Điều hoà thân nhiệt
ở Thú (Mamalia)
Thú là nhóm động vật máu nóng (đẳng nhiệt),
có mức độ trao đổi chất cao và khả năng điều
hoà thân nhiệt lớn, nhiệt đ cơ thể tương đối ổn
định. Chỉ ở một số ít loài nhiệt độ cơ thể dao
động trong này, ở nhóm thú ngủ đông, thân
nhiệt thay đổi theo mùa.
Thú và chim là những động vật nội nhiệt
(endothermic), nghĩa thân nhiệt được duy
trì nhờ sự trao đổi chất của cơ thể. Hầu hết các
loài thú có thân nhiệt 36 - 38oC. Thân nhiệt
được duy trì kổn định là do có sự cân bằng
nhiệt được thực hiện bằng hai phương thức
chính:
+ Một là sự điều hoà vật lý bao gồm các hiện
tượng tán nhiệt như toả nhiệt, dẫn nhiệt, bốc hơi
nước qua phổi và tiết mồ hôi qua da, giãn các
mạch máu ngoại vi hoặcc hiện tượng chống
lại sự tán nhiệt, như co các mạch máu ngoại vi
hoặc nhờ sự cách nhiệt của bộ lông, lớp m
dưới da.
+ Hai là sự điều hoà hoá học, là quá trình tăng
mức sản sinh ra nhiệt của cơ thể do tăng quá
trình chuyển hoá hoặc do hoạt động của cơ như
hoạt động tích cực hơn hoặc run.
- Sự phát triển và hoàn chỉnh cơ chế điều hoà
thân nhiệt của thú là do hthần kinh của thú có
tổ chức cao, đảm bảo cho con vật thành lp
nhanh các phản xạ có điều kiện, phản ứng mau
lẹ với những biến đổi của điều kiện môi trường
và do s hình thành trung tâm điều hoà nhiệt
trên não bộ thú. Đẻ con và nuôi con bằng sữa,
làm rút ngắn thời gian phát triển phôi thai và
tăng cường sức sống của thú non, cũng giúp
cho thú sng được trong những điều kiện môi
trường khắc nghiệt. Ngoài ra tập tính hoạt động
sống của thú có ý nghĩa rất lớn trong điều hoà
thân nhiệt của chúng.
Vì vy, thú phân bố rộng khắp trên trái đất, từ
vùng xích đạo đến vùng cc, trong biển, hoang
mạc cằn cổi, sa mạc nóng bỏng, trên núi cao.
- Thú có khả năng thích nghi với môi trường
nóng. Điều kiện sống ở môi trường hoang mạc
rất khắc nghiệt. Nhiệt độ ban ngày quá nóng,
ban đêm mát hơn, thiếu nước, ít cây che phủ.
Song nhiều loài thú vẫn sống được vì chúng
những thích nghi với môi trường nóng. Thú nhỏ
hoang mạc là những động vật sống trong hang.
Nhiệt độ trong hang thấp hơn bên ngoài, chống
được sự mất nước của cơ thể qua bốc hơi. Thú
nhỏ hoang mạc lấy nước qua thức ăn, uống
nước nếu có điều kiện, quá trình ôxy hoá
thức ăn sinh ra ớc, nước tiu đậm đặc,
phân khô... Thú lớn không thể sống trong
hang. Cơ chế chống mất nước và đunng cơ
thể khi ở ngoài trời ở thú khá hoàn chỉnh. Bộ
lông màu tái nhợt, bóng láng phản xạ được ánh
sáng mặt trời. Bộ lông cách nhiệt toả được sức
nóng của tia năng mặt trời ra ngoài. Khi nhiệt độ
cơ thể bị đung nóng, thú tiết mhôi và thở gấp.
Sự bốc hơi nước của mồ hôi và hơi thở sẽ làm
giảm nhiệt độ cơ thể xuống mức cần thiết. Mặt
khác, nước lại được giữ lại trong cơ thể: Thủ
thải nước tiểu đậm đặc, phân khô, hay sự ôxy
hoá lớp mỡ dưới da hoặc bướu tạo ra nước cần
thiết cho cơ th của thú. Chính vì vy thú móng
guốc lớn vùng sa mạc rất ít uống nước.
- Thú cũng có khả năng thích nghi với môi
trường lạnh: Trong môi trường lạnh, các loài thú
có hai cơ chế chyếu để giữ nhiệt cơ thể ổn
định:
+ Giảm sự toả nhiệt của cơ thể và tăng cường
sản sinh nhiệt.
+ Thú vùng lạnh có bộ lông dày vào mùa đông.
Những phần thò ra ngoài như cẳng chân, đuôi,
tai, mũi được sưởi ấm bằng dòng máu động
mạch. Nhờ đó nhiệt độ ở những phần này của
cơ thể không xuống đến điểm đóng băng.
Trong điều kiện lạnh, Thú sản sinh ra nhiệt hơn
bằng sự hoạt động tích cực hơn hoặc run.
Những thú nhỏ có bộ lông bảo vệ cơ thể chúng