TRƯỜNG THPT SỐ 2 PHÙ MỸ ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KIỂM TRA CUỐI HKI
TỔ NGỮ VĂN MÔN NGỮ VĂN (BỘ CÁNH DIỀU) LỚP 11
NĂM HỌC 2023-2024
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đề 1: Đọc văn bản sau:
Bây giờ thì hắn trở thành mõ thật rồi. Một thằng mõ đủ tư cách mõ, chẳng chịu kém một anh mõ
chính tông một tí gì: cũng đê tiện, cũng lầy là, cũng tham ăn. […]
Không! Lộ sinh ra là con một ông quan viên tử tế, hẳn hoi. Và chỉ mới cách đây độ ba năm, hắn
vẫn còn được gọi là anh cu Lộ.
[…]
Những lời tiếng mỉa mai truyền từ người nọ đến người kia. Lộ thấy những bạn cứ lảng dần.
Những người ít tuổi hơn, nói đến hắn, cũng gọi bằng thằng. Trong những cuộc hội họp, nếu hắn
vui miệng nói chõ vào một vài câu, nhiều người đã ra vẻ khinh khỉnh, không thèm bắt chuyện… Hắn
nhận thấy sự thay đổi ấy, bắt đầu hối hận. Nhưng sự đã trót rồi, biết làm sao được nữa? Hắn tặc
lưỡi nghĩ bụng: “Tháng ba này, thằng nào thằng ấy đến ba ngày không được một bát cơm, dãi
nhỏ ra, hết còn làm bộ!…” Một ý phấn khích đã bắt đầu nảy mầm trong khối óc hiền lành ấy… Một
hôm, trong một đám khao, Lộ vừa chực ngồi cỗ thì ba người ngồi trước đứng cả lên. Lộ ngồi trơ lại
một mình. Mặt hắn đỏ bừng lên. Hắn do dự một lúc rồi cũng phải đứng lên nốt, mặt bẽn lẽn cúi gầm
xuống đất. Chủ nhà hiểu ba anh kia ý gai ngạnh không chịu ngồi chung với mõ. Ông tìm một
người khác, xếp vào cho đủ cỗ, và an ủi Lộ:
- Chú ăn sau cũng được.
Lộ ầm ừ cho xong chuyện, rồi nhân một lúc không ai để ý, lẻn ra về. Hắn tấm tức rất lâu. Trông
thấy vợ, hắn cúi mặt, không dám nhìn thị, làm như thị đã rõ cái việc nhục nhã vừa rồi. Hắn thở ngắn
thở dài, lắm lúc hắn muốn bỏ phắt việc, trả lại vườn cho họ đỡ tức. Nhưng nghĩ thì cũng tiếc. Hắn
lại tặc lưỡi một cái, và nghĩ bụng: “Mặc chúng nó!…” Hắn chỉ định từ giờ chẳng đi ăn cỗ đám nào
nữa ổn chuyện… Nhưng khổ một nỗi, không đi, không được. Đám nào ăn, tất nhiên chủ nhân
không chịu để hắn về. Làm cỗ cho cả họ ăn còn được, hẹp một cỗ cho thằng sãi? Để nhịn
đói về, chửi thầm cho. thiên hạ người ta cũng cười vào mặt, con người bủn xỉn… Ấy,
người ta cứ suy hơn, tính thiệt như vậy, nhất định giữ thằng sãi lại. Không ai chịu ngồi với hắn,
thì hắn sẽ ngồi một mình một cỗ trong bếp, hay một chỗ nào kín đáo cho hắn ngồi…
Mới đầu, Lộ tưởng ngồi như thế, lẽ yên ổn đấy. Nhưng người ta tồi lắm. Người ta nhất
định bêu xấu hắn. Trong nhà đám, một chỗ dù kín đáo thế nào, chảngười chạy qua, chạy lại.
Mỗi người đi qua lại hỏi hắn một câu:
- Lộ à, mày?
Cũng có người đế thêm:
- Chà! Cỗ to đấy nhỉ? Đằng ấy hoá ra lại … bở!
A! Thế ra họ nói kháy anh cu Lộ vậy, cáu lắm. Hắn tặc lưỡi một cái nghĩ bụng: “Muốn nói,
ông cho chúng mày nói chán! Ông cần gì!…” Hắn lập tức cỗ về sân, đặt lên phản, ung dung
ngồi. Nói thật ra, thì hắn cũng không được ung dung lắm. Tai hắn vẫn đỏ như cái hoa mào gà,
mặt hắn thì bẽn lẽn muốn chữa thẹn, hắn nhai nhồm nhoàm vênh vênh nhìn người ta, ra vẻ bất
cần ai. Sau cái bữa đầu, hắn thấy thế cũng chẳng sao, bữa thứ hai đã quen quen, không ngượng
nghịu mấy nữa. Bữa thứ ba thì quen hẳn. Muốn báo thù lại những anh đã cười hắn trước, tự hắn
đi bưng lấy cỗ, và chọn lấy một cỗ thật to để các anh trông mà thèm. Bây giờ thì đến lượt người chủ
không được bằng lòng. Có một mình nó ăn mà đòi một cỗ to hơn bốn người ăn!…
- Mẹ kiếp! Không trách được người ta bảo: “Tham như mõ”.
