1
BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH & XÃ HỘI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y HÀ NỘI
GIÁO TRÌNH
KỸ NĂNG GIAO TIẾP
Tài liệu lưu hành nội bộ
2
BÀI MỞ ĐẦU
1. VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT, MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU CỦA MÔN HỌC
1.1. Vị trí và tính chất của môn học
Môn học kỹ năng giao tiếp thuộc nhóm các môn học sở trong chương trình đào
tạo của ngành Chăm sóc sắc đẹp. Nó cũng rất hữu ích đối với sinh viên theo học nhiều
chuyên ngành khác, chẳng hạn như quản trị kinh doanh, du lịch v.v
Kỹ năng giao tiếp vừa môn học thuyết, vừa môn học thực hành. Trong quá
trình học, sinh viên được trang bị những kiến thức bản về giao tiếp, ứng xử, đồng
thời thực hành để rèn luyện kỹ ng vận dụng kiến thức môn học vào các tình huống
giao tiếp hằng ngày cũng như trong hoạt động nghề nghiệp sau này.
1.2. Mục tiêu của môn học
-
Về kiến thức: Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất về giao tiếp và
ứng xử theo truyền thống dân tộc theo thông lệ quốc tế, phù hợp với sự phát triển
kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay.
-
Về kỹ năng: Hình thành ở sinh viên các kỹ năng cơ bản sau:
+ Kỹ năng phân tích, đánh giá các quan hệ giao tiếp một cách hợp lý, trên cơ sở đó
sinh viên có thể hoàn thiện hoạt động giao tiếp của mình;
+ Kỹ năng sử dụng tối ưu các phương tiện giao tiếp, bao gồm phương tiện ngôn ngữ
va các phương tiện phi ngôn ngữ;
+ Kỹ năng thiết lập, phát triển, củng cố các mối quan hệ cần thiết trong cuộc sống
cũng như trong hoạt động nghề nghiệp trong tương lai;
+ Kỹ năng vận dụng kiến thức của môn học vào hoạt động thực tiễn nghề nghiệp,
giải quyết tốt công việc của một kỹ thuật viên CSSĐ, như:vấn sản phẩm dịch vụ,
gọi và trả lời điện thoại, tiếp khách, tham gia thương lượng V.V.
-
Về thái độ: Giúp sinh viên thấy được tầm quan trọng của việc trở thành một người
giao tiếp giỏi, trên cơ sở đó hình thànhcác em thái độ đúng đắn đối với môn học cũng
như với việc rèn luyện các phẩm chất giao tiếp nghề nghiệp của một chuyên viên chăm
sóc sắc đẹp.
1.3. Yêu cầu của môn học
-
Nm được bản cht, các khía cnh của quá trình giao tiếp: truyn thông, nhận thức
nh hưởng tác động qua lại trong giao tiếp, đặc đim của giao tiếp trong hot đng ngh
nghip.
-
Nắm được những nét riêng, những phong tục, tập quán của dân tộc cũng như
những nguyên tắc, những thông lệ quốc tế trong giao tiếp, ứng xử hiện đại;
-
Nắm được những nguyên tắc, những luận bản về giao tiếp trực tiếp, giao
tiếp qua thư tín, điện thoại V.V.;
-
Tích cực, chủ động trong học tập, đặc biệt trong giờ học thực hành để hình
thành các kỹ năng giao tiếp, đồng thời không ngừng trau dồi, rèn luyện cả trong đời
3
sống thường nhật để nâng lên thành kỹ xảo, nghĩa là thống lĩnh nghệ thuật giao tiếp.
4
Chương 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO TIẾP
I. KHÁI NIỆM GIAO TIẾP
1. Giao tiếp là gì?
Sự tồn tại và phát triển của mỗi con người luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển
của những cộng đồng hội nhất định. Không ai thể sống, hoạt động ngoài gia
đình, bạn bè, địa phương, tập thể, dân tộc, tức là ngoài xã hội. Người La Tinh nói rằng:
“Ai có thể sống một mình thì người đó hoặc là thánh nhân, hoặc là quỷ sứ”. Trong quá
trình sống hoạt động, giữa chúng ta với người khác luôn tồn tại nhiều mối quan hệ. Đó
thể quan hệ dòng họ, huyết thống như cha mẹ - con cái, ông - cháu chắt, anh
em, họ hàng; quan hệ hành chính - công việc như: thủ trưởng - nhân viên, nhân viên -
nhân viên; quan hệ tâm lí như: bạn bè, thiện cảm, ác cảm V.V...Trong các mối quan hệ
đó thì chỉ một số ít sẵn ngay từ khi chúng ta cất tiếng chào đời (chẳng hạn, quan
hệ huyết thống, họ hàng), còn đa số các quan hệ còn lại chủ yếu được hình thành, phát
triển trong quá trình chúng ta sống và hoạt động trong cộng đồng xã hội, thông qua các
hình thức tiếp xúc, gặp gỡ, liên lạc đa dạng với người khác mà chúng ta thường gọi
giao tiếp.
Vây, giao tiếp là gì?
Giao tiếp hoạt động xác lập, vận hành các mối quan hệ giữa con người với con
người nhằm thoả mãn những nhu cầu nhất định.
