
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Bộ MÔN PHẦN CỨNG
________________
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI :
DÙNG MÁY VI TÍNH THIẾT KẾ MÁY
CHẤM THI TRẮC NGHIỆM
GVHD : PHAN ĐÌNH MÃI
SVTH : TÔ OAI HÙNG
TRẦN NGỌC TRÁC
LỚP : KỸ SƯ II
- 1997 –

2
CHƯƠNG I :
MỤC ĐÍCH THIẾT KẾ
MÁY CHẤM THI TRẮC NGHIỆM
I . MỤC ĐÍCH :
Hiện nay, do số lượng sinh viên, học sinh của các trường đại học, cao đẳng, trung học, . . . mỗi
năm một tăng . Việc chấm bài thi vào những kỳ tuyển sinh, thi học kỳ, thi lại, . . . là một công việc nặng nhọc
cho giáo viên . Vì phải đòi hỏi kết quả của việc chấm thi phải đáp ứng về độ chính xác và về thời gian .
Như vậy, với các yếu tố :
- Số lượng bài thi nhiều .
- Thời gian chấm thi không kéo dài .
- Kết quả chấm thi cần chính xác .
từ đây, ta thấy rằng :
. Nếu hình thức là thi viết, thì chắc rằng khó mà đạt được cả hai yêu cầu song song là thời gian và
sự chính xác .
. Nếu hình thức thi là trắc nghiệm, thì với cách chấm thủ công trước đây cũng phải vất vã về thời
gian .
. Vã lại hiện nay do sự tiến triển của máy vi tính thì hầu hết các cơ quan, trường học, xí nghiệp, . . .
đều sử dụng máy vi tính trong công việc quản lý, tính toán, thiết kế, . . . Hầu hết các trường học, người ta đều
dùng máy vi tính để quản lý hồ sơ, điểm, học bạ, . . . của sinh viên . Do vậy, với hai hình thức chấm thi ở trên thì
công việc đòi hỏi là phải nhập điểm của từng thí sinh vào máy . Công đoạn nầy mất thời gian và có nhiều sai sót
trong quá trình nhập điểm .
Như vậy, nếu ta thiết kế một máy chấm thi trắc nghiệm sao cho kết quả chấm thi đó tự ghi vào dữ liệu
điểm của từng thí sinh tương ứng thì thật là thú vị - đây cũng là mục đích của việc thiết kế . Đối với mạch thiết
kế nầy, giáo viên chấm thi có thể ghi điểm trên bài làm của thí sinh để lưu trữ nhờ vào dữ liệu điểm trên máy vi
tính hoặc sự thể hiện của LED 7 đoạn trên máy chấm thi .
So với việc chấm thi trước đây thì máy chấm thi có những ưu điểm sau :
- Nhanh .
- Kết quả điểm được ghi chính xác vào vi tính .
- Rất ít tốn công .
Tuy nhiên, để đạt được các điều trên, thí sinh phải làm bài trên một mẫu giấy nhất định và phải tuân theo
một số qui tắc khi làm bài . Xét cho cùng, những yêu cầu nầy không có gì phiền toái và khó thực hiện mà chúng
ta sẽ thấy dưới đây .
II . NHỮNG YÊU CẦU VÀ LƯU Ý :
Sau đây là những yêu cầu đối với thí sinh :
1. Phải đánh dấu câu trả lời trên mẫu được qui định sẵn như trang sau :

