intTypePromotion=1

Giáo trình XỬ LÝ TÍN HIỆU AUDIO VÀ VIDEO - Chương 3

Chia sẻ: Norther Light | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:17

0
231
lượt xem
88
download

Giáo trình XỬ LÝ TÍN HIỆU AUDIO VÀ VIDEO - Chương 3

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chương 3 TRUYỀN DẪN AUDIO VÀ VIDEO SỐ 3.1. GIỚI THIỆU Tín hiệu audio-video sau khi được số hoá sẽ được đưa đến kênh truyền để truyền đi hoặc có thể lưu trữ trên các thiết bị ghi phát số. Truyền dẫn audio video là chuyển dữ liệu từ nơi này đến nơi khác với những phương thức truyền khác nhau. Từ một camcorder nhỏ nhất cho đến một mạng lớn như mạng toàn cầu internet, tất cả những hệ thống số đó đều phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong vấn đề truyền dẫn tức là chuyển dữ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình XỬ LÝ TÍN HIỆU AUDIO VÀ VIDEO - Chương 3

  1. Chương 3: Truyền dẫn audio và video Chương 3 TRUYỀN DẪN AUDIO VÀ VIDEO SỐ 3.1. GIỚI THIỆU Tín hiệu audio-video sau khi được số hoá sẽ được đưa đến kênh truyền để truyền đi hoặc có thể lưu trữ trên các thiết bị ghi phát số. Truyền dẫn audio video là chuyển dữ liệu từ nơi này đến nơi khác với những phương thức truyền khác nhau. Từ một camcorder nhỏ nhất cho đến một mạng lớn như mạng toàn cầu internet, tất cả những hệ thống số đó đều phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong vấn đề truyền dẫn tức là chuyển dữ liệu từ nơi này đến nơi khác. Ghi và lưu trữ là hai loại ứng dụng truyền dẫn khác, chuyển dữ liệu từ thời điểm này tới thời điểm khác. Chương này sẽ bàn đến một số công nghệ cũng như một số hệ thống truyền dẫn dữ liệu số. 3.2 CÔNG NGHỆ TRUYỀN DẪN SỐ Toàn bộ môi trường truyền dẫn (được gọi là kênh), đối với tín hiệu analog đều có những hạn chế nhất định, thông thường về dải thông, tạp âm, không ổn định về thời gian gốc và đặc tuyến biên độ phi tuyến. Sự suy giảm analog này có thể gây ra lỗi trong truyền dẫn số vì vậy nó phá vỡ ưu điểm cơ bản của kĩ thuật số, một công nghệ khá hoàn hảo. Phần này bàn đến một vài công nghệ dùng để xử lý các vấn đề gặp phải của môi trường analog trong truyền dẫn số. Hình 3.1. là sơ đồ khối một hệ thống truyền dẫn số tiêu biểu bao gồm tất cả các phần tử có thể có trong hệ thống, mặc dù không phải tất cả mọi hệ thống đều có. 3.2.1. Mã hóa Trong hầu hết các truờng hợp dữ liệu nhị phân gốc tạo bởi ADC không phù hợp cho truyền dẫn, vì vậy nó phải được định dạng trước khi truyền dẫn. Quá trình này được gọi là mã hóa (encoding hay coding), đây là quá trình biến đổi hoặc bổ sung vào dữ liệu mà không làm tổn hao bất cứ nội dung thông tin nào của dữ liệu. Mã hóa có thể được thực hiện và phá bỏ (giải mã) bằng một vài cách khác nhau để tín hiệu số truyền qua hệ thống. Kỹ thuật mã hóa trình bày ở đây chỉ sử dụng cho truyền dẫn, quá trình mã hóa bổ sung có thể được áp dụng. Ví dụ, để thực hiện nén dữ liệu có thể làm mất lượng thông tin không quan trọng để quá trình nén đạt hiệu quả tốt hơn. Trong ngành công nghiệp viễn thông, người ta có thể quan sát các bước của quá trình xử lý thông tin như một chuỗi các lớp của giao thức. Năm 1984 tổ chức 56
  2. Chương 3: Truyền dẫn audio và video tiêu chuẩn quốc tế ISO phát triển mô hình liên kết các hệ thống mở (OSI) thành tiêu chuẩn IS7498. Mô hình trên xác định có bảy lớp giữa người dùng và mạch vật lí. Đây là tiêu chuẩn được sử dụng rất rộng rãi ở Châu Âu để kết nối máy tính trên các kênh thông tin ở Mỹ, mô hình OSI cũng được sử dụng nhưng tiêu chuẩn TCP/IP lại thông dụng hơn (là cơ sở cho mạng Internet). Các lớp OSI được minh họa trong hình 3.2. Các lớp được trình bày ngắn gọn dưới đây: Ngỏ vào Mã hóa Mã sửa lỗi dữ liệu A Kênh Ngỏ vào Điều chế Đóng gói Mã hóa Mã sửa lỗi truyền dữ liệu B Ngỏ vào Mã hóa Mã sửa lỗi dữ liệu C Khôi phục Ngỏ ra clock EADC Giải mã dữ liệu A Ngỏ ra Giải điều Phân tích EADC Giải mã dữ liệu B chế gói Ngỏ ra EADC Giải mã dữ liệu C Hình 3.1. Sơ đồ khối hệ thống truyền dẫn số 1. Lớp vật lí: lớp này bao gồm phần cứng vật lí thực, phần mềm liên lạc và mọi thứ cần thiết để thiết lập một kết nối vật lí và truyền dòng bit trên nó. 2. Lớp liên kết dữ liệu: lớp này điều khiển mối liên kết vật lí thực và có thể cung cấp các chức năng xử lí lỗi. 3. Lớp mạng: lớp này xử lí phân tuyến liên lạc thông qua một mạng. 4. Lớp giao vận: lớp này là cầu nối giữa các chức năng ứng dụng và thông tin. Nó cũng thực hiện việc sửa lỗi, điều khiển luồng và chức năng ghép kênh. 5. Lớp phiên: lớp này thiết lập, xử lí và giải phóng sự kết nối thông tin. 6. Lớp trình diễn: lớp này định rõ cách thức thiết lập và kết thúc của lớp phiên. 57
