DỰ PHÒNG VÀ CHĂM SÓC LOÉT TỲ ĐÈ CHO NGƯỜI BỆNH
MỤC TIÊU
1. Km nhận định được dấu hiệu các mức đlt tỳ đè (CNL 1.1; 2.1; 3.1;
4.1; 4.3).
2. Sử dụng được thang đo Braden để đánh giá mức độ nguy loét tđè của
người bệnh (CNL 1.1; 2.1; 3.1; 4.1; 4.3).
3. Thực hiện chăm sóc loét tỳ đè độ I, II cho người bệnh theo đúng quy trình kỹ
thuật an toàn (CNL 2.3; 2.4; 3.2; 4.2; 4.4; 4.5; 4.6; 4.7; 4.9; 5.2; 5.3; 6.1;
6.2; 6.3; 8.2; 8.3; 16.3, 20.2; 20.4; 25.2).
4. Hướng dẫn được cho người bệnh gia đình người bệnh các biện pháp dự
phòng loét tỳ đè (CNL 4.6; 4.9; 13.1; 14.1; 14.2; 14.3; 14.5).
NỘI DUNG
1. ĐỊNH NGHĨA
Loét tỳ đè một loại tổn thương hoại tử da và tổ chức giữa vùng xương với
vật có nền cứng, là hậu quả của quá trình bị tỳ đè kéo dài gây thiếu máu nuôi tổ chức
và chết tế bào.
2. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY LOÉT TỲ ĐÈ
2.1. Áp lực
Khi được phân bố không đều, áp lực thể trở lên lớn hơn áp lực bình thường
mao mạch (32 mmHg). Áp lực càng lớn và thời gian càng lâu thì tình trạng loét tỳ
đè sẽ càng tiến triển. Bất kvật cứng như giường, ghế đều tạo áp lực lên da. Khi
người bệnh nằm hay ngồi, trọng lực tăng lên trên các vùng xương nhô ra.
Bình thường, một người dịch chuyển trọng lượng cơ thể một cách vô ý thức để
ngăn ngừa sự tắc nghẽn của mao mạch do áp lực bị tăng. Mọi người đều bị hay
cảm giác bị châm chích ở một vùng mà lưu lượng máu đến bị ngăn cản do tỳ đè.
Tuy nhiên, những người không cảm giác, sự đè nén bị tăng hay không
thể tự xoay trở (người bệnh bị liệt nửa người, hôn mê…) nguy cao dẫn đến
loét tỳ đè.
2.2. Tình trạng tri giác
Khi người bệnh bị mơ, hôn mê hay sử dụng các loại thuốc làm thay đổi quá
trình nhận thức bình thường, họ không thể tự xoay trở. Do vậy, cần phải được phòng
ngừa loét. Những thay đổi về tình trạng tri giác cũng thể góp phần làm bài tiết
không tự chủ thiếu khả năng tự chăm sóc, điều này càng làm tăng nguy hình
thành loét.
2.3. Sự ẩm ướt
Sự ẩm ướt có thể làm cho da dễ bị tồn thương. Da sẽ trở lên mềm khi được tắm
rửa liên tục, m tăng tính nhạy cảm của da với sự tổn thương nhiễm trùng. Da
tiếp xúc liên tục với sự ẩm ướt sẽ dễ bị tổn thương. Sự bài tiết không tự chủ thể
làm người bệnh nằm trên nước tiểu hay phân. Sự toát mồ hôi hay thiếu sự khô ráo
sau khi vệ sinh, đặc biệt trong các nếp gấp da, thể tăng sự ẩm ướt làm tăng sự
phát triển của vi nấm.
2.4. Sự cọ sát, trầy xước
Sự cọ sát, trầy xước xảy ra khi hai bề mặt cọ vào nhau. Khi da cọ sát vào một
bề mặt cứng, như một cái giường nhăn nheo, thể gây một vết trầy xước nhỏ, làm
tăng khả năng hình thành loét. Sự bôi trơn da và sự chăm sóc đầy đủ khi nâng đỡ, di
chuyển và giữ vệ sinh da cho người bệnh có thể giới hạn tác nhân gây cọ xát.
2.5. Dinh dưỡng và chuyển hóa
Tình trạng dinh dưỡng bị suy giảm làm tăng nguy tiến triển loét tỳ.
những người bệnh mà tình trạng dinh dưỡng bị suy yếu các mao mạch trở lên dễ
vỡ, khi chúng vỡ thì lượng máu đến da có thể bị suy giảm. Những người bệnh bị suy
dinh dưỡng, protein huyết tương bị giảm và chức năng miễn dịch cũng bị giảm. Việc
mất mô và khối lượng dưới da có thể tác động đến lớp bảo vệ giữa da và xương, làm
tăng nguy cơ hình thành vết loét.