3
Họ và tên : ...................................................................................
Số ký danh : .................................................................................
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
O O O O O O O O O O O
O
O
O
O
O
O
O
O
O
O O O O O O O O O O O
O
O
O
O
O
O
O
O
O
O O O O O O O O O O O
O
O
O
O
O
O
O
O
O
a b c d a b c d a b c d a b c d
1
O O O O 26
O O O O 51
O
O
O
O
76
O
O
O
O
2 O O O O 27
O O O O 52
O
O
O
O
77
O
O
O
O
3
O O O O 28
O O O O 53
O
O
O
O
78
O
O
O
O
4 O O O O 29
O O O O 54
O
O
O
O
79
O
O
O
O
5
O O O O 30
O O O O 55
O
O
O
O
80
O
O
O
O
6 O O O O 31
O O O O 56
O
O
O
O
81
O
O
O
O
7
O O O O 32
O O O O 57
O
O
O
O
82
O
O
O
O
8 O O O O 33
O O O O 58
O
O
O
O
83
O
O
O
O
9 O O O O 34
O O O O 59
O
O
O
O
84
O
O
O
O
10 O O O O 35
O O O O 60
O
O
O
O
85
O
O
O
O
11 O O O O 36
O O O O 61
O
O
O
O
86
O
O
O
O
12 O O O O 37
O O O O 62
O
O
O
O
87
O
O
O
O
13 O O O O 38
O O O O 63
O
O
O
O
88
O
O
O
O
14 O O O O 39
O O O O 64
O
O
O
O
89
O
O
O
O
15 O O O O 40
O O O O 65
O
O
O
O
90
O
O
O
O
16 O O O O 41
O O O O 66
O
O
O
O
91
O
O
O
O
17 O O O O 42
O O O O 67
O
O
O
O
92
O
O
O
O
18 O O O O 43
O O O O 68
O
O
O
O
93
O
O
O
O
19 O O O O 44
O O O O 69
O
O
O
O
94
O
O
O
O
20 O O O O 45
O O O O 70
O
O
O
O
95
O
O
O
O
21 O O O O 46
O O O O 71
O
O
O
O
96
O
O
O
O
22 O O O O 47
O O O O 72
O
O
O
O
97
O
O
O
O
23 O O O O 48
O O O O 73
O
O
O
O
98
O
O
O
O
24 O O O O 49
O O O O 74
O
O
O
O
99
O
O
O
O
25 O O O O 50
O O O O 75
O
O
O
O
100
O
O
O
O

7
2. Điền họ và tên trên mẫu, sau đó ghi mã thí sinh trên 3 hàng đầu tiên (gồm sáu dãy ô)
của mẫu . Với 6 dãy ô nầy cho phép phân biệt được 1.000.000 sinh viên . Nghĩa là dữ liệu
của một trường có thể là 1 triệu sinh viên đang thi . Cách ghi mã thí sinh là chỉ việc tô đen
những ô có số tương ứng phía trên mỗi dãy .
Ví dụ : Thí sinh có tên là Nguyễn Văn A, mã số là 012345 . Có thể ghi như sau :
Họ và tên : Nguyễn Văn A
Số ký danh :
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9
Hoặc có thể ghi :
Họ và tên : Nguyễn Văn A
Số ký danh :
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9
Như vậy, trong mã thí sinh số 0 có thể tô đen hay bỏ trống, và việc tô số
theo thứ tự từ trên xuống và từ dãy ô phía trái sang phía phải, mỗi dãy chỉ ghi 1 số mà thôi -
tương ứng với các ký số trong mã thí sinh từ trái sang phải . Ta có thể mô tả các vị trí số
trong sáu dãy ô như sau :
hàng trăm ngàn hàng chục ngàn
hàng ngàn hàng trăm
hàng chục hàng đơn vị
Sau khi đã ghi mã thí sinh xong, thí sinh có thể chọn câu trả lời là a, b, c hay d ứng với
câu có thứ tự đã ghi bên cạnh .
Ví dụ : Với câu số 1, nếu câu trả lời được chọn là b thì ta làm như sau :
a b c d
1
3. Thí sinh khi thi phải đem theo bút chì loại 2B, tẩy và chuốt chì .
4. Khi tô mã thí sinh hoặc chọn câu trả lời nên lưu ý các kiểu tô như sau :
Đúng Sai Sai Sai Sai

8
Các hình thức sai :
- : Tô ngoài vòng tròn của ô .
- : Không nên tô chọn kiểu nầy .
- : Khi bỏ tô chọn lúc trước không nên đánh tréo mà phải tẩy .
- : Khi tô không nên chừa vùng trắng phía trong ô .
Việc tô đậm ô được chọn nhằm đảm bảo cho LED hồng ngoại hoạt động tốt, tránh
trường hợp sai khi mạch hoạt động .
5 . Khi câu trả lời bị bỏ trống hoặc có từ hai đánh dấu chọn trở lên ( ) sẽ không
được tính điểm .
Khi một câu được chọn, nếu đúng với đáp án thì điểm của thí sinh tăng lên 1 . Như vậy
với số lượng là 100 câu, điểm tối đa của thí sinh là 100 điểm . Việc qui đổi ra thang điểm 10
hay những hình thức cho khác cũng dễ dàng thực hiện bằng phần mềm .