  3. Chương 3: Truyền dẫn audio và video 7. Lớp ứng dụng: lớp cao nhất này là một giao diện với người sử dụng giữa dịch vụ thông tin dữ liệu và người dùng. Các hệ thống đơn giản không dùng tất cả các lớp này. Mô hình OSI sẽ được sử dụng trong phần dưới đây. Người sử dụng Lớp ứng dụng Lớp trình diễn Lớp phiên Lớp giao vận Lớp mạng Lớp liên kết dữ liệu Lớp vật lý Phần cứng Hình 3.2. Các giao thức của mô hình ISO tiêu chuẩn Đầu ra của quá trình mã hóa vẫn là dòng bit nhị phân. Mặc dù một dòng bit như thế này đôi khi có thể được truyền trực tiếp tới kênh truyền analog, song việc thực hiện thêm quá trình xử lý tương tự hoặc số nhằm tạo ra tín hiệu phù hợp hơn cho kênh truyền là hoàn toàn thỏa mãn. Đầu ra của những quá trình này không còn là tín hiệu số nhị phân nữa, nó có thể có các đặc tính analog. Trong chương này, quá trình xử lý đặc trưng của kênh như trên được gọi là điều chế hoặc mã hóa kênh. Cần chú ý rằng, một vài bước mã hóa như định nghĩa ở đây trong công nghiệp thường có ý nghĩa như điều chế. 3.2.2. Dạng nối tiếp và song song Dữ liệu số cho audio và video thường có cấu trúc dạng nhóm bit, các nhóm này trình bày một đoạn thông tin, ví dụ như pixel cho video hoặc một mẫu cho audio. Nhiều khi phần cứng tạo thông tin cung cấp dữ liệu trên một số mạch song song, trên cơ sở cấu trúc dữ liệu một mạch trên mẫu. Vì vậy, 1 bộ ADC 8 bit có thể có 8 dây đầu ra. Cấu trúc song song như vậy rất phù hợp cho việc truyền dữ liệu ở những 58
  4. Chương 3: Truyền dẫn audio và video khoảng cách ngắn, với ưu thế tốc độ dữ liệu trên dây thấp hơn tổng tốc độ dữ liệu là số n tương ứng với số dây song song. Tuy nhiên, việc xử lý các dây tín hiệu song sẽ gặp khó khăn nếu dữ liệu truyền dẫn nằm ngoài một box đơn, và sẽ hoàn toàn không thực hiện được nếu khoảng cách quá xa hay khi cần thiết phải sử dụng truyền dẫn vô tuyến. Trong trường hợp này dữ liệu phải được kết thành dạng chuỗi để có thể truyền được trên một kênh đơn. 3.2.3. Đồng bộ hóa Có hai phần cần phải đồng bộ hóa dữ liệu: (1) trích một đồng hồ giúp cho việc đọc cũng như chốt dòng dữ liệu trở nên đáng tin cậy hơn, (2) đồng bộ hóa định dạng dữ liệu để nội dung có thể được nhận dạng và giải mã. 3.2.3.1. Trích đồng hồ Trong một hệ thống dữ liệu song song, một dây riêng biệt được dành riêng cho đồng hồ tạo xung đồng bộ, vì vậy không có khó khăn gì khi trích đồng hồ. Tuy nhiên, các hệ thống nối tiếp phải chứa sẵn tín hiệu đồng hồ trong dữ liệu để thiết bị thu có thể xác định được số bit dữ liệu một cách đáng tin cậy. Đây được gọi là tự tạo xung đồng bộ. Một dòng dữ liệu nối tiếp có các đặc tính như một chuỗi ngẫu nhiên của các số “1” và “0”. Điển hình là sẽ có các thành phần tín hiệu có giá trị cao ở tần số dữ liệu lập lại, thành phần này có thể được trích bởi một vòng khóa pha (PLL) hoạt động tại tần số đó. Mục đích của việc mã hóa và điều chế là đảm bảo việc trích đồng hồ có thể được hoàn tất với bất cứ mô hình bit dữ liệu nào. Dạng sóng VCO dốc thoải Xung lấy mẫu Dạng sóng dữ liệu Dữ liệu Bộ lọc VCO ở tần Ngỏ ra xung thông thấp số clock clock Dạng sóng dốc thoải Hình 3.3. Sơ đồ khối của một vòng khóa pha 59
  5. Chương 3: Truyền dẫn audio và video Hình 3.3 là sơ đồ khối của một vòng khóa pha. Một bộ tạo sóng điều khiển điện áp (VCO) hoạt động với tần số xấp xỉ bằng tần số đồng hồ. Nó được điều khiển bởi đầu ra của bộ tách sóng pha tạo bởi quá trình lấy mẫu và lưu trữ dạng sóng thoải ở VCO với các xung nhận được từ các biên chính của tín hiệu dữ liệu. Đầu ra của bộ phận trích mẫu và lưu trữ có điện áp có thể làm thay đổi tần số của VCO theo hướng đồng hồ. Tại đồng hồ, bộ phân tích sẽ kết thúc quá trình lấy mẫu tín hiệu VCO ở gần trung tâm của mỗi bước chuyển tích cực. Do có thể có sự trượt về thời gian của tín hiệu đầu vào và đối với một vài định dạng có thể sẽ không có bước chuyển tích cực ở mọi chu kỳ đồng hồ cho nên bộ lọc thông thấp ở PLL sẽ làm chậm hoạt động lại, vì vậy đồng hồ được trích vẫn ổn định. Đầu ra ở VCO của PLL trở thành đồng hồ dữ liệu. Tuy nhiên, dữ liệu được tạo ra không đáng tin cậy bởi vì có những đoạn được mở rộng của tất cả các số “1” hoặc tất cả các số “0”, trong giai đoạn này không có thành phần tần số đồng hồ, và PLL sẽ trượt khỏi đồng hồ. Để quá trình trích đồng hồ hoạt động một cách đáng tin cậy, phải đặt ra những điều kiện cho dữ liệu trong quá trình mã hóa để đảm bảo là các đoạn có cùng giá trị không quá dài. Đặc tính của dòng dữ liệu được gọi là độ dài thay đổi và kỹ thuật điều khiển nó là giới hạn độ dài thay đổi (RLL). RLL được lượng tử hóa bằng cách xác định thời gian tối thiểu (Tmin) và tối đa (Tmax) giữa các bước chuyển của trạng thái dữ liệu trong kênh truyền. Giá trị Tmin tương ứng với thành phần tần số tối đa của dòng dữ liệu (xấp xỉ bằng 1,5 chu kỳ của tần số tối đa) và giá trị Tmax tương ứng với thời gian dài nhất mà mạch khôi phục đồng hồ phải giữ mà không có bất cứ đầu vào nào. Một thông số nữa là tỉ lệ mật độ của dữ liệu (DR), là tỉ lệ Tmin trên T, trong đó T là thời gian tối thiểu giữa các bước chuyển của dòng dữ liệu đầu vào trước khi mã hóa. DR càng lớn, thông tin được truyền bởi kênh xác định càng nhiều. 