Ví dụ: Giám đốc gặp gỡ đối tác, trưởng phòng trò chuyện với nhân viên, bạn bè t
từ cho nhau...
2. Vai trò của giao tiếp
Giao tiếp vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống hội, trong đời sống của
mỗi con người và cả trong công tác văn phòng.
2.1. Vai trò của giao tiếp trong đời sống xã hội
Đối với hội, giao tiếp điều kiện của sự tổn tại phát triển hội. hội
một tập hợp người mối quan hệ qua lại với nhau. Chúng ta hãy thử hình dung xem
xã hội sẽ như thế nào nếu mọi người tồn tại trong đó không có quan hệ gì với nhau, mỗi
người chỉ biết mình không biết, không quan tâm, không liên hệ với những
người xung quanh? Đó không phải hội mà chỉmột tập hợp rời rạc những nhân
đơn lẻ. Mối quan hệ chặt chẽ giữa con người với con người trong xã hội còn là điều kiện
để xã hội phát triển. Ví dụ, nền sản xuất hàng hoá phát triển được là nhờ có mối liên hệ
chặt chẽ giữa nhà sản xuất người tiêu dùng: người sản xuất nắm được nhu cầu của
người tiêu dùng, sản xuất ra những loại hàng hoá đáp ứng những nhu cầu đó, nghĩa là
được người tiêu dùng chấp nhận và điều này thúc đẩy sản xuất phát triển.
2.2. Vai trò của giao tiếp đối với cá nhân
Trong đời sống của mỗi con người, vai trò của giao tiếp được biểu hiện những
5
điểm cơ bản sau đây:
-
Giao tiếp là diều kiện để tâm lí, nhân cách cá nhân phát triển bình thường;
Về bản chất, con người tổng hoà các mối quan hệ hội. Nhờ giao tiếp
mỗi con người thể tham gia vào các mối quan hệ hội, gia nhập vào cộng đồng,
phản ánh các quan hệ hội, kinh nghiệm hội chuyển chúng thành tài sản riêng
của mình. Những trường hợp trẻ em bị thất lạc vào trong rừng, sống với động vật đã cho
thấy rằng, mặc những đứa trẻ này vẫn hình hài của con người, nhưng tâm
hành vi của các em không phải là của con người.
-
Trong giao tiếp, nhiều phẩm chất của con người, đặc biệt là các phẩm chất đạo
đức, được hình thành và phát triển;
Trong quá trình tiếp xúc với những người xung quanh, chúng ta nhận thức được các
chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ, pháp luật tồn tại trong hội, tức những nguyên tắc
ứng xử: chúng ta biết được cái gì tốt, cái gì xấu; cái gì đẹp, cái gì không đẹp; cái gì nên
làm, cái cần làm, cái không được làm từ đó thể hiện thái độ hành động
cho phù hợp. Những phẩm chất như khiêm tốn hay tự phụ, lễ phép hay hỗn láo, ý thức
nghĩa vụ, tôn trọng hay không tôn trọng người khác ... chủ yếu được hình thành, phát
triển trong giao tiếp. Người xưa nói: “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” cũng là vì mẹ và
hay chiều con, chiều cháu, thường làm thay chúng những việc đúng ra chúng
phải làm thể làm được, đáp ứng một cách thiếu nguyên tắc những đòi hỏi của
chúng, dẫn đến việc chúng không nhận thức được giới hạn cần phải dừng lại trong các
yêu cầu, đòi hỏi của mình, từ đó sẽ có những hành vi, đòi hỏi vượt giới hạn cho phép,
tức là “hư”, “hỗn láo”.
-
Giao tiếp thoả mãn nhiều nhu cầu của con người;
Những nhu cầu của chúng ta như: nhu cầu thông tin, nhu cầu được thừa nhận, nhu
cầu được những người xung quanh quan tâm, chú ý, nhu cầu được hoà nhập vào những
nhóm xã hội nhất định ... chỉ được thoả mãn trong giao tiếp. Chúng ta sẽ cảm thấy như
thế nào nếu tự giam mình dù chỉ một ngày trong phòng, không gặp gỡ, tiếp xúc với ai,
không liên hệ với ai qua điện thoại, không đọc. không xem ti vi? Chắc chắn đó sẽ một
ngày dài lê thê, nặng nề. Đó là vì nhu cầu giao tiếp của chúng ta không được thoả mãn.
Theoc nhà tâm học pt triển, trong cuộc đời của mỗi con người, nhu cầu giao tiếp
xuất hiện rất sớm. Ngay t khi được sinh ra, đứa trẻ đã có những nhu cầu n nhu cầu được
thương yêu, nhu cầu được an tn, khoảng 2-3 tháng tuổi đứa trẻ đã biết “trò chuyện” với
người lớn. Những thiếu hụt trong tiếp c với nời lớn giai đoạn ấu thơ sẽ đlại những
dấu ấn tiêu cực trongm lí, nhân cách của con người tởng tnh sauy.
II. CHỨC NĂNG CỦA GIAO TIẾP
Giao tiếp có vai trò to lớn như vậy bởi vì nó thực hiện nhiều chức năng quan trọng.
thể chia các chức năng này thành hai nhóm: nhóm chức năng hội nhóm chức
năng tâm lí.