Điều trị và bệnh bóc tách động mạch chủ
Nguy cơ nhồi u cơ tim
Khoảng 1 2% các trường hợp bóc tách ĐMC đoạn gần gây đè ép vào l
ĐMV và gây nhồi máu cơ tim cấp. Điều đáng lo ngại nhất là khi làm điện
m đồ thấy hình nh nhồi máu cơ tim thì bệnh bóc tách ĐMCthể b bỏ
qua. Khi đánh giá các bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp tính, đặc biệt là nhi
máu cơ tim thành dưới, cần phải xem xét thận trọng để loại trừ bóc tách
ĐMC trước khi sử dụng thuốc tiêu sợi huyết hay thuốc chống đông.
Các biến chứng khác:
Đó là thiếu máu thận hay nhồi máu thận thực sự và thường gây tăng huyết
áp trm trọng, suy thận cấp; Thiếu máu và nhồi máu mạc treo ruột gặp 3
5% các trường hợp bóc tách ĐMC bụng đe dọa đến tính mạng người bệnh.
Thêm vào đó, khoảng 12% bóc tách ĐMC có thể lan đến động mạch chậu và
làm mất mạch đùi, thiếu máu chi dưới cấp tính.
Các bệnh nhân bóc tách ĐMC thường có tràn dịch màng phi ti mức độ
nhẹ. Dịch có thể tăng lên thứ phát do phản ng viêm xung quanh ĐMC b
bóc tách, nhưng trong một số trường hợp bị tràn dịch màng phổi nhiều do
tràn máu màng phổi, kết quả của sự nứt vỡ thoáng qua của ĐMC xuống vào
khoang ng phổi. Một số triệu chứng ít gặp khác là khàn giọng, tắc nghẽn
đường hấp trên, vỡ vào khí phế quản gây ho ra u, khó nuốt, nôn ra
máu do vvào thực quản, hội chứng tĩnh mạch chủ trên, một khối ở cổ đập
theo nhịp tim, hội chứng Horner và sốt không rõ nguyên nhân. Các triệu
chứng hiếm gặp khác là tiếng thổi liên tục do bóc tách ĐMC vỡ vào nhĩ
phải, thất phải hay nhĩ trái gây suy tim ứ huyết thứ pt.
Có nhiu tình trạng bệnh lý tương tnhư bóc tách ĐMC bao gồm thiếu máu
hay nhi máu cơ tim, viêm màng ngoài tim, thuyên tắc động mạch phổi, hở
van ĐMC cấp tính không do bóc tách ĐMC, phình ĐMC ngực hay bụng
không có kèm theo bóc tách hay u trung tht.
Xử trí bóc tách ĐMC
Điều trị nội khoa được chỉ định cho các bệnh nhân bị bóc tách ĐMC đoạn xa
ổn định, không có các biến chứng cấp tính do bóc tách và tỷ lệ sng còn sau
30 ngày có thđạt tới 92%. Tất cảc bệnh nhân nghi ngờ bị bóc tách ĐMC
cấp tính cần được điều trị tại khoa điều trị tim mạch tích cực và cn được
theo dõi huyết áp, ổn định tình trng huyết động, theo dõi nhịp tim và nước
tiu. Nếu bệnh nhân bị tụt huyết áp hoặc suy tim ứ huyết thì cn theo dõi
áp lực tĩnh mạch trung tâm, áp lực mao mạch phổi bít và cung lượng tim.
Bệnh nhân nghi ngờ bóc tách ĐMC bị tụt huyết áp, có thể vì mất khối lượng
tuần hoàn do tràn máu màng ngoài tim gây ép tim cấp hoặc vỡ ĐMC. Trước
khi bắt đầu điu trị tích cực tụt huyết áp, cần cảnh giác với hiện tượng giả tụt
huyết áp do mạch máu của bên tay đo huyết áp bị ảnh hưởng bởi lòng gi
của ĐMC bị bóc tách.
Điều trị nội khoa ngày nay là liệu pháp đầu tiên cho tất cả các bệnh nhân b
bóc tách ĐMC là liệu pháp điều trlâu dài cho các bnh nhân bị bóc tách
ĐMC đoạn xa.
Phẫu thuật được thực hiện khi nào?
Phu thuật (hay can thiệp qua da) cần phải được tiến hành cho các bệnh
nhân điều trị nội khoa thất bại như có biểu hiện của dọa vỡ hay vỡ ĐMC,
bóc tách tiến triển gây ảnh hưởng đến các quan sống, kng kiểm soát
được cm giác đau bằng thuốc, bóc tách ĐMC đoạn xa tiến triển bóc tách
ngược đến ĐMC lên. Thủ thuật ngoại khoa đầu tiên để điều trị bóc tách
ĐMC là thủ thuật mở cửa sổ làm thông gia lòng thật và lòng giả ở phía xa,
do vậy làm giảm áp lực trong lòng giả. Hin nay kỹ thuật này vẫn còn được
sử dụng cho một số bệnh nhân được lựa chọn bị bóc tách ĐMC xuống để
làm gim thiếu máu chi, thận hay mạc treo ruột.
Phu thụât điều trị triệt để được tiến hành vào đầu những m 50 của thế k
trước. Mục đích là ct bỏ lớp nội mạc bị rách, bịt lại lòng giả bằng cách khâu
vào bờ ĐMC, khôi phục li ĐMC trực tiếp hoặc thay đoạn ĐMC bằng mảnh
ghép động mạch nhân tạo.
Can thip mạch máu qua da
Một trong những kỹ thuật mới có nhiều trin vọng là can thiệp mạch máu
qua da, điều trị cho các bệnh nhân bị bóc tách ĐMC nguy cơ cao. Thứ
nhất là dùng bóng để mở cửa sổ ở lớp áo trong phía xa đoạn ĐMC bị bóc
tách giúp làm gim áp lực trong lòng givà giảm kích thước của lòng giả.
Kỹ thuật thứ hai là đặt stent vào các nhánh động mạch bị ảnh hưởng bởi bóc
tách.
Đặt mnh ghép stent ĐMC qua da đang được nghiên cu và có nhiu triển
vọng thay thế phẫu thuật sửa chữa ĐMC. Các nhà khoa học hy vọng rằng k
thuật này sẽ làm gim tlệ biến chứng và tỷ lệ tử vong do bóc tách ĐMC và
làm gim nguy cơ hình thành phình ĐMC sau bóc tách