3.2.3.2. Thành phần DC Một đặc điểm quan trọng khác của dòng dữ liệu là thành phần dc, là số trung bình dài hạn của các giá trị bit trong dòng bit. Nó quan trọng bởi vì hầu hết các phương tiện truyền dẫn không thể truyền được giá trị dc. Mất thành phần dc của dòng dữ liệu sẽ gây ra lỗi hoặc ít nhất cũng sẽ làm giảm biên của hệ thống. Một sơ đồ mã hóa tốt phải loại bỏ hoặc giảm thiểu thành phần dc. Bảng 3.1 đưa ra danh sách một vài quá trình mã hóa và các đặc tính của nó. Đầu vào thứ nhất trong bảng, dạng xung không trở về 0 (NRZ) là khi các số “1” và “0” của tín hiệu được truyền trực tiếp lần lượt. Đây chính là cách thức mà chúng ta thường gán cho dòng bit. Trong NRZ, bước chuyển đi tới cực dương được ấn định là “1” và bước chuyển đi tới âm được ấn định là “0”. Các chuỗi của các số “1” và 60
  6. Chương 3: Truyền dẫn audio và video “0” lặp lại sẽ không tạo ra các bước chuyển tiếp. NRZ đơn giản nhưng không sử dụng được bởi vì Tmax không xác định và thành phần dc lớn làm cho quá trình trích đồng hồ không thể thực hiện được. Dạng sóng Tên ký Tmin Tmax DR Thành Tự đồng hiệu phần DC bộ 100110111 0 NRZI T ∞ 1 lớn không FM T/2 T 0,5 không có PE T/2 T 0,5 không có MFM T 2T 1 không có EFM 1,41T 5,18T 1,41 không có Bảng 3.1. Thông số của một vài quá trình mã hóa Một biến thể của NRZ là NRZI (NRZ- inverted). Ở xung NRZI có một bước chuyển tiếp (ở cả hai hướng) cho mọi bit “1” nhưng lại không có bước chuyển cho số “0”. Mã này vô cực nhưng lại giống với NRZ là Tmin = T và Tmax = ∞. Sơ đồ mã hóa FM (còn được gọi là mã đánh dấu lưỡng pha) truyền hai bước chuyển kênh cho “1” và một bước chuyển cho “0”. Nó loại bỏ thành phần dc nhưng lại giảm Tmin đi một nữa, vì vậy DR chỉ còn 0,5. Nó tự tạo xung đồng hồ. Mã PE hoặc Manchester có bước chuyển tiếp cho mọi bit, đặt ở trung tâm của ô bit. Bit “0” có bước chuyển dương và “1” có bước chuyển âm. Khi các giá trị liên tiếp là như nhau, các bước chuyển phụ có hướng đối lập được thêm vào giữa các ô bit, nó sẽ cho ra cùng một kết quả như mã hóa FM: không có DC và DR = 0,5. Ở mã MFM, hay còn gọi là điều chế trễ hoặc mã Miller, “1” được mã hóa bởi bước chuyển của cả hai hướng trị trung tâm của khoảng bit, trong khi không có bước chuyển nào ở vị trí này cho số “0”. Một chuỗi các số “0” sẽ có bước chuyển đơn cuối mỗi khoảng bit. Nó cho DR=1 với thành phần DC nhỏ. 3.2.3.3. Mã hóa nhóm Có thể thực hiện được nhiều mã trên các nhóm bit dữ liệu, cách này được sử dụng rất rộng rãi. Nó thường có dạng cộng thêm một số bit phụ nào đó với dữ liệu để cho phép kiểm soát được các đặc tính của dòng dữ liệu độc lập với dữ liệu vào bộ mã hóa. Ví dụ, một phương pháp thông dụng điều chế 8 thành 14 (EFM) chia các bit dữ liệu thành các nhóm 8 bit và cộng thêm 6 bit bổ sung cho mỗi nhóm có nghĩa là sẽ có 14 bit thực sự được truyền cho 8 bit dữ liệu. 61
  7. Chương 3: Truyền dẫn audio và video Việc chèn các bit phụ trong EFM được thực hiện bằng cách sử dụng bảng tra cứu cung cấp 14 bit cho mỗi giá trị 8 bit đầu vào (nội dung của bảng mã hóa như thế này được gọi là bảng mã) bảng có 256 đầu vào 14 bit. Do một từ 14 bit có thể biểu thị tới 16384 giá trị và chỉ có 256 là cần thiết, cho nên giá trị 14 bit thực sự cần sử dụng phải được chọn lọc cẩn thận để kiểm soát Tmin, Tmax và thành phần DC. Các cách lựa chọn khác nhau này dẫn đến các hệ thống điều chế khác nhau. Tất nhiên phương pháp phải được tiêu chuẫn hóa, bởi vì bộ giải mã phải biết nội dung chính xác của bảng mã được sử dụng. Để EFM chọn các giá trị 14 bit, sẽ có khả năng hai hay nhiều bit được chọn cặp với nhau. Khi hai bit đầu ra ứng với (2x8)/14 = 1,14 bit đầu vào, Tmin = 1,14 (Tmin được tính theo số bit đầu vào). DR có cùng giá trị, do vậy bằng cách cộng 6 bit vào 8 bit chúng ta có thể truyền được hơn 14% dữ liệu. Điều này xảy ra bởi vì sự lựa chọn các giá trị EFM 14 bit tránh được tất cả cách bước chuyển tiếp bit đơn bằng cách giảm một nửa độ rộng của kênh truyền như yêu cầu. Quá trình mã hóa EFM giới hạn số bit đầu ra theo đoạn tối đa là 7, vì vậy tính theo số bit đầu vào Tmax=(7x8)/14=4. Trên thực tế, quá trình EFM phức tạp hơn quá trình được miêu tả trên đây rất nhiều do không đủ các giá trị 14 bit tương ứng đầy đủ mọi điều kiện khi xem xét một chuỗi mã 14 bit kề nhau. Để đảm bảo các mô hình bit được tạo ra tại quá trình ghép các đoạn mã 14 bit không vi phạm các điều kiện của hệ thống đặc ra cho Tmin, Tmax và thành phần DC, bộ mã hóa EFM cũng phải kiểm tra tình trạng này và chọn 1 trong 4 giá trị 14 bit xen kẽ phù hợp. Vì vậy, bảng tra cứu sự thực phải lưu trữ được 1024 giá trị bit. Danh sách trong bảng 3.1 cũng đưa ra các thông số cho mã EFM đặc biệt sử dụng cho máy ghi hình từ tính D-3. 