Hình ý quyền (võ Thiếu Lâm)
Hình ý quyền (tiếng Anh phiên âm ttiếng Hoa Xing Yi Quan.[1], còn có tên
khác là Lục hợp quyền, xuất xứ từ Thiếu Lâm Tung Sơn Nam, có đặc điểm là
thế quyền nhanh gọn, gấp gáp, nghiêm ngặt, mạnh bạo so với các môn quyền của
trường phái Đạo gia chủ ôn nhu trầm ổn, dìu dặt và khoan thai.
Bài viết này không đề cập đến bài Hình ý quyền (Võ Đang) mà là bài Hình ý
quyền còn gọi là Tâm Ý Lục hợp quyền và đôi khi lầm lẫn với tên bài Tâm ý b
cũng của Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam.
[sửa] Nguồn gốc và danh xưng
Hình ý quyền "hình, thần kiêm bị". Hình ý quyền là một loại quyền trong võ thuật
, còn gọi là "tâm ý quyền", "tâm ý lục hợp quyền" hoặc vắn tắt là "Lục hợp
quyền".
Về tên gọi của Hình ý quyền cũng có nhiều cách nói khác nhau : có người
cho rằng vì loại quyền này yêu cầu "tâm, ý thành ở bên trong, tay chân cơ
thể hình bên ngoài ", ngoại hình và nội ý phải thống nhất cao độ, do đó
mới đặt tên là "Hình ý quyền".
Có người lại cho rằng loại quyền này có ý tượng hình, lấy phép làm quyền,
biểu hiện sự đặc sắc của nhiều loại động vật như hổ thì dũng mãnh, khỉ thì
nhanh nhẹn, v.v.. mà thành tên.
Từ đây, bắt đầu có sự nhập nhằng về tên gọi của chúng giữa Hình ý quyền
và Hình ý linh thú quyền lại cũng được diễn dịch là Hình ý quyền mà lra
nên gọi chính xác là Tượng hình quyền vì các loi quyền thuật này mô
phỏng các động tác của các loài động vật hoang dã trong thiên nhiên.
Về nguồn gốc của Hình ý quyền, theo Jacques Nguyễn Q Dufresne Thomas
[2] khảo chứng thì do Cơ Long Phong (có chỗ gọi Cơ Long Phụng, vì hai ch
Phong và Phụng viết dễ lẫn nhau) người Bồ Châu tỉnh Sơn Tây (Trung Quốc) sáng
tác ra, cho tới nay đã có hơn 300 năm lịch sử. Tuy vậy lại có người bảo do Nhạc
Phi thi nhà Nam Tống sáng tác ra.
Đầu đời Thanh, Hình ý quyền được truyền bá rất rộng rãi Sơn Tây, Nam, Hà
Bắc (Trung Quốc). Gần trăm năm nay, danh thủ nối nhau. Năm 1914, nhà Hình ý
quyền là Hách Ân Quang qua thăm Nhật Bản dạy cho các học sinh du học ở Nhật,
do đó đã đưa Hình ý quyền giới thiệu ra nước ngoài. Hiện nay Hình ý quyền
không chỉ phát triển các nơi trên cả nước, mà ở Đông Nam Á, Nhật Bản, Châu
M ... cũng đều có tập luyện Hình ý quyền đồng thời còn có cả đoàn thể và báo
chí chyên môn.
Xem thêm Các thuyết khác về Hình ý quyền
[sửa] Đặc trưng kỹ pháp
Hình ý quyền lấy ngũ hành quyền (phác, bằng, toản, pháo, hoành tức bổ, hất, chọc,
đập, gạt) và thập nhị hình quyền (quyền 12 hình tức long, hổ, hầu, mã, kê, yến, xà,
đà, thai, ưng, hùng, báo tức rồng, hổ, khỉ, ngựa, gà, én , rắn, kỳ đà, la, ưng, gấu,
báo) làm gốc quyền cơ bản.Về trang pháp thì lấy "tam thế thức" mã, cung, hư bộ
làm gốc. Đây chính là Hình ý Linh thú quyền (Xing Yi Animal Fist) sau này của
Đang phái.
Các bài múa đơn luyện có: Ngũ Hành liên hoàn, Tạp thức chùy Bát thức quyền,
Tứ bả quyền, Thập nhị hồng trùy, Xuất nhập động, Ngũ hành tương sinh, Long h
đấu, Bát tự công, Thượng trung hạ bát thủ.
Về đối luyện quyền thì có Tam Thpháo, Ngũ Hoa Pháp, An Thân Pháo, Cửu Sáo
Hoàn. Luyện tập khí giới lấy đao, thương, kiếm, côn làm chủ; phần lớn lấy tam
hợp, lục hợp, liên hoàn, tam tài để gọi tên.
[sửa] Các lưu phái
Một dải Hà Nam lưu hành Hình ý quyền phần lớn gọi là "Tâm ý quyền". Quyn
pháp lấy "thập đại hình" (mười hình ln là long, hổ, kê, ưng, xà, mã, miêu, hầu,
dao, yến tức rồng, hổ, gà, ưng, rắn, ngựa, mèo, khỉ, diều, én) và "tứ quyền bát
thức" làm quyền pháp bản. Về trang pháp có Kê thoái trang (tấn chân gà), Ưng
hùng trang (tấn ưng gấu). Bài bản đơn luyện thì có Long hđấu thập hình hợp
nhất (mười hình hợp nhất), Thượng trung hạ tứ bả ( bốn ngón (quyền) trên, giữa,
dưới) v.v.. Đây chính là Hình ý Linh thú quyền lưu truyền miền Nam Trung Hoa
sau này giống Hình ý linh thú quyền Võ Đang phái.
