
Đề tài “trở về” trong truyện
ngắn của Ivan Bunin, Ernest
Hemingway và Cao Hành Kiện

Cuộc trở về của Krebs trong Nhà của lính của Ernest Hemingway là sự ném về
với thực tế đã hoàn toàn thay đổi. Sau chiến tranh người lính về nhà, và tất cả hóa xa lạ.
Gọi thế hệ lạc lõng (lost generation) là vì thế. Krebs đã về thị trấn quê hương ở
Oklahoma trễ hơn tất thảy mọi người lính đã tham dự chiến tranh thời ấy. Anh trở về
quá ư là trễ, he came back much too late, sau khi những câu chuyện bịa đặt về chiến
tranh của những người về trước đã trở thành sự thật. Anh buộc cũng bịa đặt theo. Và vô
phương cứu chữa: anh buồn nôn. Krebs sống một mình với sự thật chiến tranh và tìm
cách đối chứng với thực tế. Và anh vô vọng: mọi chuyện đã đổi thay hay là mọi chuyện
đã đổi thay từ anh. Cảm giác buồn nôn của Krebs chạy suốt tác phẩm. Câu chuyện hiện
lên theo cuộc đối chứng giữa một bên là mình-đi-qua-chiến-tranh với bên kia là cuộc
sống sau chiến tranh. Hiện thực đã chọn con đường đi ngang qua nỗi cô đơn của một
người lính trở lại quê muộn màng là Krebs. Thấp thoáng đâu đó một Ernest Hemingway
trong kiểu nhân vật hóa thân.
Khó có thể nói rằng truyện ngắn Mua cần câu cho ông ngoại của Cao Hành Kiện
là một tự truyện theo cách hơi khiên cưỡng như đối với truyện ngắn Canh khuya của
Bunin. Nhưng cả hai có một điểm giống nhau là trở về quê cũ trong mộng – giấc mộng
của Bunin hiện lên trong không khí truyện còn giấc mộng của Cao Hành Kiện là không
khí và đồng thời là sự kiện khép mở, phát triển theo dòng chảy của cơn mơ giữa ban
ngày kiểu Freud mà cũng là của Jung. Vì thế, truyện mở ra nhiều cơ hội để Cao Hành
Kiện làm nhiều cuộc đối sánh thú vị: hôm nay – hôm qua, tôi – anh (cũng là tôi đó
nhưng phía khác). Một nỗi niềm đã hiện lên, thấm vào trong mạch truyện là vì thế.
Đề tài “trở về”, nhìn từ đây, mang một đặc trưng chuyển tải tâm trạng, nỗi niềm, và
đôi khi cả thái độ của người viết một cách kín đáo. Điều mà trên đây chúng tôi gọi là hiển
lộ và che giấu. Chúng ta có cảm giác như toàn bộ truyện đã mở ra một con đường ngang
qua nhau giữa thứ không gian quá khứ và hiện tại. Nhân vật luôn đi về trong hai thứ
không gian mà cũng là thời gian đó. Đẩy xa hơn ý tưởng chúng tôi vừa nêu thì chính hiện
tượng này, tức hiện tượng đi về giữa hai thứ không-thời gian hiện tại và quá khứ, đã tạo
thứ không khí chung của truyện viết theo đề tài “trở về” – không khí bàng bạc của tâm
trạng. Vì thế, chất “tự truyện” thật ám ảnh trong sáng tác và tiếp nhận.

4. Một điểm khác biệt chợt hiện ra ở đây: chất hiện thực trong truyện ngắn Nhà
của lính của Ernest Hemingway so với chất mộng ảo, hư thực trong hai truyện
ngắn Canh khuya của Bunin và Mua cần câu cho ông ngoại của Cao Hành Kiện.
Krebs từ chiến trường trở về, dù là quá muộn so với những người lính khác thì
anh cũng trở về với cõi thực, trong không khí gia đình. Cái lạc lõng nếu có là từ tâm
trạng của anh khi nỗi ám ảnh về cái chết và cách nhìn nhận những giá trị thực đã khác
xưa khiến anh nhìn nhận những đổi thay của hiện thực quê nhà dưới một màu sắc khác:
đẫm màu tâm trạng, và nhìn bản thân anh cũng thế. Anh bước thẳng từ chiến trường về
nhà và loanh quanh với phố, thơ thẩn với phường, lạc lõng và vô định. Tất cả nằm trọn
vẹn trong cõi thực. Những con người Krebs gặp lại là những con người bằng xương
bằng thịt, những mối quan hệ của Krebs với những con người ấy là những mối quan hệ
thực, đang diễn ra. Những trao đổi, khẳng định, từ chối, nài nỉ, yêu cầu… đều là những
tác động thực. Toàn bộ sự quan tâm của Ernest Hemingway ở đây là tâm trạng của
Krebs, là sự che giấu một điều gì đó sâu trong thế giới nội tâm riêng tư của nhân vật mà
tất cả hiện ra trong thế vô định của thái độ và tâm trạng. Krebs đã tồn tại như thế.
