Dưỡng ẩm cho da mùa đông
Nước ta có hai vùng khí hậu khác nhau, trong lúc trời rét lạnh ở phía Bắc thì trong Nam,
nắng nóng ban ngày và trời khô mát ban đêm.
Skhác biệt nhiệt đngày đêm cũng như tình trạng hạ thấp nhiệt độ mùa thu đông
thgây ra một số bệnh da. Sử dụng các chất giữ ẩm da vì thế đã được nhiều người
quan m. Tuy nhiên trước khi sdụng, cần phải biết rõ thành phần, cũng như chế c
dụng của sản phẩm. Không phải sản phẩm nào cũng hại và không phải ai cũng thể
xài.
thchia các bệnh da do thời tiết gây ra thành những nhóm sau: bệnh da do dị ứng với
thời tiết (mề đay…); bệnh da diễn biến nặng thêm do thi tiết lạnh (da khô, vảy cá,
viêm da tiết bã, chàm…); các biểu hiện da chế bệnh liên quan đến sự co mạch khi
gặp lạnh (cước, hội chứng Raynaud...) Các vùng da bảnh hưởng của không khí lạnh là
những vùng phơi bày như: mặt, môi, vành tai, bàn tay, bàn chân. Khi đó da sẽ trở nên khô
ráp, tróc vảy, thể ửng hồng hoặc khô sạm. Ngứa cũng thể xảy ra với mức độ ít,
nhiều tuỳ người.
Vai trò của chất giữ ẩm
Chất giữ m là những chất giúp da duy trì độ ẩm, chúng không phải là những chất thêm
nước vào da, các chất giúp da ngăn ngừa hoặc làm giảm đi sự bay hơi nước bằng
cách này hoặc cách khác. Trên da chúng ta cũng có những yếu tố làm m tự nhiên,th
các chất béo hoặc các chất chứa nitơ hoặc các thành phần điện giải. Tuy nhiên khi
bmột số tác nhân như: bệnh da (chàm, vảy nến, da lão hoá…), một số bệnh tổng quát
(suy giáp hoặc do tác động của môi trường: máy lạnh, thời tiết, gió…), sau dùng một s
thuốc (thuốc lợi tiểu, thuốc isotretinoin trị mụn…), sử dụng nhiều chất tẩy rửa, ảnh
hưởng của yếu tố di truyềncác chất giữ m đó sẽ bị phá huỷ, lớp sừng của da không
còn đảm bảo chức năng của một hàng rào bảo vnữa, sự giữ nước trên da bgiảm và da
sẽ mất nước. Lúc này cần phải cầu viện đến các các chất giữ ẩm.
Người ta chia chất giữ m làm nhiều loại, theo cách thức mà chúng thực hiện cho da như
chất làm mềm (emollients, cung cấp một lớp dầu trên bmặt da, hút nước, trữ nước vào
lớp sừng và khoá lại), chất làm m (humectants, thực hiện hút m từ môi trường và thúc
đẩy s giữ nước qua công thức hoá học chứa gốc OH, rất ái nước), chất che bít
(occludents, giới hạn bốc hơi nước trên da bằng cách tạo một lớp “phim” cân bằng trên
da).
Không tuỳ tiện dùng chung
Sẽ tuỳ vào mục đích sử dụng, vị trí dùng, mức độ khô da nhiều ít, tuổi tác và các bệnh da
đang có... Những chất giữ m thể dùng đơn độc một mình hoặc đã được cho kết hợp
trong thành phần của các sản phẩm chăm c da, tóc như kem phấn trang điểm, kem
dưỡng, sữa rửa mặt, sữa tắm, son môi, dầu gội... Chúng cũng được trình bày với nhiều
hình thái như dạng sữa, dạng kem, dạng sáp... Kem giữ ẩm sẽ được thoa trên vùng da
sạch, sau khi tắm hoặc lúc có nhu cầu. Không chỉ dùng cho vùng da bệnh mà các vị trí da
lành cần giữ ẩm cũng nên được chăm sóc. Bạn cũng nên nhthoa chúng cho các vtrí
thể bị lãng quên như môi, vành tai. Trẻ em cần được dùng kem giữ ẩm riêng.
Kem giữ ẩm tốt sẽ là những chất chứa thành phần giống với lipít của da nhằm giúp chỉnh
sửa hàng rào bảo vda, phải được hấp thu tốt qua lớp sừng và lưu giữ được lâu, ít btẩy
trôi bởi nước. Ngoài ra, chúng còn phải được giới hạn các nguy gây dị ứng cho da
(dành cho các địa có làn da nhạy cảm), giảm nguy cơ sinh nhân trứng cá để không gây
mụn hoặc làm nặng thêm tình trạng mụn đang có sẵn...
Chính vậy, không phải ai cũng thể sử dụng cùng một loại kem dưỡng da với người
khác, như thói quen nhiều thành viên trong gia đình hay làm hoặc mượn của bạn bè, đồng
nghiệp sdụng trong những trường hợp đột xuất. Tốt hơn hết, trước khi sử dụng nên m
hiểu kỹ về những điều đã nói trên nếu điều kiện thì nên liên hvới các bác da để
được tham vấn đầy đủ.