A! Họ bảo hắn vậy… Tham như vậy!… Đã vậy thì hắn tham cho biết!… Từ đấy,
không những hắn đòi cỗ to, lúc ăn hắn lại còn đòi xin thêm xôi, thêm thịt, thêm cơm nữa. Không đem
lên cho hắn thì tự hắn xông vào chỗ làm cỗ mà xúc lấy. Ăn hết bao nhiêu thì hết, còn lại hắn gói đem
về cho vợ con ăn, nếu vợ con ăn không hết, thì kho nấu lại để ăn hai ba ngày… hà! Phong
lưu thật!… Cho chúng nó cứ cười khoẻ đi!
Cứ vậy, hắn tiến bộ mãi trong nghề nghiệp mõ. Người ta càng khinh hắn, càng làm nhục hắn,
hắn càng không biết nhục. Hỡi ôi! Thì ra lòng khinh, trọng của chúng ta có ảnh hưởng đến cái nhân
cách của người khác nhiều lắm; nhiều người không biết tự trọng, chỉ không được ai trọng
cả; làm nhục người là một cách rất diệu để khiến người sinh đê tiện…
Bây giờ thì hắn mõ hơn cả những thằng mõ chính tông. Hắn nghĩ ra đủ cách xoay người ta. Vào
một nhà nào, nếu không được vừa lòng, là ra đến ngõ, hắn chửi ngay, không ngượng:
- Mẹ! Xử bẩn cả với thằng mõ…”
(Nam Cao, Trích Tư cách mõ, NXB Hội nhà văn 1993)
Lựa chọn đáp án đúng nhất:
Câu 1. Văn bản trên được kể theo ngôi kể nào?
A. Ngôi thứ nhất B. Ngôi thứ hai
C. Ngôi thứ ba D. Ngôi thứ nhất đan xen ngôi thứ ba
Câu 2. Truyện được kể theo điểm nhìn nào?
A. Theo điểm nhìn của chính anh cu Lộ
B. Linh hoạt điểm nhìn (khi của người dân trong làng đạo, khi của chính anh cu Lộ)
C. Theo điểm nhìn của người bạn anh cu Lộ
D. Theo điểm nhìn của tác giả và chính anh cu Lộ
Câu 3. Tớc khi mang tư cách mõ, anh cu Lộ là người như thế nào?
A. Là con một ông quan viên tử tế, hẳn hoi.
B. Là một thư sinh chăm chỉ học tập.
C. Là một tiểu thương khôn ngoan, chí thú.
D. Là một hào lí trong làng.
Câu 4. Quá trình trở thành hơn cả những thằng chính tông của anh cu L diễn ra như thế
nào?
A. E ngại – thấy được cái lợi từ nghề mõ – thích nghi với nghề mõ.
B. Chấp nhận nghề mõ – hiểu được cái vất vả của nghề mõ – thích nghi với nghề mõ.
C. Xấu hổ muốn bỏ việc mõ - tặc lưỡi mặc kệ - muốn báo thù lại những anh đã cười hắn trước
thích nghi với nghề mõ – biến đổi nhân cách
D. Muốn bỏ việc mõ – thấy day dứt – cố gắng làm để giúp làng – biến đổi nhân cách
Câu 5. Nam Cao thể hiện thái độ gì khi dùng đại từ “hắn”?
A. Thái độ khinh ghét cực độ vì Lộ là kẻ xấu xa, đê tiện.
B. Nam Cao xót thương cho sự biến đổi nhân cách của Lộ thì ông phần nào đồng tình với
những người dân xóm đạo.
C. Nam Cao bênh vực anh cu Lộ nhưng không thể bộc lộ thái độ một cách trực tiếp
D. Dù Nam Cao có cảm thông đến mấy với Lộ, ông cũng thể hiện rất ràng quan điểm: Con người
này không phải là đại diện cho cái thiện, cái chính diện, cái cao cả, bởi hắn đã từ một con người bình
thường trở thành kẻ tham lam, ti tiện.
Câu 6. Đoạn văn: “Hà hà! Phong lưu thật!… Cho chúng nó cứ cười khoẻ đi!” là lời của ai?