Các nơi lưu hành Hình ý quyền trừ nội dung có chỗ khác nhau ra, về mặt phong
cách cũng có chỗ đặc sắc riêng.
Hình ý quyền ở một dải Hà Bắc quyền thế thư triển, ổn mạnh chắc chắn. Hình ý
quyền lưu hành ở Sơn Tây thế quyền gấp gáp, kình lực tinh kéo.
Hình ý quyền ở một dải Hà Nam thì thế quyền dũng mãnh , khí thế hùng hậu.
Hình ý quyền có các đặc điểm sau: Giản dị gọn gàng, chất phác thực tế, tự nhiên.
Về động tác thì phần lớn là đến thẳng đi thẳng, một co một duỗi, tiết tấu rõ ràng,
chất phác thực tế không có hoa hòe hoa sói, có cái đẹp ở chỗ tự nhiên.
[sửa] Đặc trưng quyền pháp
Động tác nghiêm mật gấp gáp, "ra tay như dũa thép, xuống tay như câu liêm", "hai
khuỷu không lìa sườn, hai(bàn) tay không lìa tâm (tim)"; khi phát quyền thì vặn ,
quấn, đục, xoay, với thân pháp, bộ pháp kết hợp chặt chẽ, toàn thân trên dưới
giống như đang vặn thừng không chút lơi lỏng.
Trầm tĩnh, ổn định mau lẹ, thân ngay bộ, vững. Yêu cầu ngực nở bụng thực, khí
trầm đang điền, cương mà không cứng đờ, nhu mà không mềm xèo, kình lực thi
triển trầm thực.
Mau lhoàn chỉnh. Hình ý quyền yêu cầu "lục hợp" tức là tam hợp với ý, ý với khí
hợp, khí với lực hợp (gọi là nội tam hợp), vai và háng hợp, khuỷu và gối hợp, tay
và chân hợp (giọ là ngoại tam hợp).
Về động tác thì cường điệu phép (pháp) thân trên, tay chân cùng đến, một phát là
đến, một tấc (đã) là trước (ý muỗn chỉ tốc độ và độ dài hơn đòn của đối phương).
Trong "quyền phổ" có ghi: "Nổi như gió, rơi như tên, đánh ngã (đối thủ) rồi vẫn
hiềm còn chm".
Hình ý quyền coi trọng tam tiết, bát yếu. Tam tiết (ba đốt) là: đốt ngọn nổi, đốt
giữa theo, đốt gốc đẩy.
Kể về toàn thân thì đầu và tay (chi trên) là đốt ngọn, thân mình là đốt giữa, chi
dưới (chân) đốt gốc.
Ngay một bộ phận thể cũng có thể chia nhỏ ra thành ba đốt. Lấy tay làm ví dụ,
khi ra đòn nm tay là đốt ngọn, cẳng tay (dưới) cả khuỷu là đốt giữa, cánh tay trên
với vai là đốt gốc. Thể hiện tam tiết cốt để đảm bảo toàn thân hoàn chỉnh thành
một thể thống nhất, nội ngoại hợp nhất.
[sửa] Yếu lý quyền pháp
Tám điều cần (bát yếu) là:
1. Đỉnh: (đẩy lên trên, tức là "đầu phải đảy lên chỏm, chưởng phải đẩy ra
trước, lưỡi phải đảy lên hàm ếch, để nối hai mạch nhâm, đốc").
2. Khâu: khép vào, "vai phải khép, mu bàn chân bàn tay phải khép, (hai) hàm
răng phải khép").
3. Viên: là tròn, tức là "ngc, lưng, hổ khẩu khớp nối ngón tay cái và ngón tay
trỏ phải tròn".
4. Mẫn: :là nhạy, tức tâm phải nhạy; chân phải nhạy; tay phải nhạy".
5. Bão: là ôm giữ, tức là "đan điền phải giữ (khí), tâm phải giữ ý sáng suốt,
hai khuỷu phải giữ (sườn)".
6. Thùy: chúc đầu xuống, xuôi xuống, tức vai phải xuôi, khuỷu tay phải xuôi,
khí phải xuôi" -- thuận.
7. Khúc: là gập lại, tức là "cánh tay gập, chận phải gập, cổ tay phải gập".
8. Đỉnh: là cứng cỏi tức "kình (lực) phải cứng cỏi, xương sống phải cứng
thẳng, đầu gối phải thẳng cứng".
Có như thế mới bảo đảm được các bộ vị, tư thế của thân thể thi triển chính xác.
[sửa] Đấu pháp
Hình ý quyền còn bao hàm cả lý luận về giao đấu và nội dung kỹ thuật chiến thuật
phong phú. Nó nhấn mạnh dám đánh sẽ thắng, ý thức chiến đấu dũng cảm xông
lên. quyền phổ dạy : "Ngđịch hữu chủ, lâm nguy bất cụ" ("Gặp địch giữ chủ
động, gặp nguy chẳng sợ").
Về tư tưởng chiến thuật, có chủ chương mau lẹ đột ngột, tự ta làm chủ, khi giao
đấu thì "thừa cơ bất bị nhi công chi, do bất ý nhi xuất chi" (tức "thừa cơ (họ)