GELATIN
Gelatinum
Gelatin một protein tinh khiết thu được bằng cách thuỷ phân acid một phần
(dạng A) hoặc thuỷ phân kiềm một phần (dạng B) colagen động vật (kể cả và
gia cm). Gelatin ng có thể là hỗn hợp của nhiều loại khác nhau. Quá trình thu
phân tạo ra các sản phẩm dạng gel hoặc không phải dạng gel. Chuyên luận này
được áp dụng cho cả hai loại sản phẩm trên.
Gelatin được tả trong chuyên luận này chưa thích hợp cho các chế phẩm dùng
để tiêm hoặc cho các mục đích đặc biệt khác.
Tính chất
Chất rắn không mùi, màu vàng nhạt đến màu vàng nâu sáng, thường dạng phiến
trong, mờ, mảnh vụn, hạt hoặc bột.
Độ hoà tan
Gelatin thực tế không tan trong các dung môi hữu thông thường. Gelatin dạng
gel trương nở trong nước lạnh khi đun nóng cho dung dịch keo, dung dịch keo
này khi m lnh tạo thành gel cứng hoặc mềm. Điểm đẳng điện là một đặc tính
quan trọng nói lên chất lượng của gelatin trong nhiều ứng dụng: điểm đẳng điện
của gelatin dạng A nằm trong khoảng pH t6,0 9,5; khoảng đặc trưng của
gelatin dạng B là giữa pH 4,7 và 5,6. Những khoảng giới hạn này áp dụng cho
nhiều loại gelatin, trong trường hợp những ứng dụng cụ thể thường sử dụng giới
hạn hẹp hơn.
Các loại gelatin khác nhau tạo ra dung dịch trong nước với độ trong và màu sắc
khác nhau. Vi một ứng dụng cụ thể, thường áp dụng một yêu cầu thích hợp về độ
trong và màu sắc.
Định tính
A. Thêm 0,05 ml dung dịch đồng sulfat 12,5% (kl/tt) vào 2 ml dung dịch S. Trộn
đều và thêm 0,5 ml dung dịch natri hydroxyd loãng (TT). Màu tím được tạo thành.
B. Thêm vào 0,5 g chế phẩm trong một ống nghiệm chứa 10 ml nước. Để yên 10
phút, đun nóng 60 oC trong 15 phút giống thẳng đứng 0 oC trong 6 giờ.
Xoay ngược ống, chế phẩm chứa trong ống lập tức chảy ra ngoài nếu là dạng
không tạo gel và không được chảy ra ngoài ngay lập tức nếu là dạng gel.
Độ trong và màu sắc của dung dịch
Dung dịch S: Hoà tan 1,00 g chế phẩm trong nước không carbon dioxyd (TT)
khoảng 55 oC, pha loãng thành 100 ml với cùng dung môi và giữ dung dịch ở nhiệt
độ này để tiến hành các phép thử.
Dung dịch S không được màu đậm hơn màu mẫu V4 (Phụ lục 9.3, Phương pháp
2) dung dịch S được chuẩn bị tgelatin dạng A hoặc dạng B không được đục
hơn độ đục mẫu S4 (Phlục 9.3). Hỗn hợp của gelatin dạng A và dạng B thể
cho dung dịch đục do shình thành keo ttrên một khoảng rộng pH, phụ thuộc
vào nồng độ.
pH
Dung dịch S có pH từ 3,8 đến 7,6 (Phụ lục 6.2).
Độ dẫn
Tối đa 1 mS.cm-1, xác định trên dung dịch 1,0% tại 30 1,0 oC.
Lưu huỳnh dioxyd
Không được quá 50 phần triệu (Phụ lục 7.9, phương pháp 2).
Peroxyd
Không được quá 0,01%.
Hoà tan 1,0 g chế phẩm trong 10 ml nước bằng cách đun nóng và thêm 2 ml dung
dịch divanadi pentoxyd trong acid sulfuric (TT). Bất kỳ màu vàng cam nào của
dung dịch cũng không được đậm hơn màu mẫu đối chiếu được chuẩn bị trong
cùng điều kiện với một hỗn hợp của 1 ml dung dịch hydrogen peroxyd 0,01% và 9
ml nước.
Độ bền gel
Phải đạt từ 80 - 120 % giá trị ghi trên nhãn của chế phẩm.
Nếu dự định sdụng để pha chế thuốc trứng, thuốc đạn hoặc gelatin kẽm, gelatin
phải đáp ứng thêm yêu cầu vđộ bền gel: 150 g đến 250 g. Độ bền gel là khối
lượng nh ra gam cn thiết để tạo ra một lực tác dụng lên piston có đường kính
12,7 mm gây nên mt sự lún sâu 4 mm trong gel nồng độ 6,67% (kl/kl) đã
làm đông ở 10 oC.
Máy móc: Máy đo độ bền gel bao gồm:
Một piston hình trcó đường kính 12,7 0,1 mm với bề mặt áp lực phẳng có cạnh
tròn (bán kính 0,5 mm).
Một thiết bị điều chỉnh chiều cao của chai chứa gel sao cho bề mặt gel đến tiếp
xúc với piston mà không sdụng áp lực.
Một thiết bị mà nhđó tải trọng piston sử dụng thể được tăng tốc độ không
đổi 40 g/s.
Một thiết bị mà nhđó chuyển động thẳng đứng của piston thể được dừng lại
trong vòng 1/40 giây khi đã lún sâu 4 0,1 mm.
Một thiết bị đo (cân) mà nhđó tải trọng cuối cùng thđược đo với độ chính
xác 0,5 g.
Một chai có đường kính trong 59 1 mm và cao 85 mm.
Tiến hành: Cho 7,5 g chế phẩm vào chai. Thêm
105 ml nước, đậy chai bằng mặt kính đồng h
để yên trong 3 giờ. Đun nóng trong cách
thu 65 oC trong 15 phút. Trong khi đun
khuấy nhẹ nhàng bằng đũa thuỷ tinh. Khi dung
dịch đã đồng nhất và không còn nước ngưng tụ
trên thành trong của chai, để nhiệt độ phòng trong 15 phút và chuyển chai vào
bình được điều nhiệt 10 0,1 oC được lắp một thiết bị thích hợp để đảm bảo
bmặt trên đó đặt chai nằm ngang hoàn toàn. Đậy chai bằng nút cao su đyên
trong 16 đến 18 giờ. Chuyển ngay chai vào máy đo độ bền gel điều chỉnh sao
cho piston tiếp xúc với bề mặt gel mà không sdụng áp lực. Tăng tải trọng trên