Đột tử
Mới thấy đó đã chết đó” là cách i của nhiều người về đột tử, một
cái chết bất ngờ đã cướp đi sinh mạng của không ít người trong thời gian
gần đây.
Ông N.M.H. 49 tuổi, giờ tan sđi đánh tennis cùng bạn , sau đó về
nhà nghngơi. Tắm rửa xong ông ra phòng khách ngi đọc báo, sau đó n
45 phút vvào u ông ăn m thì phát hin ông đã nm bất động tbao
giờ. Người nhà gọi ngay xe cứu thương đưa ông vào bệnh viện nhưng những
nlực của nhân viên y tế đã không cứu được ông H.. Trưng hợp ông H.
được gọi là đột tử.
Đột tử ngày càng nhiu
Ngày nay đột tử xuất hiện ngày càng nhiu ở người trẻ tuổi. Một trong
những nguyên nhân thường gây đột tử nhất do tim. Đột tử do tim thường
không có cnh báo trước và nguyên nhân do bệnh tim có từ trước. Trong hu
hết các trường hợp, đột tử do tim là do nhồi máu cơ tim, ri loạn nhịp tim
như nhịp nhanh thất hay rung thất. Sự khởi phát của nhịp nhanh thất hoặc
rung thất nhanh chóng làm tim ngừng đập thường sđưa đến tử vong nếu
không được cấp cứu kịp thời.
Sơ cứu cho người đột tử
Khi có người ngưng tim, cần nhanh chóng gọi ngay trung m cấp cu
gần nhất cứu bằng cách xoa bóp tim ngoài lồng ngực, đồng thời i
thổi ngạt cho bệnh nhân, cách thực hiện như sau:
Gót bàn tay thun đặt trên xương ức bệnh nhân, bàn tay còn lại đặt lên
trên tay thuận. Tần snhấn khoảng 100 lần/phút. Biên độ nhấn khoảng 4-
5cm đối với người lớn và xen k30 lần nhấn ngực - hai ln hấp nhân
tạo.
Hầu hết bệnh nhân đột tử do tim đã bị nhồi u cơ tim trước đó nhiều
tuần, nhiu tháng, thậm cnhiều m trước đó mà bệnh nhân không biết,
hay đã biết và được điều trị đàng hoàng.
Nếu tổn thương ít thì cơ tim thể lành li sau một thời gian, nhưng
thường để li một vết sẹo vĩnh viễn. Phần sẹo này của tim thể trở nên
không ổn định điện-skhông ổn định điện này thtạo ra những rối
lon nhịp tim đe dọa tính mạng bệnh nhân. Những rối loạn nhịp y thường
xảy ra đột ngột, không hề triu chứng báo trước và bnh nhân có thể b
ngưng tim mặc dù đã được điều tr đúng theo hướng dẫn của bác sĩ.
Nguy cơ đột tử sau đau tim như thế nào?
Nhìn chung nguy cơ i hạn của tử vong sau đau tim trên một người
đã được điều trị n định một tháng hoặc hơn khoảng 1-2% mỗi năm sau
đó. Tuy nhiên, đối với một sngười nguy cao hơn đáng kể. Nguy cơ cao
nhất khoảng 20% xảy ra những người từng bngưng tim nhưng đã được
cứu sống.
Nguy cơ tương đối cao những bệnh nhân đã bnhồi máu cơ tim diện
rộng để lại sẹo trên tim lớn. Một trong những phương pháp đánh giá tốt
sẹo này siêu âm xem chức ng tống máu của tim được gọi là phân suất
tống máu, bình thường từ 50% trở lên. Sẹo càng lớn pn suất tống u
càng m, nếu trên 40% t nguy cơ tử vong ít hơn, nếu dưới 30% thì nguy
cao hơn nhiều.
Làm thế nào để giảm nguy cơ đột tử sau đau tim?
Nguy đột tử sau đau tim thđược làm gim đáng kể nhờ tuân
thchỉ dẫn theo điều trị của bác sĩ là dùng thuốc điu trị ức chế bêta ức
chế men chuyển, cũng như thuốc statin. Các thuốc trên làm giảm nguy cơ
đột t nhờ làm gim hội phát triển suy tim đau tim i phát. Nếu bệnh
nhân thuộc diện nguy cơ cao mặc dù đã được điều trbằng thuốc th
được xem xét để cấy một máy phá rung.
Có ththay đổi yếu tố nguy cơ
nhng yếu tố nguy của bệnh động mạch vành mà ta không thay
đổi được (tuổi, giới tính, tiền sgia đình), nhưng cũng có những yếu tố nguy
có thể thay đổi được như:
* Hút thuốc , m tăng nguy cơ mắc bệnh động mạch vành của bạn
tăng lên gấp hai lần.
* Lối sống ít vận động: nhng người không luyn tập thể dục thường
xuyên s tuổi thọ thấp n những người luyện tập thường xuyên mi
ngày trên 30 phút.
* ng huyết áp: người bệnh ng huyết áp, thành mạch máu
thường bị vữa nên rt m đàn hi. Do đó để tống máu đi tim phải tốn
công nhiu n. Hậu quả tim sẽ dày n cứng n, scố gắng liên
tục sẽ làm tim suy yếu. Do áp lực lên thành động mạch tăng cùng với s
vữa, mạch máu dễ b vỡ làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim.
* Tiu đưng: theo một nghiên cu, n 65% ngưi đái tháo đường
b tvong vì bnh tim mạch.