2.6. Bệnh lý
Tình trạng thiếu oxy cục bộ do bệnh động mạch hoặc tình trạng bất thường của
tĩnh mạch, bệnh đái đường, ung thư, nhiễm trùng, thiếu máu và sốt cao là các yếu tố
có nguy cơ dẫn đến loét tỳ đè.
2.7. Tuổi
Với người già trên 70 tuổi, da trở nên mong manh, kém đàn hồi, sức đề kháng
của da kém nên có nguy cơ bị loét cao.
2.8. Các yếu tố khác: giảm huyết áp tâm trương, hút thuốc lá, béo phì, bệnh thấp
khớp, bệnh Alzheimer hay Parkinson…
3. CÁC MỨC ĐỘ CỦA LOÉT TỲ ĐÈ
Tình trạng loét tỳ đè tùy thuộc vào độ sâu, kích thước và mức độ tổn thương
trầm trọng đối với các mô mà được chia thành 4 độ:
Độ 1: Vết loét hiện diện dưới dạng tử ban (đỏ) trên vùng da, nhô xương hay
vùng bị đè. Hầu hết độ 1 của loét ép thể mất đi nếu không còn sự tỳ đè. thể
khó nhận định độ 1 đối với những người da sẫm màu.
Độ 2: Vết loét trên bề mặt hiện diện như một vết trầy, hố nông hay
phồng giộp. Da thể bị mất phần biểu bì, hay cả phần mỡ. Các vết phồng
giộp da thường gây cảm giác đau.
Độ 3: Vết hoại tử xuất hiện dưới dạng toàn bộ bề dày của da hoại tử liên
quan đến sự tổn thương hay mất dưới da, thể mở rộng xuống phần dưới
nhưng không sâu đến phần cân. Trên lâm sàng, như một hố sâu hiện diện
hoại tử. Loét độ 3 có thể cần nhiều tháng mới lành được.
Độ 4: Vết loét mất toàn bộ bề dày của da sphá hủy rộng n,
hoại tử hay tổn thương phần cơ, xương hay các cấu trúc nâng đỡ (gân hay bao
khớp); nó có thể có sự ăn mòn hay các đường rò. Phải mất hàng tháng, hàng năm vết
loét mới có thể lành.
Giai đon 1
Giai đon 2
Giai đon 3
Giai đon 4
Hình 1. Các mức độ của loét tỳ đè
4. CÁC VỊ TRÍ DỄ BỊ LOÉT TỲ ĐÈ
4.1. Trường hợp bệnh nhân nằm ngửa
Nếu người bệnh nằm ngửa kéo dài không người chăm sóc chống loét
chu đáo thì các vị trí sau đây dễ bị loét ép:
Vùng chẩm
Vùng xương bả vai
Khuỷu tay
Hai gai chậu sau trên
Xương cùng, cụt
Ụ ngồi
Gót chân.
Hình 2. Những vị trí loét ép ở tư thế nằm ngửa
4.2. Trường hợp người bệnh nằm sấp
Nếu người bệnh vì một lý do o đó không thể nằm ngửa được mà phải nằm sp
i ny thì những ng d b loét ép là:
Vùng đầu
Khuỷu tay
Vùng cằm
Vùng ngực
Vùng gai chậu trước trên
Vùng đầu gối
Những ngón chân.
Hình 3. Những vị trí loét ép ở tư thế nằm sấp
4.3. Trường hợp người bệnh nằm nghiêng
Nếu người bệnh nằm nghiêng kéo dài thì các vị trí thường bị loét ép là:
Tai
Khuỷu tay Mông Gót chân
Đầu
Cằm
Ngực Đầu gối
Đầu ngón chân
Gai chậu
trước trên
Chẩm
Bả vai
Khuỷu tay
Đầu ngón chân
Xương bả vai
Khuỷu tay
Hông
Đầu gối
Mắt cá chân
Gót chân.
Hình 4. Những vị trí loét ép ở tư thế nằm nghiêng
4.4. Trường hợp người bệnh suy hô hấp phải ngồi kéo dài
Đầu
Vai
Xương cùng
Ụ ngồi
Gót chân
Hình 5. Những vị trí loét ép ở tư thế ngồi
4.5. Ở các bệnh nhân béo phì
Dưới ngực
Dưới mông
Nếp gấp trên da bụng
Mắt cá chân
Gót chân
Hông
Khuỷu tay Bả vai
Tai
Mặt ngoài của khớp gối
Vai
Xương
cùng cụt
Gót chân
Mặt trong của khớp gối
Đầu
Ụ ngồi