HẠ GLUCOSE MÁU
(Kỳ 4)
2.2. Bệnh nhân không mắc bệnh đái tháo đường:
2.2.1. Các xét nghiệm cần làm.
Chẩn đoán thường khó đòi hỏi nhiều phương tiện như lượng Insuline máu,
C Peptide và các kích tố hoặc các chất khác và các test như sau:
(1) Nghiệm pháp nhịn ăn. Bệnh nhân bắt buộc phải nằm viện nhịn ăn hoàn
toàn hoặc chế độ ăn hạn chế glucide (50g glucid, 50g protid và 70 g lipid).
Thời gian nhịn: Nhịn ăn cho đến lúc xuất hiện triệu chứng hạ đường huyết
hoặc 3 ngày với lao động.
- Xét nghiệm cần làm đồng thời:
+ Đường máu mao mạch và tĩnh mach (gửi phòng xét nghim) mỗi 4 giờ
cho đến khi xuất hiện dấu hạ đường.
+ Định lượng insulin.
+ Định lượng peptide C huyết tương.
- Đoán nhận:
Dựa vào tỷ lệ insulin/glucose (I/G) theo 2 công thức sau:
Insulin (pmol/l) / glucose (mmol/l) (20 (bình thường).
Hoặc (100 X insulin (U/ ml) / (đường máu - 30 mg%) (50 (bình thường)
Lưu ý: 1(U / ml = 7,17 pmol/l.
(2) Test hạ glucose máu bằng insulin như sau:
Bệnh nhân cần được theo dõi sát.
Kỹ thuật: lấy máu định lượng đường và peptide C vào các thời điểm Gn.
Liều insulin 0,1 UI/kg (loại insulin tác dụng nhanh).
Đánh giá kết quả:
- Hđường huyết khi đường máu dưới 50 mg/dl.
- Hãm tiết insulin nội sinh được xác định nếu peptide C huyết tương giảm
dưới 65% gíá trị bình thường.
- Không hãm hoặc hãm yếu: u tuyến tiết insulin, hạ đường do dùng
sulfamide. Không m peptide C chứng cớ tiết insulin nội sinh tự động cần
phải thăm dò nguyên nhân bằng chẩn đoán hình ảnh. Như định vị u tiết insulin
bằng chụp CT scanner.
Chụp mạch chọn lọc động mạch mạc treo tràng trên. Phân tích u tuyến tiết
insulin đơn độc trong bệnh cảnh đa nội tiết thI, chủ yếu trẻ em, thể tăng sản
đảo lan tỏa, không nhìn thấy (nesidioblastose).
2.2.2. Chẩn đoán nguyên nhân hướng đến do: Cần phân biệt 2 tình huống:
Hạ đường huyết thực thể và hđường huyết chức năng.
(1) Hđường huyết thực thể:
Thường xảy ra khi bụng đói, buổi sáng, ăn muộn hoặc bỏ bữa, sau vận
động quá mức. Biểu hiện m ng thường nặng. Cần chú ý đến điều kiện, tình
hung xảy ra cũng như yếu tố phối hợp. Định lượng đồng thời glucose máu,
insulin peptide C. thtạo lại tình huống bằng nghiệm pháp nhịn ăn. 3
tình huống xảy ra như sau:
1. Insulin máu, peptide C và tỷ insulin/glucose đều tăng.
U tiết insulin, kích thích tiết insulin nội sinh do thuốc hay không, Sulfamide
hạ đường huyết, Quinin.
2. Insulin và tinsulin/glucose đều tăng nhưng peptid C thấp.
Dùng insulin ngoại sinh, chứng giả bệnh, nghiệm pháp phạm pháp
(manoeuvre criminelle). m kháng th kháng insulin nếu dùng insulin bò, heo
không có nếu dùng insulin người.
3. Insulin thấp, tỷ insulin/glucose bình thường hoặc thấp.
thliên quan đến bệnh tật, nhiễm độc hoặc do thuốc hạ đường huyết do
u ngoài tụy (u mạc treo định vị phúc mạc, sau phúc mạc, lồng ngực), u gan, u vỏ
thượng thận, u biểu mô. Thường hạ đường huyết tái diễn, nặng. Chẩn đoán dễ do u
lớn, chụp CT scanner, định lượng tăng IGF2 (insulin like growth factor 2).
(2) Hđường huyết chức năng:
Thường xảy ra 2-4 gisau ăn, thường không dấu thần kinh cảm giác.
Rất hiếm khi hôn mê. Biểu hiện đói cồn cào đmồ hôi. Bệnh nhân thường
tiền sử cắt dạ dày, nối vị tràng, cắt thần kinh X chọn lọc. Đó là hđường huyết do
cường insulin (do thức ăn xuống quá nhanh trong ruột non) cần phân biệt hội
chứng Dumping. Cần phải định lượng đường máu khi xảy ra sự cố trên. Cần thực
hiện lại test. Bệnh nhân không can thiệp bệnh dạ dày (thường là phnữ) hạ
đường huyết do cường insulin hoặc nhạy cảm quá mức đối với insulin. Phản ứng
thần kinh thực vật mà không phải hạ đưòng huyết ở phụ nữ lo âu và trầm cảm.
2.3. Một số tình huống đặc biệt:
- Ngđộc rượu cấp: hạ đường huyết luôn tìm kiếm người hôn mê do
rượu, suy dưỡng.
- Nhiễm độc gan: Glycol, tetrachlorure de carbone, annannite phalloide.
- Dùng Hypoglycine (trái cây xanh ở vùng Jamaique).
- Bệnh nặng: suy thận, suy gan, suy tiền yên, suy thượng thận cấp, suy
dưỡng, suy tim, choáng nhiễm trùng.
- S dụng một số thuốc như (acetaminophene, ức chế bêta, chlorpromazine
+ orphenadrine, ethionamide, disopyramide, haloperidol, maleate de perhexilline,
quinine, pentamidine, propoxyphene, salicyles)...