3.2.3.4. Mô hình dạng mắt Tín hiệu số tiêu biểu trong một kênh truyền dẫn sẽ bị lẫn tạp âm như mô tả trong hình 3.4(a). Một đồng hồ được trích từ tính hiệu này cũng có thể có sự dịch chuyển thời gian tương đối so với tín hiệu. Để kiểm tra hệ thống, hai trong những đặc tính này có thể quan sát thấy trên máy hiện sóng bằng cách hiển thị tín hiệu với các xung răng cưa quét dòng đồng bộ với xung đồng hồ được trích. Đây gọi là mô hình dạng mắt và được mô tả trên hình 3.4(b). Mô hình này chỉ ra tín hiệu dịch chuyển xung quanh một vùng mở (dạng mắt), trung tâm của nó có thể biểu thị điểm lấy mẫu lý tưởng của tín hiệu, tức là tại đó có thể nhận được sự phân tách dữ liệu đáng tin cậy nhất. Khi chỉ tiêu truyền dẫn không đặt lên hàng đầu, mắt sẽ nhỏ hơn và việc xác định điểm lấy mẫu càng phải được giới hạn để duy trì tỉ lệ lỗi thấp. Như đã minh họa trên hình, độ cao và độ rộng của mắt theo thứ tự biểu thị biên của biên độ và biên của pha. 62
  8. Chương 3: Truyền dẫn audio và video 3.2.3.5. Nhận dạng định dạng dữ liệu Khả năng phát hiện các số “1” và “0” của dữ liệu được mã hóa chỉ là một phần của quá trình đồng bộ hóa. Người ta cũng phải xác định vị trí các đặc điểm duy nhất của định dạng dữ liệu để thông tin thực có thể được hồi lại. Ví dụ, giải mã định dạng EFM được miêu tả trong phần 3.2.3.3 yêu cầu phải xác định vị trí của bit chính xác tại điểm mỗi mô hình 4 bit bắt đầu. Việc này thường được thực hiện bằng cách xác định một đoạn bit duy nhất (từ đồng bộ) được chèn vào dữ liệu mã hóa. Khi hồi phục, tìm từ đồng bộ có nghĩa là (ví dụ ở EFM) bit dữ liệu tiếp theo đó chính là điểm xuất phát của một từ được mã hóa 14 bit. Trong những trường hợp khác, các bit tiếp sau từ đồng bộ có thể là điểm xuất phát của một đầu xác định mức đầu tiên của định dạng dữ liệu. Tất nhiên, mã hóa phải được thiết kế để từ đồng bộ là duy nhất, tức là dữ liệu ngẫu nhiên không thể tạo ra từ đồng bộ. Một vài sơ đồ mã hóa tiến bộ hơn như EFM tự động cung cấp các định dạng các từ đồng bộ duy nhất. Clock lấy mẫu Biên pha Mức ngưỡng tối Biên biên độ Vị trí lấy mẫu tối ưu Hình 3.4. Mô hình mắt: a) dạng sóng dữ liệu, b) mô hình mắt Phần cứng có chức năng tìm từ đồng bộ rất đơn giản, người ta sử dụng cấu hình của thanh ghi dịch nối tiếp-song song. Dữ liệu mã hóa có chứa các từ đồng bộ tại các vị trí chưa biết truyền liên tục tới đầu vào nối tiếp của thanh ghi dịch. Các mức song song được chốt trong mọi chu kỳ đồng hồ nối tiếp và tất cả các bit nối tiếp của đầu ra song song được so sánh với từ đồng bộ mong muốn. Nếu tất cả các bit so sánh, từ đồng bộ được tìm thấy. Quá trình này có thể được thực hiện bằng phần mềm mặc dù đối với tín hiệu video, như vậy sẽ đòi hỏi tốc độ xử lý nhanh và vẫn phải cần đến sự hỗ trợ của phần cứng. 3.2.4 Điều chế 63
  9. Chương 3: Truyền dẫn audio và video Như đã giải thích ở phần 3.2.1, quá trình xây dựng cấu hình một dòng dữ liệu đã được mã hóa cho truyền dẫn tối ưu trên kênh truyền analog xác định gọi là điều chế. 3.2.4.1. Đặc tính kênh truyền Một kênh truyền có thể được đặc tả bởi các đạt tính truyền đạt analog bao gồm các đặc tính của đặc tuyến số, SNR, độ ổn định thời gian gốc và độ tuyến tính của biên độ. Ví dụ các kênh truyền như đường điện thoại, cáp sợi quang, cáp đồng trục, máy ghi từ tính, các kênh quảng bá vệ tinh, và các kênh quảng bá mặt đất. Mỗi loại này điều có đặc tính riêng, cần đến các phương tiện điều chế khác nhau để đạt được khả năng truyền dẫn số tốt nhất. 3.2.4.2 Biểu trưng (Symbol) Như đã đề cập ở phần trước, tín hiệu của kênh bao gồm những dòng các bit có giá trị “1” hoặc “0”, hoặc một dòng chuyển tiếp giữa các giá trị nhị phân. Để hỗ trợ phần bàn luận về các phương pháp điều chế tiến bộ hơn, việc đưa ra định nghĩa về khái niệm Symbol là rất cần thiết. Symbol là đơn vị cơ bản của dữ liệu được mang đi tại một thời điểm bởi tín hiệu kênh truyền. Mỗi symbol có thể mang một số bit được xác định thông qua phương pháp điều chế mà kênh sử dụng. Điều chế có thể được coi như một quá trình chuyển đổi các bit dữ liệu sang symbol. Giải điều chế là quá trình chuyển đổi các symbol ngược trở lại dạng bit. Phương pháp điều chế tốt nhất cho một kênh truyền chuyên biệt sẽ truyền số bit nhiều nhất/symbol, các giá trị thông dụng của bit/symbol trong khoảng từ ½ đến 4. Những giá trị lớn hơn có thể sử dụng nhưng không thông dụng bởi vì khi đó phải cần đến các chỉ tiêu về SNR và tuyến tính của kênh quá cao. Cần phải có một chu kỳ thời gian nhỏ cho tín hiệu của kênh truyền một symbol độc lập với các symbol gần kề. Chu kỳ này xác định tỉ lệ symbol khác nhau cho kênh (việc xác định này phụ thuộc vào dải thông của kênh). Tốc độ truyền dữ liệu được xác định bằng các bit/symbol nhân với tỉ lệ symbol. Hầu hết bản chất các kênh là analog và gần như tuyến tính. Chính vì vậy, chúng có khả năng xử lý nhiều hơn hai giá trị. Phụ thuộc vào SNR và các đặc tính khác của kênh, việc truyền dữ liệu số với chỉ hai giá trị có thể gây lãng phí dung lượng kênh truyền. Khi các symbol có giá trị lớn hơn hai, khả năng truyền số bit/mẫu lớn hơn là hoàn toàn có thể. 3.2.4.3 Symbol đa mức Tại đầu thu cuối của kênh truyền, tín hiệu chứa lẫn tạp âm tham nhập trong quá trình truyền. Một đồng hồ symbol được khôi phục, sử dụng lấy mẫu tín hiệu với mục đích khôi phục các giá trị symbol. Tuy nhiên, các giá trị này phải được lượng 64
  10. Chương 3: Truyền dẫn audio và video tử hóa để chuyển đổi chúng sang các giá trị số thực sự. Trong trường hợp một hệ thống chỉ có hai mức symbol, mỗi symbol sẽ lượng tử thành một bit. Tất nhiên, nhiều mức symbol sẽ lượng tử thành nhiều bit hơn. Ví dụ, nếu hệ thống được thiết kế cho 4 mức, mỗi symbol sau đó sẽ lượng tử thành hai bit. Số mức symbol nhiều hơn sẽ đòi hỏi SNR của kênh truyền cao hơn để lượng tử hóa thành công. Tuy nhiên, tốc độ dữ liệu của hệ thống cho một dải thông xác định sẽ tăng lên theo năng lượng của hai trong số các mức. Hoạt động đa mức dựa trên biên độ tín hiệu tất nhiên sẽ yêu cầu độ tuyến tính biên độ của kênh rất cao. Ví dụ, các máy ghi từ có kênh có độ phi tuyến cao, không thể sử dụng các symbol đa mức. Các symbol đa mức tạo sự đánh đổi có hiệu quả giữa SNR và dải thông. Ví dụ điển hình của các symbol đa mức là hệ thống truyền dẫn HDTV Grand Alliance (xem phần 3.4.3) truyền tốc độ dữ liệu thực là 19,3 MB/s trên kênh TV 6 MHz. 3.2.4.4. Các phương pháp điều chế Các giá trị symbol có thể được truyền trên các kênh analog bằng cách điều chế biên độ, điều chế pha, hay điều chế tín hiệu kênh hoặc bằng cách kết hợp những thông số này. Thông thường, một tần số sóng mang được điều chế với dữ liệu mã hóa, nó cho kết quả là phổ dữ liệu bị dịch chuyển tới các vùng lân cận của tần số sóng mang. Sử dụng các phương pháp kết hợp (như điều chế biên độ và pha) là cách thức để tăng các mức symbol. Đối với các hệ thống sử dụng sóng mang, có thể quan sát rõ symbol tăng lên bằng cách nhìn vào đồ thị vector của nó. Những đồ thị này có tên là đồ thị trạng thái tín hiệu nhưng do hình dạng bên ngoài nên đôi khi nó được gọi là đồ thị chòm sao. 2-AM 4-PSK 8-PSK 16-PSK Hình 3.5. Đồ thị thiết lập của các phương pháp điều chế Như minh họa ở hình 3.5 với bốn loại điều chế. AM được hiểu là điều chế biên độ và 2-AM là điều chế biên độ bằng tín hiệu nhị phân. PSK biểu thị khóa dịch pha hoặc điều chế pha, 4-PSK biểu thị điều chế đa mức 2 bit còn 8-PSK là điều chế đa mức 3 bit. QASK chính là khóa dịch biên độ cầu phương hoặc điều chế biên độ cầu phương, là sự kết hợp của điều chế pha và điều chế biên độ 4bit/mẫu. 65
  11. Chương 3: Truyền dẫn audio và video 3.2.5. Phát hiện và sửa lỗi Tất cả các kênh truyền số thực thỉnh thoảng gây ra các lỗi bit. Đều này được đặc tả bằng cách xác định tỉ lệ lỗi bit cho kênh (BER), có nghĩa là khả năng gây ra lỗi bit đơn. BER thường được xác định bằng lũy thừa của 10. Ví dụ, một kênh trung bình tạo ra một lỗi bit trong số 1.000.000 bit có BER là 10-6. Phụ thuộc vào loại dữ liệu tham gia, các lỗi bit có thể có giá trị lớn hoặc nhỏ. Những hệ thống thông dụng được thiết kế để bỏ qua một mức lỗi nào đó của kênh bằng cách sử dụng kỹ thuật bảo vệ chống lỗi. Khả năng phát hiện và sữa lỗi này của các hệ thống số là một ưu điểm lớn so với các hệ thống analog. Đây chính là lý do tại sao lỗi truyền dẫn không gây ra lỗi dữ liệu nghiêm trọng, và các lỗi này không tích tụ lại khi hệ thống được mở rộng. Vấn đề lỗi được quan tâm ở mọi điểm trong hệ thống số, và việc phát hiện và sửa lỗi là một yếu tố quan trọng trong mọi quá trình xử lý, không chỉ riêng quá trình truyền dẫn. Trong hệ thống truyền dẫn, các đặc điểm phát hiện-sửa lổi được thiết lập ở mọi khâu của quá trình mã hóa và cùng với sự kế hợp của một vài công nghệ, có thể sẽ có các hệ thống mạnh mẽ thực sự (BER thấp) hoạt động thành công trên kênh truyền nhiều lỗi (BER cao). 