Còn con đường đi của nhân vật tôi trong Canh khuya của Bunin lại mang màu hư
thực của giấc mộng – đi trong giấc mộng hay là đi bằng giấc mộng. Bunin chọn bối cảnh
một đêm trăng khiến không khí truyện càng đậm màu mộng ảo. Nhân vật xưng tôi trong
truyện ngắn này không trở về mái nhà xưa mà trở về quê cũ một lần cho mãi mãi không
về. Theo ánh trăng, đi qua cây cầu đá, bắt gặp dòng sông và nhìn thấy chiếc tàu guồng;
từ chỗ cây cầu, nhìn thấy ngọn đồi phía trước và cái thị trấn đồi; thế là một kỷ niệm của
nụ hôn tay đầu tiên trong đêm hỏa hoạn trỗi dậy dẫn dắt nhân vật tìm về phố Cũ. “Mục
đích của tôi là muốn đến thăm cái phố Cũ. Tôi có thể đến đó bằng con đường khác, gần
hơn. Thế nhưng tôi lại rẽ vào những đường phố rộng rãi đầy vườn tược này, vì tôi muốn
ngó qua cái trường trung học ấy.” Đi vào phố Cũ, kỷ niệm tuổi học trò hiện ra, “ngồi
lên một bệ đá cạnh một ngôi nhà thật kín cổng cao tường”, nhân vật tôi nhớ về đêm hò
hẹn cũ. “Và đấy, trong một đêm như thể canh khuya ấy, khi cả thị trấn chỉ có một người
không ngủ thì em đã đợi tôi trong khu vườn nhà, một khu vườn đã chớm héo khô vào lúc
sắp sang thu”. Ngay nơi đây, trong khu vườn hẹn, ngồi bên nhau giữa đêm trăng, ngôi
sao xuất hiện như một nỗi ám ảnh mà mãi về sau này vẫn nguyên vẹn nỗi ám ảnh ấy.

“Khi nhìn sang trái, tôi thấy một con đường nhỏ mọc đầy cỏ khô chìm lấp dưới một rặng
táo khác của nhà ai đó, ló ra rất thấp một ngôi sao đơn độc màu xanh lá cây, một ngôi
sao leo lét với vẻ lãnh đạm nhưng lại trông chờ, một ngôi sao đang nói gì đó nhưng lại
chẳng nói thành lời. Thế nhưng cả khu vườn lẫn ngôi sao ấy tôi chỉ thấy thoáng qua, bởi
lẽ trên đời bây giờ chỉ còn bóng tối lờ mờ và cặp mắt em lấp lánh lóe sáng trong bóng
tối lờ mờ đó”(2).
Từ con phố Cũ, nhân vật tôi tưởng sẽ quay lại con đường đã qua nhưng lại thú
nhận một điều vờ quên lãng: sẽ đi tiếp theo lối ra khỏi thị trấn, “đi đến thị trấn của
những người đã chết”. Nàng đã hiện ra, ngôi mộ hiện ra, và ngôi sao hiện ra, khép cơn
mộng lại hay là làm bừng sáng giấc mơ thì cũng thế: “Còn phía sau tường, như một hạt
ngọc tuyệt vời, vẫn ló ra một ngôi sao không cao lắm, màu xanh lá cây, tuy vẫn rực rỡ
như ngôi sao trước, nhưng câm lặng và bất động”(3). Hóa ra toàn bộ cuộc về của nhân
vật tôi giữa canh khuya trong truyện ngắn của Bunin là hướng về ngôi sao câm lặng ấy.
Mua cần câu cho ông ngoại của Cao Hành Kiện cũng đi theo con đường mộng
mị. Không phải chỉ cái khép hờ của truyện chỉ ra cho chúng ta thấy điều đó mà cả bước
đi và những ngơ ngác của nhân vật tôi đã mở ra màu sắc mộng. Chúng ta, theo một
hướng nhìn nào đó, có thể cho rằng Cao Hành Kiện đã khai thác con đường đi của vô
thức – nhân vật chìm vào trong vô thức hiện ra thành mộng để nhà văn hiển lộ và che
giấu cái cảm thức thời thế của mình. Nhưng ở đây nhân vật của Cao Hành Kiện tìm về
ngôi nhà xưa, mang cây cần câu hiện đại về cho ông ngoại của thứ quá khứ cũ càng.
Cuộc tìm về vì thế là cuộc đi về giữa hai bờ hiện tại và quá khứ trong cõi hư thực; cái
cảm thức thời thế của tác giả có cơ hội thể hiện rõ trong màu sắc triết lý phương Đông
khi cái nhìn dịch biến và cái nhìn bể dâu đã có lúc gặp nhau.
Vì là con đường đi của ký ức tự mình đối sánh với những đổi thay hiện tại, và tất
cả được lồng trong cơn mộng mị nên nhân vật cứ trở đi trở lại những chốn quen, cứ mở
rộng dần ra trong cảm thức thời thế hay là thế thái nhân tình. Trước hết là cái hồ đã từng
hóa thành cái đầm hôi thối trong quá khứ, rồi theo lời ông ngoại kể con sông đã cạn bởi
cái hồ chứa nước mọc lên. Cây cầu đá bên cạnh hồ rồi con đường phía Nam hồ, rồi cái
sân nhà cũ có khắc hình Phước, Lộc, Thọ, Hỷ với cô bạn thời thơ ấu Tảo Oa, rồi miếu
Quan Đế nhưng nhân vật vẫn không tìm được ngôi nhà xưa. Thế là nhân vật của Cao

Hành Kiện tìm về ngoại ô. “Về bên con sông ngoại ô hồi nhỏ ông ngoại thường dẫn tôi
đến câu cá”, và “con sông đã khô cạn, giờ chỉ chảy ra đá… Lòng sông chỉ thấy toàn là
đá lớn long lốc bất động, như một bầy dê ngốc nghếch con nọ huých con kia, sợ người
ta đuổi chạy, cuối cùng thì chạy đến gò cát… Tiếng cát lạo xạo đang đe dọa sẽ chôn vùi
tất cả. Chúng đã chôn vùi mọi thứ bên hồ, và sẽ chôn vùi thành phố, chôn vùi cả ký ức
tuổi thơ của anh và tôi”(4). Rồi những cơn sóng cát từng đợt tràn về nhận chìm tất cả vào
hoang phế, kể cả Cổ lâu lan. Nơi dòng sông cát phủ trùm hoang phế ấy, nhân vật bới tìm
được con cá khô khốc tự bao giờ, và chợt bắt gặp mảnh tường nhà ngày cũ, người bạn
gái hiện ra nhưng khuôn mặt đã già nua với những nếp nhăn, và sói, và nhân vật của Cao
Hành Kiện sực tỉnh bước khỏi trận bóng đá truyền trực tiếp sáng nay giữa hai đội
Achentina và Cộng hòa Liên bang Đức. Hóa ra cơn mơ trở về ngôi nhà cũ được dựng
dậy từ một cơn thiếp ngủ khi nhân vật đang theo dõi trận bóng đá có Maradona. Không
biết điều gì đã thúc đẩy cuộc trở về này nhưng ấn tượng về một nỗi ám ảnh và tâm trạng
bi thiết trước cuộc bể dâu thì có thật. Đó là điểm hoàn toàn khác giữa truyện ngắn Canh
khuya của Bunin với truyện ngắn Mua cần câu cho ông ngoại của Cao Hành Kiện.
Cả hai nhà văn đều như có tâm sự về đất nước và thời cuộc; cả hai như chuyển tâm
sự ấy vào trong hai truyện ngắn nêu trên; mặc dù nhân vật tôi của cả hai truyện ngắn đều
có con đường đi giống nhau: vào thị trấn, đi qua cây cầu đá rồi ra vùng ngoại ô, và ở đó
họ tìm thấy điều mình muốn tìm. Nhưng với Canh khuya thì mọi thứ như không thay đổi,
còn Mua cần câu cho ông ngoại thì tất cả đã bể dâu, nhân vật của Cao Hành Kiện như lạc
giữa chốn quê khiến chúng ta nhớ nỗi thê thiết trong câu thơ của Nguyễn Khuyến:
Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào

