
Dụ tôn thuận vương trịnh
giang ( 1729 – 1740)

Trịnh Giang là con cả Trịnh Cương, khi đang còn làm Thế tử, phó
của Giang là Nguyễn Công Hãng đã dân một sớ nhận xét rằng. Giang
là người ươn hèn, không thể gánh vác được ngôi chúa, Trịnh Cương
đột ngột mất, Trịnh Giang với tư cách thế tử lên nối ngôi chúa.
Tháng 4 năm Canh Tuất ( 1730), Giang tự phong là Nguyên soái,
thống quốc chính Uy Nam vương. Sau khi lên ngôi, Trịnh Giang tôn bà
nội là thái phi Trương thị ( vợ Trịnh Bính, người xã Như Kinh, huyện
Gia Lâm, mẹ Trịnh Cương), làm thái tôn phi, mỗi khi truyền đạt lời
của thái tôn phi thì gọi theo húy chỉ, tôn mẹ đẻ làm thái phi ( người
xã Mi Thử, huyện Đường Yên), truy tôn ông ngoại là Tuấn quận công
Vũ Tất Tố lên Tuấn Trạch công và đích mẫu Trịnh thị ( vợ cả của Trịnh
Cương nhưng không có con, đã mất), làm thái phu nhân, lập đền thờ
ở kinh đô.
Năm Tân Hợi ( 1731) vì có điềm tai dị ( Nhật thực) chúa hạ lệnh cho
bầy tôi trình bày ý kiến về chính sự. Bùi Sĩ Tiêm đưa ra 10 điều, lời lẽ
rất thống thiết, tâm huyết, chỉ trích những mục nát trong bộ máy cai
trị lúc bấy giờ, vì thế bọn quyền thần rất ghét Tiêm. Sớ đến tay
Giang, quyền thần lại nói gièm thêm, Giang giận lắm, tước bỏ hết
quan tước, đuổi sĩ Tiêm về quê. Sau một thời gian ngắn, Tiêm mất.
Trịnh Giang là người thích âm nhạc và văn chương. Năm Nhâm Tý (
1732), Giang cho chế nhạc dùng tỏng phủ đường để “ làm tô điểm
cho thời thái bình”. Từ đó ngày chúa ra coi chầu, phường nhạc sắp
hàng ở phủ đường. Khi ra hai bên cửa phủ vừa mở thì nhạc cũng được
cử lên. Các quan văn võ lạy xong thì ngừng tiếng nhạc, khi chúa đi
tuần du hoặc xuất hành việc quân thì bắn ba phát súng. Chúa đi ra
ngoài thì có cờ lệnh, phường nhạc chia nhau đi trước dẫn đường.

Trịnh Giang cũng thích văn nghệ, những buổi không có triều hội,
thường mời các quan vào thi tung ăn yến trong lầu gác của chúa, lúc
thì vui chơi ở nhà Dưỡng Chính, khi thì bình văn ở đình Bát Giác, Tây
Tụng, Phượng Các. Vào dịp đó, Trịnh Giang thường cho bầy tôi xem
các văn bản xưa, những bài thơ do Giang tự làm, bàn bạc nghĩa sách,
bình luận nghĩa văn. Có khi còn bàn về cả cách viết lối chân lối thảo
hoặc triện. Có khi hứng, chúa xướng vần rồi bảo các quan làm thơ,
hoặc tìm các bức thư, các bài ký, tụng, minh, châu, chiến, chế rồi về
vịnh cảnh vật. Ai trúng thì khen thưởng ngay trước mặt chúa và các
quan. Chúa còn sai sưu tầm thơ văn, chia ra mục loại, rõ cả họ tên
tác giả để dễ tra cứu. Cao Huy Trạc, Nguyễn Công Thái, Nguyễn Trác
Luân, Dương Mại, Nguyễn Đức Huy, Nguyễn Kiều vì văn thơ hay, được
chúa rất yêu quý! Vì thế, nhiều nho thần được khích lệ.
6 năm giữ quyền binh, năm Bính Thìn ( 1763) Trịnh Giang phong cho
em là Doanh 17 tuổi làm Tiết chế bộ thủy quân, chức Thái úy, tước Ân
Quốc công, cho mở phủ Lượng Quốc. Mỗi tháng 3 lần, Doanh thay
Giang triều kiến trăm quan ở Trạch Các để nghe tâu trình công việc.
Giang rảnh tay vào ăn uống, chơi bời, Giang cho xây dựng rất nhiều
cung quán, chùa chiền rất nguy nga và tốn kém. Chùa Hồ Thiên, hành
cung Quế Trạo, Từ Dương, phủ đệ ở các làng họ ngoại như làng Tử
Dương, làng Mi thử. Nhân việc xây cất này, bộ hạ của chúa tỏa đi bốn
phương bắt cống nộp, vì thế người làm ruộng, người đi buôn mất hết
cơ nghiệp.
Xây cất xong cung quán chùa chiền, Trịnh Giang càng thích du ngoạn
phong cảnh. Người bấy giờ đã bảo. Các chùa cổ, danh sơn chỗ nào
cũng có vết xe, dấu ngựa nhà chúa. Từ khi giao binh quyền cho em,

Giang càng trễ nải công việc triều đình. Chúa thường đóng hành ở
cung Quế Trạo ( huyện Quế Dương, Bắc Ninh) quê hương của nội
giám Hoàng Công Phụ, thỉnh thoảng mới về cung rồi lại tuần du
phương Bắc, Hoàng Công Phụ là hoạn quan được Giang tin yêu nên
càng lộng quyền.
Vì nghi ngời lính thanh Nghệ, không muốn dùng làm thị vệ hầu xe
chúa. Công Phụ tuyển chọn lính tráng toàn là người làng để dễ bề
kiểm soát và sai khiến. Thế là các quan không biết chúa ở đâu mà
tìm. Gặp việc quân chính sự khẩn cấp thì không biết kêu ai vì Trịnh
Doanh chỉ tạm nhiếp chính không dám quyết. Việc triều chính vì thế
rối tung.
Trịnh Giang lao vào ăn chơi dâm loạn nên sức khỏe ngày càng kém
sút, Giang còn mắc tội loạn dâm với cung nữ của cha là Kỳ Viên họ
Đặng, sau Vũ Thái phi biết chuyện, bắt ép Đặng thị phải tự tử. Một
hôm bất ngờ Trịnh Giang bị sét đánh gần chết. Từ đó mắc bệnh “ Kinh
quý” ( chứng tâm thần bất định, hoảng hốt và hay sợ hãi). Bọn hoạn
quan Hoàng Công Phụ nói dối rằng, đấy là vì dâm dục mà bị ác báo.
Muốn không bị hại chỉ có cách là trốn xông đất. Nhân đó bọn chúng
đào đất, làm hầm cho chúa, gọi là cung thưởng Trì. Từ đó Trịnh Giang
ở hẳn dưới hầm, không hề ra ngoài. Thế là Hoàng Công Phụ càng có
điều kiện để lộng quyền, quan quân muốn trừ khử lũ hoạn quan này,
nên khắp các vùng dân chúng đã nổi lên. Hải Dương có Nguyễn
Tuyển, Nguyễn Cừ, Sơn Nam có Hoàng Công Chất… dân quê đeo bừa,
vác cuốc đi theo rất đông, có nơi đến hàng vạn người, triều đình bất
lực, không chịu nổi.
Trước tình hình nguy ngập ấy, thái phi Vũ Thị đã cùng triều thần bàn

cách lập Trịnh Doanh lên thay Trịnh Giang để trấn an lòng người. Năm
Canh Thân ( 1740) Trịnh Doanh thay quyền ngôi chúa, lấy hiệu là
Minh Đô Vương, tiến tôn Trịnh Giang làm thái thượng vương. Như vậy,
Trịnh Giang cầm quyền được 10 năm ( 1730 – 1740) sau đó ở cung
thưởng Trì them 20 năm nữa mới mất, thọ 51 tuổi, truy tôn là thuận
vương hiệu là Dụ Tổ.