3.2.5.1. Thống kê lỗi Thống kê lỗi rất quan trọng trong việc thiết kế các hệ thống bảo vệ chống lỗi. Các lỗi có thể xảy ra như là các lỗi bit đơn riêng lẻ hay các lỗi burst có độ dài bất kỳ. Việc phát hiện-sửa các lỗi đơn dễ hơn xử lý các lỗi burst dài rất nhiều. Khi cần sữa các lỗi burst, cách hiệu quả nhất là chèn dữ liệu trước khi áp dụng các phương pháp phát hiện-sửa lỗi khác. Chèn dữ liệu mở rộng các lỗi burst một cách có hiệu quả thành một số lượng các lỗi bit đơn riêng rẽ, sau đó sẽ rất dễ sửa. 3.2.5.2. Nguyên tắc phát hiện-sửa lỗi Ý tưởng cơ bản của quá trình phát hiện-sửa lỗi là tạo ra sự dư thừa trong dòng bit dữ liệu. Sự dư thừa này có hình dạng các bit phụ, được cấu hình đặc biệt tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát hiện và sửa lỗi ở đầu thu cuối của hệ thống truyền. Hình 3.6 đưa ra một sơ đồ khối xây dựng theo quan niệm này. Ở đầu ra của hệ thống truyền dẫn, các bit thừa được kiểm tra để xác định số lỗi và các hoạt động phù hợp. Trong một vài trường hợp, lỗi có thể phát hiện nhưng không được sửa, nó có thể vẫn có khả năng che lỗi. Điều này sẽ trình bày trong phần 3.2.5.8. Việc so sánh các chỉ tiêu kỹ thuật của kênh truyền số và tương tự khá thú vị. Trong hầu hết các kênh analog, sự suy giảm của kênh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tín hiệu và khi kênh bị suy giảm, chỉ tiêu tín hiệu cũng suy giảm tương tự, nhưng tín hiệu không bao giờ bị mất hoàn toàn. Trong hệ thống số có khả năng phát hiện-sửa 66
  12. Chương 3: Truyền dẫn audio và video lỗi, sự suy giảm của kênh không ảnh hưởng đến tín hiệu cho đến khi các chỉ tiêu của kênh trở nên quá kém và hệ thống phát hiện-sửa lỗi bị quá tải. Điều này có nghĩa là một hệ thống số sẽ duy trì chỉ tiêu của nó cho đến tận điểm giới hạn của chỉ tiêu, hoặc sẽ mất hoàn toàn. Đây được gọi là hiệu ứng vách đá (hiệu ứng này xảy ra giống như trong điều chế FM ở hệ thống analog khi mức sóng mang FM ở dưới mức giới hạn). Báo hiệu lỗi không được sữa Dữ liệu dư Ngỏ ra Ngỏ vào Kênh Phát hiện thừa được Che lỗi dữ liệu dữ liệu truyền và sửa lỗi thêm vào Hình 3.6 Sơ đồ khối tổng quát quá trình phát hiện và sửa lỗi 3.2.5.3. Tính chẵn lẻ Dạng phát hiện lỗi đơn giản nhất sử dụng một bit đơn phụ cộng vào dòng bit theo chu kỳ. Ví dụ, một bit phụ có thể được chèn vào bit nhớ thứ 8 trong dòng bit . Bit này có một giá trị khiến các số “1” trong số tám bit cộng với một bit phụ luôn là giá trị chẵn. Đây được gọi tính chẵn và bit phụ gọi là bit chẵn lẻ. Để kiểm tra lỗi của dòng bit, người ta cộng tất cả các giá trị của bit “1” trong nhóm bit 9, nếu kết quả là một số lẻ sẽ xuất hiện một hoặc nhiều lỗi. Về hình thức, có vẽ như sơ đồ này chỉ phát hiện số lẻ của các lỗi trong nhóm, các số chẵn của lỗi sẽ không bị ảnh hưởng tới quá trình kiểm tra chẵn lẻ, sẽ xuất hiện một hoặc nhiều lỗi. Bởi vì tính chẵn lẻ chỉ thật sự hoạt động đối với các lỗi đơn trong nhóm và chỉ phát hiện ra sự có mặt của lỗi chứ không thể chỉ ra chính xác bit nào bị lỗi, nên nó chỉ được sử dụng trong những trường hợp đặc biệt như các bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên hoặc các hệ thống liên lạc đơn giản như RS-232. 3.2.5.4. Các mã sản phẩm Khái niệm nề tính chẵn lẻ có thể được cũng cố bằng cách áp dụng vào một khối dữ liệu. Ví dụ, 64 bit dữ liệu có thể được đưa vào một mảng hai chiều có kích thước 8×8 bit. Nếu bit chẵn lẻ được đánh dấu cho mỗi hàng và mỗi cột của mảng, khi đó có thể xác định lỗi và vị trí của nó trong mảng. Sau đó, lỗi có thể sửa bằng cách đổi dấu bit đơn giản tại vị trí được ấn định. Đây là trường hợp đơn giản nhất của mã sản phẩm. Hình 3.7 chỉ ra cách thức hoạt động của nó. Tính chẵn lẻ được chỉ ra ở mỗi hàng và mỗi cột, khi lỗi được phát hiện ở hàng hoặc ở cột, bit ở điểm giao nhau giữa hàng và cột là bit bị lỗi. Sơ đồ này chỉ có thể phát hiện ra một lỗi trên 67
  13. Chương 3: Truyền dẫn audio và video khối, nhưng khái niệm có thể được mở rộng để thực hiện sửa lỗi nhiều hơn như giải thích dưới đây. Trong ví dụ về mã sản phẩm trên hình 3.7, 16 bit chẵn lẻ được tạo ra cho mỗi khối dữ liệu 64 bit. Cách xử lý thông thường để truyền dẫn là truyền khối dữ liệu không thay đổi và gán các bit chẵn lẻ vào dòng bit. Đây được gọi là ghi mã có hệ thống. Hầu hết ứng dụng phát hiện và sửa lỗi đều sử dụng các mã hệ thống. Trước khi truyền Sau khi truyền 8 byte dữ liệu 0 0 10110010 10110010 1 1 01100111 01100111 0 0 10100101 10100101 1 1 11111110 11111110 1 1 00011100 00011100 1 0 11000110 11010110 0 0 01001101 01001101 0 0 00101011 00101011 00110010 00110010 Cột chẵn lẻ Hàng chẵn lẻ Hai lỗi chẵn lẻ xác định một lỗi bit Hình 3.7. Tính chẵn lẻ hai chiều cho sửa lỗi bit đơn 3.2.5.5. Các mã tiến bộ hơn Thuyết về các mã phát hiện và sửa lỗi trở nên cực kỳ phức tạp và thiên về toán học nhiều hơn, sẽ không được giới thiệu ở đây. Tuy nhiên, một vài khái niệm then chốt sẽ được trình bày giúp đọc giả có những hiểu biết về một số phương pháp không thông dụng khác. Ví dụ, khối 8×8 đã nêu ở trên với tính chẵn lẻ hai chiều có thể được quan sát như là tám từ dữ liệu 8 bit cộng với hai từ 8 bit dư thừa, tại đây, các từ dư thừa được tính toán như độ chẵn lẻ của hàng và cột. Nhưng vẫn có những cách tính toán dư thừa khác, và các từ bổ xung cũng có thể được cộng thêm. Phương pháp này tạo ra rất nhiều cơ hội lựa chọn chỉ tiêu lỗi để phù hợp với các ứng dụng khác nhau. 3.2.5.6. Mã Reed-Solomon Một mã phát hiện và sửa lỗi được sử dụng rộng rãi là mã Reed-Solomon. Mã này được sử dụng trong các máy ghi video và audio, đĩa chuyển đổi, hệ thống HDTV Grand Alliance, và nhiều hệ thống khác. Đây là hệ thống mã khối có thể sửa rất nhiều lỗi trên một khối. Ví dụ, một khối có chứa 20 byte biên phát hiện và sửa 68
  14. Chương 3: Truyền dẫn audio và video lỗi R-S có khả năng sửa tới 10 byte lỗi trên một khối. Sự lựa chọn khả năng sửa lỗi được thực hiện trong quá trình thiết kế hệ thống. Quá trình xử lý hết sức phức tạp, tuy nhiên với các mạch tích hợp có sẵn, việc lắp đặt trở nên dể dàng. Các mã R-S được xác định bằng cách đưa ra số byte trong khối tổng và số byte trong phạm vi dữ liệu. Ví dụ, mã được sử dụng trong hệ thống truyền dẫn Grand Alliance, được gọi là mã (207, 187) bởi vì kích cỡ của khối tổng là 207 byte và có 20 byte của mã chẵn lẻ R-S, còn lại 187 byte cho dữ liệu. 1 2345678 9 10 11 12 13 14 15 16 Mã hoá Ghi 17 18 19 20 21 22 23 24 hàng 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18… 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 64 Đọc cột 1 9 17 25 33 41 49 57 2 10 18 26 34 42 50 58… Giải mã 1 9 17 X X X 49 57 2 10 18 26 34 42 50 58 Ghi 3 11 19 27 35 43 51 59 hàng 4 12 20 28 36 44 52 60 5 13 21 29 37 45 53 61 1 9 17 X X X 49 57 2 10 18 26 34 42 50 58… 6 14 22 30 38 46 54 62 7 15 23 31 39 47 55 63 8 16 24 32 40 48 56 64 Đọc cột …23 24 X 26 27 28 29 30 31 32 X 34 35 36 37 38 39 40 X 42 43… Burst lỗi được chuyển thành các bit đơn Hình 3.8. Chèn các bit lỗi khôi phục thành các bit lỗi độc lập Một khối dữ liệu được đọc cho các hàng của bộ nhớ cấu trúc theo mảng hai chiều. Dữ liệu sau đó sẽ được đọc ra từ bộ nhớ theo cột. Quá trình ngược lại được thực hiện khi khôi phục. Nếu burst lỗi (chữ × trong hình) xảy ra khi tín hiệu ở trong định dạng được chèn nó sẽ được chuyển thành các lỗi bit đơn khi dữ liệu không được chèn cho đến khi hồi phục. Kỹ thuật này được sử dụng rộng rãi cho các hệ thống như các máy ghi từ nhạy cảm với burst lỗi. 3.2.5.7. Mã chèn chéo 69
  15. Chương 3: Truyền dẫn audio và video Hiện tại, người ta vẫn tiếp tục cải tiến bằng cách đưa quá trình quét lớp vào giữa hai khoảng của mã phát hiện và sửa lỗi Reed-solomon. Đây được gọi là chèn chéo và minh họa như hình 3.9. Ngỏ vào Mã R-S Chèn Mã R-S Điều chế dữ liệu ngoài dữ liệu trong Kênh truyền Giải Sửa lỗi Rút Sửa lỗi Ngỏ ra điều chế R-S trong trích R-S trong dữ liệu Hình 3.9. Chèn chéo Dữ liệu đầu vào được chia thành các khối R-S với mã thừa (mã ngoài), sau đó đọc cho bộ nhớ chèn. Bộ nhớ các một hàng trên một khối R-S. Đầu ra được chèn từ bộ nhớ sau đó sẽ đưa tới một mã R-S khác (mã trong). Khi khôi phục, quá trình này sẽ được đảo ngược lại. Mã trong có thể sửa các lỗi bit đơn xảy ra ở kênh, tuy nhiên nó không thể sửa được các bit lỗi, các burst lỗi này phải được sửa bởi các mã ngoài. Chèn chéo được sử dụng gần như trong tất cả các hệ thống ghi từ và quang. 3.2.5.8. Che lỗi Trong một vài trường hợp, hệ thống phát hiện sửa lỗi có thể phát hiện nhưng không sửa được lỗi. Nếu sự tồn tại của lỗi ở những khối dữ liệu là rõ rệt có thể có các kỹ thuật khiến nó trở nên khó nhận biết hơn hoặc khó nghe được trong quá trình tái tạo. Điều này phụ thuộc vào sự xuất hiện của lỗi cũng như các yếu tố tâm vật lý ảnh hưởng đến cách mà con người có thể nhận biết được sự bất bình thường. Tại điểm phát hiện lỗi, bộ xử lý phát hiện lỗi hiện sửa lỗi có thể tạo ra một cờ. Bộ xử lý này cũng cũng sẽ chỉ ra khối dữ liệu đặc biệt có chứa lỗi chưa được sửa. Ý nghĩa của lỗi đối với việc tái tạo sẽ phụ thuộc vào quá trình mã hóa số audio hoặc video ở điểm xảy ra lỗi. Ví dụ, nếu chúng ta xử lý với audio ở PCM tuyến tính, một lỗi bit đơn sẽ là một lỗi ở giá trị mẫu đơn. Mẫu này có thể được nghe thấy như một click trong quá trình tạo. Độ cao của tiếng click sẽ phụ thuộc vào ý nghĩa từ mẫu của bit bị lỗi. Tuy nhiên, nếu tính hiệu audio được mã hóa trong định dạng nén, một lỗi bit đơn sẽ gây thiệt hại nhiều hơn và có thể phải cần đến một kỹ thuật che khác. 70
