ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MỸ THUẬT
1. Vị trí của môn Mỹ thuật trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Vai trò và tính chất
nổi bật của môn học .
- Vị trí của môn học:
+ Là môn học thuộc lĩnh vực GD Nghệ thuật với hai mạch nội dung: mĩ thuật tạo hình và mĩ
thuật ứng dụng
+ Nội dung môn học được mở rộng thêm phạm vi dạy học ở cấp THPT, từ lớp 1 đến 12
- Vai trò và tính chất nổi bật:
+ Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Mĩ thuật hình thành, phát triển ở học sinh năng
lực mĩ thuật, biểu hiện của năng lực thẩm mĩ trong lĩnh vực mĩ thuật; đồng thời góp phần cùng
các môn học và hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ
yếu và năng lực chung, đặc biệt là giáo dục ý thức kế thừa, phát huy văn hoá nghệ thuật dân tộc
phù hợp với sự phát triển của thời đại.
+ Chương trình môn Mĩ thuật được xây dựng theo cấu trúc tuyến tính và đồng tâm với hai mạch
nội dung Mĩ thuật tạo hình và Mĩ thuật ứng dụng; tạo cơ hội cho học sinh được trải nghiệm và
vận dụng mĩ thuật vào đời sống; giúp học sinh nhận thức được mối liên hệ giữa mĩ thuật với
văn hoá, xã hội, kết nối mĩ thuật với các môn học và hoạt động giáo dục khác; làm tiền đề cho
học sinh định hướng nghề nghiệp trong tương lai, cũng như chủ động tham gia các hoạt động
văn hoá nghệ thuật và đời sống xã hội.
+ Nội dung giáo dục mĩ thuật được phân chia theo hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản và
giai đoạn giáo dục định
hướng nghề nghiệp.
– Giai đoạn giáo dục cơ bản: Mĩ thuật là nội dung giáo dục bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 9. Chương
trình tạo cơ hội cho học sinh làm quen và trải nghiệm kiến thức mĩ thuật thông qua nhiều hình
thức hoạt động; hình thành, phát triển ở học sinh khả năng quan sát và cảm thụ nghệ thuật, nhận
thức và biểu đạt thế giới; khả năng cảm nhận và tìm hiểu, thể nghiệm các giá trị văn hoá, thẩm
mĩ trong đời sống và nghệ thuật.
– Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: ( 10-12) Mĩ thuật là môn học được lựa chọn theo
nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh. Nội dung giáo dục mĩ thuật được mở
rộng, phát triển kiến thức, kĩ năng mĩ thuật đã hình thành ở giai đoạn giáo dục cơ bản, tiếp cận
các nhóm ngành nghề liên quan đến nghệ thuật thị giác và có tính ứng dụng trong thực tiễn;
giúp học sinh phát triển tư duy độc lập, hả năng phản biện phân tích và sáng tạo nghệ thuật;
hiểu được vai trò và ứng dụng của mĩ thuật trong đời sống; tạo cơ sở cho học sinh được tìm
hiểu và có định hướng nghề nghiệp phù hợp với bản thân dựa trên nhu cầu thực tế, thích ứng
với xã hội.
Vừa bảo đảm trang bị học vấn cốt lõi ở giai đoạn GD cơ bản, vừa đảm bảo GD định
hướng nghề nghiệp cho HS
2. Vai trò và cơ hội của môn Mỹ thuật trong việc hình thành phẩm chất và năng lực chung,
trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018.
a) Hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu
Thông qua việc tổ chức các hoạt động thảo luận, thực hành, trải nghiệm, sáng tạo, giáo
viên giúp học sinh nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ về bản thân và thế giới xung quanh, tình yêu
nghệ thuật và cuộc sống; góp phần nâng cao nhận thức về tình yêu gia đình, quê hương, tình
thân ái giữa con người với con người, ý thức bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên và
không gian văn hóa, thẩm mĩ; trân trọng các sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật và sự sáng tạo của
nghệ sĩ; bồi dưỡng niềm tự hào về truyền thống văn hóa, nghệ thuật dân tộc, ý thức tôn trọng
sự đa dạng về văn hóa của các dân tộc. Đồng thời, rèn luyện cho học sinh đức chuyên cần, tính
trung thực, tình yêu lao động và ý thức trách nhiệm của bản thân trong học tập, làm việc và sử
dụng, bảo quản các đồ dùng, công cụ, thiết bị dạy học; kích thích hứng thú, khích lệ sự tự tin ở
học sinh trong học tập và tham gia các hoạt động nghệ thuật, góp phần xây dựng và phát triển
đời sống thẩm mĩ của cá nhân, cộng đồng.
b) Hình thành, phát triển các năng lực chung
– Trong dạy học môn Mĩ thuật, giáo viên tổ chức các hoạt động học tập, thực hành, trải
nghiệm, sáng tạo đa dạng với sự tham gia tích cực, chủ động của học sinh. Đặc biệt, cần khích
lệ học sinh sẵn sàng cho việc thực hành, sáng tạo và thảo luận nghệ thuật thông qua việc chuẩn
bị, xác lập mục tiêu học tập, thiết kế nội dung, kế hoạch, dự án học tập,... và thực hiện kế hoạch,
nhiệm vụ học tập của cá nhân, của nhóm, góp phần nâng cao năng lực tự chủ và tự học ở học
sinh.
– Dạy học Mĩ thuật có nhiều ưu thế hình thành và phát triển ở học sinh năng lực giao
tiếp và hợp tác. Thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học kết hợp lồng ghép thảo
luận và thực hành nghệ thuật, học sinh được thường xuyên tham gia trao đổi, chia sẻ về tác giả,
nghệ sĩ, về tác phẩm, sản phẩm mĩ thuật, di sản văn hóa nghệ thuật; giới thiệu kết quả học tập,
thực hành của cá nhân, bạn bè; bày tỏ cảm nhận, suy nghĩ, quan điểm về thẩm mĩ,... tạo nên kết
quả học tập của
nhóm dựa trên những cách thức hợp tác khác nhau.
– Giải quyết vấn đề và sáng tạo là đặc trưng trong học tập mĩ thuật. Trong tổ chức
hoạt động dạy học, giáo viên vận dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học thích hợp,
giúp học sinh có cơ hội vận dụng kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm của bản thân để tìm hiểu,
khám phá và thực hành, trải nghiệm, phát hiện yếu tố thẩm mĩ trong nghệ thuật và đời sống;
khích lệ học sinh đề xuất vấn đề, ý tưởng thẩm mĩ và lựa chọn giải pháp thể hiện; khuyến khích
học sinh tiếp tục đổi mới trong tiến trình học tập trên cơ sở nhận thức và tư duy phản biện thẩm
mĩ, góp phần hình thành, phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo ở học sinh.
3. Quy trình lựa chọn và xây dựng nội dụng dạy học một chủ đề Mĩ thuật theo chương trình
2018.
Bước 1. Lựa chọn chủ đề phù hợp.
Trước khi quyết định lựa chọn chủ đề nào để thực hiện, GV quan tâm tới:
1. Đặc điểm HS, vùng miền, đặc điểm tộc người.
Có những chủ đề phù hợp với đối tượng HS này nhưng có thể không, hoặc chưa phù
hợp với đối tượng HS khác. Chính vì thế, trong CT GDPT môn Mĩ thuật có gợi ý nhiều chủ đề
khác nhau của một lớp để GV lựa chọn DH cho phù hợp. Ví dụ: Với những chủ đề: Thiên nhiên,
Con người, Gia đình và Nhà trường đáp ứng yêu cầu cần đạt phần mĩ thuật tạo hình đối với HS
lớp 1 ở vùng nông thôn, chủ đề Thiên nhiên sẽ có nhiều điều kiện hơn HS ở thành phố. Bởi
không gian sống đối với HS vùng nông thôn thoáng đãng hơn, cây cỏ hoa lá nhiều hơn sẽ tạo
nên những cảm xúc về thiên nhiên mạnh mẽ hơn không gian sống ở vùng đô thị chật hẹp.
2. Thời điểm tổ chức DH chủ đề.
Ở những thời điểm khác nhau, mỗi chủ đề gợi nên những cảm xúc khác nhau, hoặc là
gần gũi, hoặc là không gắn kết với không khí chung. Việc liên kết chủ đề học tập với không
gian thời gian, với không khí chung có thể tạo ra sự kết nối quan trọng, tạo ra mối liên hệ liên
quan rất nhiều tới kết quả bài tập. Ví dụ: HS được học tập chủ đề “Nhà trường” vào dịp 20/11
sẽ tạo sự kết nối với các hoạt động khác đang diễn ra chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam. Tác
động của không gian và khí thế chung trong trường học có ảnh hưởng tới tâm lý học tập của
HS khi thực hiện các bài tập có chủ đề “Nhà trường”.
3. Điều kiện để có thể tiến hành học tập chủ đề
Với những HS có nhận thức tốt, học tập và sinh sống trong môi trường được tiếp cận
với nhiều nguồn thông tin, các em sẽ xử lý được những chủ đề khó trong CT. Ngược lại, có
những học sinh chưa đủ khả năng và thông tin để xử lý các chủ đề khó thì GV nên cân nhắc,
lựa chọn chủ đề thích hợp và gần gũi. Ví dụ: Với HS lớp 4, khi phải lựa chọn giữa 2 chủ đề
“Quê hương” và chủ đề “Đất nước” các em sẽ khá khó khăn vì hai khái niệm này không thật sự
rõ ràng đối với yêu cầu về mặt tạo hình khi yêu cầu thể hiện là đối tượng là HS lớp 4. Nhưng
có thể các em HS ở vùng có điều kiện tiếp xúc với thông tin xã hội nhiều hơn, các em có thể
nhận diện được chủ đề này ở nhiều khía cạnh khác nhau và thực hiện được.
Bước 2. Khai thác chủ đề.
Để diễn tả được chủ đề trong các bài tập tạo hình của HS, GV hướng dẫn các em liên
tưởng đến những nội dung cụ thể, gần gũi với HS liên quan đến chủ đề lớn đã được gợi ý trong
CT. Sử dụng sơ đồ tư duy để khai thác chủ đề là một cách làm hiệu quả.
Bước 3. Xác định mục tiêu, yêu cầu cần đạt
Dựa vào yêu cầu cần đạt đối với mỗi khối lớp trong CT GDPT, GV lựa chọn mục tiêu
và yêu cầu cần đạt cho chủ đề.
Ví dụ: Mục tiêu DH chủ đề “Thiên nhiên” đối với lớp 1 ở những tuần đầu tiên:
- HS có hứng thú với giờ học, với dụng cụ học tạo hình mĩ thuật và sẵn sàng tham gia
các hoạt động học tập.
- HS nhận biết được yếu tố đường nét và biết cách tạo ra các đường nét có ý nghĩa trong
các bài tập tạo hình. - HS phân biệt và gọi đúng tên của một số màu; biết cách sử dụng màu một
cách hợp lý khi thực hành sáng tạo nên sản phẩm mĩ thuật.
Bước 4. Xác định thời gian để hoàn thành bài tập theo chủ đề.
Một chủ đề có thể được thực hiện trong một tiết và có thể nhiều hơn một tiết học tùy
mục đích yêu cầu đặt ra.
Bước 5. Thiết kế các hoạt động, các cách thức tạo hình theo chủ đề.
Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý, khả năng của HS, GV thiết kế các hoạt
động học tập vừa sức, phù hợp. Tùy điều kiện cơ sở vật chất từng trường, GV có thể lựa chọn
giải pháp tạo hình vừa phát huy trí tưởng tượng, óc sáng tạo, khả năng tạo hình của HS vừa
đảm bảo các yêu cầu cần đạt trong CT giáo dục đã đặt ra. Khi thiết kế các hoạt động tổ chức
DH môn Mĩ thuật, GV lưu ý:
- Không nhất thiết phải dồn ép các hoạt động để đạt được các mục tiêu về KT KN ngay
khi bắt đầu bài học. Đầu tiên, hãy thu hút, tạo sự hấp dẫn cho HS với giờ học bằng các hoạt
động khởi động, dẫn dắt như: Trò chơi, đố vui hoặc một vài hình thức thi vui vẻ...
– GV phải định hình được trong quá trình thiết kế: Hoạt động nào hoặc chuỗi các hoạt
động nào sẽ giúp HS có được nhận thức ở tầng bậc nào: Biết/hiểu/vận dụng/phân tích/đánh
giá/sáng tạo.
– GV cũng phải đưa vào các hoạt động các ý đồ nhằm hình thành và phát triển PC và
NL cụ thể cho HS. Đặc biệt là các NL đặc thù môn Mĩ thuật.
4. Quy trình lựa chọn, sử dụng phương pháp, kỹ thuật dạy học của bài dạy trong môn mỹ
thuật
Bước 1: Xác định mục tiêu, nội dung, các hoạt động cụ thể của bài dạy.
GV cần nắm rõ mục tiêu, nội dung và các hoạt động của bài dạy từ đó đề ra các PP,
KT có thể sử dụng để đạt được mục tiêu triệt để nhất có thể.
Bước 2: Lựa chọn phương pháp, kỹ thuật dạy học phù hợp với từng hoạt động của chủ đề/ bài
dạy.
Mỗi hoạt động sẽ có những PP, KT DH phù hợp nhằm đạt được các mục tiêu từ đầu
đã đề ra, do đó, GV cần lựa chọn PP, KT DH cụ thể, GV cần chú ý: Tổ chức DH chủ đề này
nên dạy theo phương án nào? Đi theo cách thức đó thì nên sử dụng những PP DH cụ thể nào?
Với mỗi hoạt động cụ thể thì nên áp dụng kỹ thuật DH nào để có thể đạt hiệu quả nhất?
* Khi thực hiện hoạt động khởi động GV có thể:
- Sử dụng PP thuyết trình để giao nhiệm vụ, giải thích nhiệm vụ và yêu cầu HS thực hiện.
- Sử dụng PP trò chơi để thu hút HS vào bài học. Khi sử dụng PP trò chơi, cần chú ý:
+ Hình thức chơi phải phù hợp với tâm lý lứa tuổi;
+ Nội dung trò chơi phải gần gũi với chủ đề học tập;
+ Cách tổ chức phải đảm bảo an toàn cho mỗi trẻ tham gia;
+ Thông qua trò chơi, hình thành cho HS những KN, những NL cụ thể.
* Đối với hoạt động tạo hình GV có thể
- Sử dụng PP DH hợp tác theo nhóm nhỏ áp dụng với những nhiệm vụ cần có sự tham
gia của các HS khác nhau; các tình tiết cần tranh luận và đưa ra quyết
định chung về một vấn đề.
- Sử dụng hình thức học tập cá nhân hóa áp dụng với những nhiệm vụ cần có sự đào
sâu nghiên cứu, tính toán, xem xét sự vật hiện tượng... tìm kiếm thông tin và làm nguyên liệu
để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chung tiếp theo.