A. Lời anh cu Lộ.
B. Lời tác giả.
C. Lời người kể chuyện hòa vào lời anh cu Lộ.
D. Lời những người dân xóm đạo đồng cảm với anh cu Lộ.
Câu 7. Anh/Chị hiểu ý nghĩa những văn: Cứ vậy,…làm nhục người một cách rất diệu để khiến
người sinh đê tiện…” như thế nào?
A. Làm nhục người khác chính là phương pháp kì diệu để giáo dục con người.
B. Sự xúc phạm, lăng mạ của những người xung quanh quyết định sự biến đổi nhân cách con người,
từ đó Nam Cao bộc lộ nỗi niềm đau đáu: hãy cứu lấy nhân phẩm con người.
C. Sự xúc phạm, lăng mạ làm nảy sinh sự đê tiện trong mỗi người
D. Làm nhục người khác mới có thể giúp con người thoát được sự đê tiện.
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện yêu cầu:
Câu 8. Xác định mạch kể của truyện.
Câu 9. Phân tích nguyên nhân hình thành tư cách mõ của anh cu Lộ.
Câu 10. Câu nói: “Thì ra lòng khinh, trọng của chúng ta có ảnh hưởng đến cái nhân cách của người
khác nhiều lắm” gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì?
Đề 2: Đọc đoạn trích:
“Ðiền rất yêu giăng. Cái ấy cũng thường, bởi óc Ðiền đẫm văn thơ. đọc văn thơ, mới
biết giăng một cái đẹp quý lắm. Giăng cái liềm vàng giữa đống sao. Giăng cái đĩa bạc
trên tấm thảm nhung da trời. Giăng tỏa mộng xuống trần gian. Giăng tuôn suối mát để những hồn
khát khao ngụp lặn. Giăng, ơi giăng! Cái mộng tròn đầy thi của muôn đời mơn man! Ðiền
không ân hận chút nào. Hai thân Ðiền bán cả ruộng, vườn đi để cho Ðiền đi học chẳng phí đâu. Ðã
đành các người chỉ cái mục đích con làm nên ông phán, ông tham để ấm thân; các người hoàn
toàn thất vọng khi thấy con leo cau đến tận buồng lại hỏng ăn. Ðiền tạng yếu quá, không được
nhận vào công sở; các người đã vội cho tiền con đi học thật tiền vất xuống sông. Nhưng
Ðiền tin rằng: cái học thức của Ðiền tuy chẳng giúp Ðiền kiếm nổi miếng ăn, nhưng cũng có ích cho
Ðiền nhiều lắm. Chỉ nói một cái nhờ Ðiền đọc nổi văn thơ, nhờ văn thơ hiểu được cái
đẹp của gió, của giăng. Và Điền rất phàn nàn cho những tâm hồn cằn cỗi như tâm hồn của vợ Điền.
Đối với thị, giăng chỉ là… đỡ tốn hai xu dầu!”
(TríchGiăng sáng - Nam Cao, Trang 223, Tuyển tập Nam Cao, NXB Văn hóa thông tin
Nội, 2000)
Lựa chọn đáp án đúng nhất từ câu 1 đến câu 7:
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích là gì?
A. Tự sự B. Miêu tả C. Biểu cảm D. Nghị luận
Câu 2. Văn bản trên được kể theo ngôi kể nào?
A. Ngôi thứ nhất B. Ngôi thứ hai C. Ngôi thứ ba D. Cả A và B
Câu 3. Phép liên kết hình thức nào được sử dụng trong những câu văn sau: “Ðiền rất yêu giăng. Cái
ấy cũng thường, bởi óc Ðiền đẫm văn thơ. đọc văn thơ, mới biết giăng một cái đẹp quý
lắm. Giăng là cái liềm vàng giữa đống sao. Giăng là cái đĩa bạc trên tấm thảm nhung da trời. Giăng
tỏa mộng xuống trần gian.”?
A. Phép nối B. Phép lặp C. Phép thế D. Cả B và C
Câu 4. Câu văn “Giăng tuôn suối mát để những hồn khát khao ngụp lặn” sử dụng biện pháp tu từ
nào?
A. So sánh B. Ẩn dụ C. Nói quá D. Nhân hóa
Câu 5. Trong mắt Điền, vợ Điền là người như thế nào?
A. Là người phụ nữ biết tiết kiệm cho gia đình
B. Là người phụ nữ mơ mộng, có tâm hồn lãng mạn
C. Là người phụ nữ với tâm hồn khô cằn, không hiểu được vẻ đẹp của ánh trăng
D. Là người vợ thấu hiểu được suy nghĩ và những khao vọng của chồng
Câu 6. Trong đoạn trích, nhân vật Điền được khắc họa chủ yếu ở phương diện nào?
A. Ngoại hình B. Hành động C. Lời nói D. Nội tâm
Câu 7. Nội dung chính của đoạn trích là gì?
A. Nói về niềm say mê và khát vọng văn chương lãng mạn của Điền.
B. Nói về ý nghĩa của ánh trăng đối với nhà thơ, nhà văn
C. Nói về ý nghĩa của việc đi học với bản thân Điền và mọi người
D. Nói về thân phận bất hạnh của người trí thức trước cách mạng
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 8. Chỉ ra và nêu tác dụng của phép điệp trong những câu văn sau:
“Giăng cái liềm vàng giữa đống sao. Giăng cái đĩa bạc trên tấm thảm nhung da trời.
Giăng tỏa mộng xuống trần gian. Giăng tuôn suối mát để những hồn khát khao ngụp lặn. Giăng, ơi
giăng!”
Câu 9. Anh/Chị có đồng ý với quan điểm sau của nhân vật Điền không? sao?
“Ðiền tin rằng: cái học thức của Ðiền tuy chẳng giúp Ðiền kiếm nổi miếng ăn, nhưng cũng
có ích cho Ðiền nhiều lắm. Chỉ nói một cái nhờ nó mà Ðiền đọc nổi văn thơ, và nhờ văn thơ mà hiểu
được cái đẹp của gió, của giăng.”
Câu 10. Qua đoạn trích trên, anh/chị hãy nhận xét về người trí thức trước Cách mạng tháng Tám.
ĐỀ 3: Đọc văn bản sau:
[Lược một đoạn: Thằng Bào mười hai tuổi là đứa ở chăn trâu cho nhà thằng Quyên mười tuổi – con
nhà chủ. Hai m trước, mẹ Bào mắc n nhà này hai thúng thóc, đòi ngặt, Bào phải đến đợ.
Một hôm nọ, có con chim cánh vàng như nghệ, mỏ đỏ như son, ngày nào cũng sà xuống cây trứng cá
trước sân nhà. Thằng Quyên đứng dưới gốc dòm lên, yêu con chim đòi mẹ bắt cho được.
chủ bèn sai thằng Bào tìm cách bắt con chim vàng cho cậu chủ. Nhưng bắt làm sao được,
cánh, vừa leo lên bay vụt mất. Không bắt được chim, Bào bị chủ đánh đập, xỉa xói cùng
tàn nhẫn. Bào đã phản kháng nhưng rồi sợ vẫn cố gắng tìm cách bắt con chim vàng cho cậu
chủ… ]
Quá căm tức thì chống lại, chống rồi Bào lại sợ. Bào đến thằng Quyên:
– Cậu, bữa nay thế nào tôi cũng bắt được con chim vàng cho cậu!
Thằng Quyên ngẩng đầu lên, mắt long lanh, ôm lấy Bào, hỏi: “Chừng nào?”. Bào đưa
nhánh tre có sợi nhợ cho nó coi:
– Đây, bẫy gài đây cậu. Mà cậu cho một trái chuối chín đi!
Thằng Quyên nhảy tưng lên, rồi cắm cổ chạy thẳng buồng, bẻ luôn hai quả. đưa hai quả
chuối cau chín vàng khoe với Bào. cười híp hai con mắt. Lần đầu tiên cúi đầu sát vào Bào,
xem Bào buộc quả chuối vào bẫy. Suy nghĩ thế nào, nó quay ra, lắc đầu:
– Chim không ăn chuối đâu!
– Nó ăn chớ cậu! Phải chim hát bội, chim sâu đâu, con chim này nó ăn sâu mà ăn chuối nữa cậu.
Tôi coi trâu, tôi thấy nó sà xuống vuờn chuối hoài.
Bỗng mẹ thằng Quyên nện guốc bước tới, nó trố mắt nhìn hai quả chuối cau, nó hét lên:
– Mày gạt con tao ăn cắp chuối hả?
Bào lui luôn mấy bước, nép mình vô tường, mặt lấm lét:
– Dạ thưa bà, con xin chuối chín làm mồi bắt chim cho cậu.
Chuối tao cúng thổ thần, chuối tiền chuối bạc, chuối chuối cho chim ăn. Mày trèo lên cây
bắt sống nó cho tao.
Mẹ thằng Quyên vừa chửi vừa nhìn quanh quất kiếm cây. Bào liệng cái bẫy, chạy mất…
Không còn cách nào hơn nữa, Bào quấn cây đầy mình, trèo sẵn lên cây từ sáng sớm. Nhánh
cây trứng cá mềm quằn xuống. Bào thụt vô, dựa lưng vào cành to. Thằng Quyên đứng dưới hét lên:
– Mày ra ngoài nhánh chớ!
Bào run quá, chân cứ thấy nhột, nhìn xuống thấy chóng mặt. Vòm trời cao vút. Một chấm đen
bay tới. con chim vàng. lượn mấy vòng, vừa cánh đáp, bỗng hốt hoảng vút lên kêu
choe chóe.
Mẹ con nó chạy vô nhà ló đầu ra: