
1
TRƯỜNG THPT AN LÃO
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KÌ I - NĂM HỌC: 2023 - 2024
MÔN: NGỮ VĂN KHỐI 12
A. NỘI DUNGKIẾN THỨC, KĨ NĂNG CẦN NẮM:
I.PHẦN ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1. Học sinh cần nắm vững kiến thức Tiếng Việt, Làm văn để làm các câu hỏi nhận biết phần Đọc – hiểu văn
bản:
- Các đặc trưng, dấu hiệu nhận biết của các phong cách ngôn ngữ:
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
Phong cách ngôn ngữ chính luận.
- Đặc điểm, dấu hiệu nhận biết của các phương thức biểu đạt:
Nghị luận:
Biểu cảm:
Miêu tả.
Tự sự (kể chuyện, tường thuật):
Thuyết minh.
- Đặc điểm, mục đích của các thao tác lập luận:
Thao tác lập luận phân tích.
Thao tác lập luận so sánh.
Thao tác lập luận bình luận.
Thao tác lập luận bác bỏ.
Thao tác lập luận giải thích.
Thao tác lập luận chứng minh.
- Các phép liên kết:
Phép lặp
Phép thế
Phép liên tưởng
Phép nối
- Những biện pháp nghệ thuật tu từ trong văn bản :
So sánh:
Nhân hoá
Hoán dụ
Ẩn dụ
Phép điệp
Liệt kê:
Tương phản, đối lập
Đảo ngữ
Câu hỏi tu từ
Nói giảm, nói tránh
Nói quá:
- Các kiểu câu:
- Các thể thơ, thi luật thơ.
- Dẫn chứng trong văn nghị luận.
2. Ngữ liệu đọc hiểu:
Ngữ liệu đọc hiểu có nội dung liên quan đến câu hỏi phần làm văn nghị luận xã hội.

2
Vì vậy, học sinh cần chú ý tham khảo nhiều đề đọc hiểu có ngữ liệu là những kiểu văn bản nghị luận,
nghệ thuật (Đặc biệt là dạng văn bản chính luận hiện đại, thơ Việt Nam hiện đạimang những thông điệp
sống ý nghĩa và phản ánh những vấn đề cấp thiết trong đời sống).
3. Dạng câu hỏi đọc hiểu:
* Nhận biết:
Cần xác định, nhận biết được:
Phong cách ngôn ngữ
Phương thức biểu đạt,
Thể thơ
Nhân vật trữ tình
Đề tài của văn bản
Các biện pháp tu từ nghệ thuật, chất liệu văn học dân gian.
Thao tác lập luận.
Các phép liên kết.
Dẫn chứng.
Câu, từ ngữ hình ảnh,… tác giả dùng để phản ánh nội dung, hình tượng nào đó trong
văn bản.
Thông tin được thể hiện trong văn bản,…
*Thông hiểu:
Cần nêu được:
Nội dung chính của văn bản.
Tình cảm, thái độ, quan điểm của tác giả.
Tác dụng của biện pháp tu từ nghệ thuật.
Đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn văn bản,...
Nhan đề của văn bản.
Tác dụng của dẫn chứng trong văn nghị luận.
Ý nghĩa của từ ngữ, hình ảnh, câu,….
* Vận dụng:
Bày tỏ quan điểm của bản thân về vấn đề được bàn luận,phản ánh, đặt ra trong văn bản. Lí giải vấn
đề.
Rút ra được thông điệp và bài học nhận thức, hành động của cá nhân qua văn bản.
II. PHẦN LÀM VĂN:
1.Nghị luận xã hội:
* Nội dung nghị luận:
Đề yêu cầu bàn về một thông điệp sống, một vấn đề quan trọng/ có ý nghĩa cấp thiết trong đời sống
(được đề cập đến trong văn bản đọc hiểu).
Vì vây, học sinh cần phải thông hiểu tốt văn bản đọc hiểu mới làm tốt được phần này.
* Hình thức:
Đề yêu cầu chỉ viết một đoạn văn khoảng 200 chữ (thay cho viết một bài văn) nên các em phải viết
phần này đảm bảo yêu cầu theo cấu trúc một đoạn văn và nội dung cần bám sát vấn đề trọng tâm cần nghị
luận
HS có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách nhưng cách trình bày theo phương pháp tổng – phân
hợp (câu chủ đề/ nêu vấn đề phát triển ý/ làm rõ vấn đề Khái quát/chuyển tải thông điệp) là tối ưu
nhất.
* Đề tài thường gặp trong dạng đề
Lối sống vô cảm.
Lối sống/ thái độ sống tích cực.

3
Giá trị của gia đình, tình bạn, tình yêu.
2. Nghị luận văn học:
* Dạng đề thường gặp:
- Nghị luận(phân tích) về một đoạn thơ, một đoạn văn, một tình huống, một hình tượng nghệ
thuật(nhân vật, cảnh vật), một vẻ đẹp,… trong tác phẩm.
- Phân tích một đoạn thơ, đoạn văn, tình huống, nhân vật,… trong tác phẩm. Từ đó,làm sáng tỏ một
yêu cầu phụ kèm theo.
* Yêu cầu:
Học sinh cần nắm vững những nội dung sau trong quá trình ôn để làm bài:
- Nét nổi bật trong cuộc đời, sáng tác của các tác giả văn học, hoàn cảnh sáng tác; giá trị nội dung,
nghệ thuật của các tác phẩm văn chương trong chương trình Ngữ văn 12 kì I (Đặc biệt là các tác phẩm:
Sóng (Xuân Quỳnh), Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm), Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân), Ai đã đặt tên
cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường).
-Cách làm bài các dạng đề thường gặp đã nêu trên.
Lưu ý: HS cần xem kĩ phần đặc tả ma trận đề thi để ôn tập sát hơn.
B. MỘT SỐ ĐỀ THI MẪU ĐỂ HỌC SINH THAM KHẢO:
ĐỀ 1:
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Chẳng ai muốn làm hành khất
Tội trời đày ở nhân gian
Con không được cười giễu họ
Dù họ hôi hám úa tàn
Nhà mình sát đường, họ đến
Có cho thì có là bao
Con không bao giờ được hỏi
Quê hương họ ở nơi nào.
(...)
Mình tạm gọi là no ấm
Ai biết cơ trời vần xoay
Lòng tốt gửi vào thiên hạ
Biết đâu nuôi bố sau này.
(Trần Nhuận Minh, Dặn con, Nhà thơ và hoa cỏ, NXB Văn học, 1993)
Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? Xác định phương thức biểu
đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ? (0.75 điểm)
Câu 2. Xác định nội dung chính trong đoạn thơ trên ? (0.75 điểm)
Câu 3. Anh/ chị có đồng tình với lời dặn con của người bố trong bài thơ hay không? Tại
sao? (1.0 điểm)
Câu 4. Cho biết, thông điệp sống mà anh/ chị rút ra được bài thơ? (0,5 điểm)
II. LÀM VĂN (7 điểm)
Câu 1: Nghị luận xã hội (2.0 điểm)

4
Anh/chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 từ, trình bày suy nghĩ của mình về Sức
mạnh của tình yêu thương.
Câu 2: Nghị luận văn học (5.0 điểm)
Anh/ chị hãy phân tích đoạn thơ sau:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó…
(Trích “Đất Nước”, Nguyễn Đình Thi, SGK Ngữ văn, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội)
Từ đó, hãy làm rõ vẻ đẹp Đất Nước trong chiều sâu của văn hóa dân gian.
ĐỀ 2:
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Nếu mỗi con người sống trên Trái Đất này là một hạt giống thì gia đình chính là vườn
ươm với nguồn dinh dưỡng là tình yêu thương dạt dào. Tình cảm gia đình là một món quà
quý giá nhất mà mỗi người chúng ta có được.
Trước hết, gia đình là cha mẹ, ông bà, anh chị em, họ hàng. Họ là bậc sinh thành, là
những người không tiếc công sức tiền của chỉ mong bạn nên người. Họ là những người yêu
thương bạn với một tình cảm thiêng liêng nhất, chân thật nhất mà xã hội ngoài kia không thể
nào mang lại. Khi còn bé, gia đình là nơi nuôi dưỡng tâm hồn bằng những điều hay lẽ phải
mà ông bà dạy dỗ, là mái ấm che chở, bao bọc đầy vững chãi, bao dung và là nơi mà ta cất
tiếng chào “oa oa” đầu tiên với cuộc đời. Để rồi sau này khi trưởng thành và già đi, gia
đình là nguồn năng lượng nâng đỡ ta những khi gục ngã, là điểm tựa vững chắc mỗi khi yếu
lòng và là nơi luôn dang rộng vòng tay chào đón chúng ta trở về.
…Chúng ta luôn được cha mẹ vun đắp tình yêu thương từ bé nhưng khi lớn lên ta dần
quên đi thứ tình cảm cao đẹp ấy mà chạy theo những mối quan hệ hư vô ngoài xã hội. Dần
dần ta trở nên khó chịu, gay gắt với cha mẹ và khiến cho không khí gia đình bất hòa. Hãy
nghĩ cha mẹ đã mất bao nhiêu tháng năm để dạy ta đi, dạy ta cách cầm muỗng để nhận lại
những câu nói cằn nhằn khi chúng ta mất vài phút để chỉ họ cách sử dụng điện thoại thông
minh. Hoặc khi người cha phải làm việc ngoài trưa nắng gắt để đổi lại giấc ngủ trưa mát mẻ
cho con. Chỉ vì nhịp sống quá nhanh của xã hội mà ta đã dần quên đi những sự hy sinh thầm
lặng ấy. Để rồi khi vấp ngã, khi gặp sóng gió, gia đình chính là bến đỗ an toàn nhất và chính
tình yêu thương ấy sẽ là đôi cánh giúp ta tiếp tục hành trình vươn xa. Như J.H.Pame
nogi :"Duj nơi đog cog tôji tàn đi chăng nưka nhưng không cog nơi najo cog thêl so sagnh băjng gia
đijnh", hãy biết trân trọng món quà vô giá này.
Chúng ta có rất nhiều nơi để đến và đi nhưng tuyệt nhiên chỉ có duy nhất một nơi để
trở về. Nơi mà trái tim cảm thấy được yêu thương, trân trọng, nơi mà tâm hồn được an yên,

5
thả lỏng, nơi mà không một ai phán xét, câu nệ, nơi mà mọi người đối xử với nhau chân
thành và chân thật nhất, nơi mà chúng ta gọi là gia đình!
( Theo Kim Phụng, http://thamvantamly.org.vn/chuyen-muc-cuoc-song-tinh-cam-gia-dinh)
Câu 1: Xa€c đi•nh phong ca€ch ngôn ngư‚ và phong cách biểu đạt chính cuƒa văn bản.
Câu 2: Theo tác giả, gia đình có ý nghĩa, vai trò gì với mỗi người từ khi ta còn bé cho đến
khi trưởng thành và già đi?
Câu 3: Tại sao tác giả lại cho rằng: Chúng ta có rất nhiều nơi để đến và đi nhưng tuyệt
nhiên chỉ có duy nhất một nơi để trở về là gia đình?
Câu 4: Cho biết, anh/ chị rút ra được bài học gì từ văn bản trên? (0,5 điểm)
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến được nêu
trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu: “Tình cảm gia đình là một món quà quý giá nhất mà mỗi
người chúng ta có được. ”
Câu 2. (5,0 điểm)Phân tích đoạn thơ sau:
Anh/ chị hãy phân tích đoạn thơ sau:
Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.
Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa…
(Trích “Việt Bắc”, Tố Hữu, SGK Ngữ văn, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội)
Qua đó, hãy làm rõ tính dân tộc đậm đà trong bài thơ Việt Bắc.
ĐỀ 3:
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:
Trong dòng đời vội vã có nhiều người dường như đã quên đi tình nghĩa giữa người với người.
Nhưng đã là cuộc đời thì đâu phải chỉ trải đầy hoa hồng, đâu phải ai sinh ra cũng có được cuộc sống giàu
sang, có được gia đình hạnh phúc toàn diện mà còn đó nhiều mảnh đời đau thương, bất hạnh cần chúng ta
sẻ chia, giúp đỡ. Chúng ta đâu chỉ sống riêng cho mình, mà còn phải biết quan tâm tới những người khác.
(Đó chính là sự “cho” và “nhận” trong cuộc đời này).
“Cho” và “nhận” là hai khái niệm tưởng chừng như đơn giản nhưng số người có thể cân bằng được
nó lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Ai cũng có thể nói “Những ai biết yêu thương sẽ sống tốt đẹp hơn”
hay “Đúng thế, cho đi là hạnh phúc hơn nhận về”. Nhưng tự bản thân mình, ta đã làm được những gì ngoài
lời nói? Cho nên, giữa nói và làm lại là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Hạnh phúc mà bạn nhận được khi
cho đi chỉ thật sự đến khi bạn cho đi mà không nghĩ ngợi đến lợi ích của chính bản thân mình. Đâu phải ai

