn vần dân gian
(5 tiết)
Hoạt động 1: Nhận diện các thể loại văn vần dân gian (3 tiết)
Thông tin cho hoạt động1: thơ ca dân gian bao gồm 4 thể loại chính là
ca dao, tục ngữ, câu đố, đồng dao.
* Ca dao: là phần lời của bài hát dân gian (dân ca), là thơ ca dân
gian truyền thống.
Ca dao có hai đặc trưng cơ bản.