  16. Chương 3: Truyền dẫn audio và video Tiếp tục với trường hợp tín hiệu audio được mã hóa PCM, có một số khả năng che mẫu đơn được phát hiện có lỗi. Hình 3.10 minh họa một dạng sóng đầu vào được lấy mẫu và ba trường hợp dạng sóng đầu ra với một lỗi mẫu đơn lẻ. Trường hợp thứ nhất (b) là với lỗi chưa được sửa. Tiếp theo (c) là để thay thế mẫu bị lỗi với giá trị của mẫu trước, và cuối cùng (d) được đặt xen vào giữa các mẫu trước và mẫu tiếp theo để tạo ra một giá trị che. Tất cả đều hoạt động dựa trên cơ sở là tín hiệu audio được lấy mẫu thường không thay đổi từ mẫu này sang từ mẫu khác. Hình 3.10. Che lỗi a) dạng sóng ban đầu được lấy mẫu, b) một mẫu lỗi, c) mẫu lặp lại, d) nội suy. Burst lỗi lấy ra một số mẫu audio liên tiếp là một trường hợp khác, khó hơn. Như vậy sẽ có sự thay đổi nhỏ trong tín hiệu khi lỗi không còn hiệu lực. Trong trường hợp này phải có một kỹ thuật che dấu tốt hơn thay thế cho các mẫu bị phá hủy bởi các burst có các giá trị bằng không. Nó có thể đưa ra một đứt đoạn ngắn cho âm thanh nhưng vẫn tốt hơn một burst của tạp âm ngẫu nhiên (nếu không sử dụng kỹ thuật che) và thậm chí có thể nó còn tốt hơn cả kỹ thuật bit đơn. Kỹ thuật che ở video tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn bởi vì sự dư thừa là cố hữu trong tín hiệu video được quét. Một lần nữa, coi như quá trình mã hóa PCM tính hiệu video là tuyến tính. Một lỗi mẫu đơn lẻ sẽ xuất hiện như là một chấm ở độ sáng hoặc màu sai trên ảnh. Các kỹ thuật được sử dụng cho audio sẽ hoạt động rất tốt để che lỗi này của video, tuy nhiên các kỹ thuật này không đáp ứng được cho các bit lỗi. Các burst lỗi có thể được che bằng cách thay thế các vùng lỗi bằng thông tin từ dòng trước hoặc khung hình trước của ảnh. Các kỹ thuật này dựa trên quan điểm cơ sở là ảnh video thường không thay đổi nhiều từ dòng nọ sang dòng kia hoặc từ 71
  17. Chương 3: Truyền dẫn audio và video khung hình này tới khung hình kia. Tuy nhiên, với mục đích che lỗi, tất cả những phương pháp này đều yêu cầu hệ thống phải có bộ nhớ để lưu trữ các dòng hoặc khung hình trước. Vì những lý do khác, hầu hết các hệ thống đều đã có các bộ nhớ này, vì vậy việc thêm khả năng che lỗi có thể được thực hiện mà không quá tốn kém. Phần trên chỉ dành cho quá trình mã hóa PCM. Khi các quá trình mã hóa khác được sử dụng, đặc biệt là khi có sự tham gia của quá trình nén, che lỗi trở thành quá trình mã hóa đặc thù và phải được quan tâm đến trong quá trình thiết kế phần mã hóa. 3.2.6. Đóng gói Phần bàn luận trước về quá trình phát hiện và sửa lỗi đã giới thiệu rất nhiều kỹ thuật hoạt động dựa vào quá trình phân chia một dòng bit thành các khối. Còn có những ưu điểm khác của các khối dữ liệu trên kênh thông tin được gọi là gói. Các gói này được sử dụng rộng rãi trong các hệ thống viễn thông, mạng máy tính. Ý tưởng của gói là dòng dữ liệu được chia thành một chuỗi các khối, tại đó mỗi khối chứa một header để nhận dạng gói và dữ liệu xác định. Các gói có thể có kích thước giống nhau hoặc khác nhau với các header xác định kích thước của mỗi gói. Ở đầu thu cuối, các gói được giải mã ngược trở lại định dạng video có nén sau đó sẽ được giải mã thành tín hiệu video để hiển thị. 3.2.6.1. Ưu điểm của quá trình đóng gói 1. Truyền dẫn gói tạo ra một đường linh hoạt để xác định vị trí của kênh truyền động cho nhiều dòng bit. 2. Nhiều dòng bit của các loại dữ liệu khác nhau có thể được truyền cùng nhau trên cùng một kênh. Việc xác định vị trí trước cho một dòng bit là cần thiết, các gói của dòng bit có thể đơn giản là “trượt vào” dòng gói mỗi khi chúng xảy ra. Điều này sẽ dừng lại khi vượt quá dung lượng tổng cộng của kênh. 3. Cùng với khả năng phát hiện sửa lỗi có thể đã có ở đầu vào của các dòng bit, các gói có thể chứa mã phát hiện và sửa lỗi riêng của mình. 4. Cùng với nhận dạng, các header của gói chứa các thông tin đích đến, do vậy hệ thống có thể được thiết kế với khả năng phân tuyến các gói độc lập tới các đích khác nhau. Đây là cơ sở của các mạng điện thoại chuyển mạch gói đang dùng hiện nay và cho cả Internet. Quá trình đóng gói có sự tham gia của các overhead bổ sung dưới dạng cấu trúc của các header gói chỉ phù hợp trong các trường hợp các ưu điểm được liệt kê trên đây là quan trọng. 72

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản