1
© Học viện Ngân hàng
ISSN 3030 - 4199
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Năm thứ 27(13)- Tháng 12. 2025- Số 285
Hoàn thiện khung pháp luật về phát triển kinh tế
ban đêm nhằm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước,
doanh nghiệp và cộng đồng dân cư
Ngày nhận: 19/08/2025 Ngày nhận bản sửa: 30/11/2025 Ngày duyệt đăng: 10/12/2025
Tóm tắt: Kinh tế ban đêm đang nổi lên như một hướng đi quan trọng nhằm
mở rộng không gian phát triển, tăng thu ngân sách, tạo việc làm và nâng cao
hình ảnh đô thị tại Việt Nam. Trên sở Đề án phát triển kinh tế ban đêm được
phê duyệt tại Quyết định số 1129/QĐ-TTg năm 2020, nhiều địa phương đã thí
điểm phố đi bộ, chợ đêm, khu ẩm thực, vui chơi, giải trí hoạt động đến khuya.
Tuy nhiên, cùng với tiềm năng kinh tế, kinh tế ban đêm cũng đặt ra nhiều vấn
đề pháp lý phức tạp về trật tự, an toàn xã hội, môi trường và bảo đảm quyền,
lợi ích hợp pháp của cư dân trong khu vực có hoạt động ban đêm, đòi hỏi phải
Completing the legal framework for the night-time economy to align the interests of the
government, businesses, and the community
Abstract: The night-time economy is emerging as an important direction for expanding development
space, increasing fiscal revenues, creating jobs and enhancing urban image in Viet Nam. Based on the
National Night-Time Economy Development Scheme approved under Decision No. 1129/QD-TTg (2020),
many localities have piloted pedestrian streets, night markets, food courts and leisure districts operating
late into the night. Alongside its economic potential, however, the night-time economy also raises complex
legal issues relating to public order, social safety, environmental protection and the safeguarding of the
rights and legitimate interests of residents living in areas with intensive night-time activities, thereby
requiring a careful balancing of the interests of the State, businesses and communities. Adopting a public
law and economic law perspective, this article analyses the current legal and policy framework governing
the night-time economy, identifies key gaps and inconsistencies in the existing legal architecture, and
proposes directions for reform. Drawing on selected international experiences, the article argues that
a unified legal framework, combined with spatial zoning of night-time economy areas, institutionalised
community consultation, effective inter-agency coordination and tailored standards on noise, safety and
environment, is essential for ensuring sustainable development of the night-time economy and a fair
distribution of benefits among stakeholders.
Keywords: The Night-time Economy, Interest Relations, The Government, Enterprises, Citizens
Link Doi: http://doi.org/10.59276/JELB.2025.12.3054
Ho Thanh Thuy
Email: hothuyhvctqg@gmail.com
Organization: Ho Chi Minh National Academy of Politics, Viet Nam
Hồ Thanh Thuỷ
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Việt Nam
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Hoàn thiện khung pháp luật về phát triển kinh tế ban đêm nhằm hài hòa lợi ích
giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư
2Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng- Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
điều phối hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp cộng đồng. Bằng
phương pháp tổng hợp nội dung các văn bản pháp luật hiện hành, tiếp cận
vấn đề từ góc độ pháp luật công pháp luật kinh tế, bài viết phân tích các quy
định pháp luật và chính sách hiện hành liên quan đến kinh tế ban đêm, chỉ ra
những khoảng trống và bất cập trong cấu trúc pháp lý hiện tại, đồng thời gợi
mở một số định hướng hoàn thiện. Trên cơ sở tham chiếu một số kinh nghiệm
quốc tế, bài viết nhấn mạnh yêu cầu xây dựng khung pháp lý thống nhất, gắn
với phân vùng không gian, chế tham vấn cộng đồng, phối hợp liên ngành
cụ thể hóa các chuẩn mực về tiếng ồn, an toàn, môi trường như điều kiện
để kinh tế ban đêm phát triển bền vững, hài hòa lợi ích giữa các chủ thể.
Từ khóa: Kinh tế ban đêm, Quan hệ lợi ích, Nhà nước, Doanh nghiệp, Người dân
1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, cùng với tiến
trình đô thị hóa hội nhập, cụm từ kinh
tế ban đêm ngày càng xuất hiện nhiều hơn
trong các văn bản chính sách diễn đàn
Việt Nam. Nhiều nghiên cứu báo
cáo đã chỉ ra tiềm năng đáng kể của kinh
tế ban đêm đối với tăng trưởng, việc làm
phát triển du lịch (Roberts & Eldridge,
2009; Nguyen cộng sự, 2023). Việt
Nam, Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày
27/7/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Đề án phát triển kinh tế ban đêm
Việt Nam đánh dấu bước đi chính thức về
mặt chính sách, định hướng các địa phương
khai thác tiềm năng kinh tế ban đêm một
cách chủ động, quy hoạch (Chính phủ,
2020). Trên sở đó, Nội, Thành phố
Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Kiên
Giang một số địa phương khác đã lần
lượt ban hành đề án, kế hoạch triển khai,
thí điểm nhiều hình phố đi bộ, chợ đêm,
khu ẩm thực, tuyến phố dịch vụ văn hóa-
du lịch ban đêm.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thời gian
qua cũng bộc lộ một loạt vấn đề. Một mặt,
nhiều hình kinh tế ban đêm còn manh
mún, thiếu sản phẩm đặc sắc, chưa gắn kết
với chiến lược phát triển tổng thể của đô
thị, thu ngân sách lan tỏa kinh tế còn
hạn chế (Trần Thị Hồng Minh cộng sự,
2024; Nguyen, 2022). Mặt khác, một số
nơi đã xuất hiện những xung đột gay gắt
giữa chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ ban đêm
với dân về tiếng ồn, lấn chiếm lòng lề
đường, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường;
giữa yêu cầu tăng hoạt động dịch vụ du lịch
với đòi hỏi bảo đảm trật tự, an toàn, nghỉ
ngơi của người dân. Nhiều tranh chấp bị
đẩy lên thành khiếu nại, phản ánh, gây áp
lực lớn cho chính quyền đô thị.
Trên góc độ pháp luật, các xung đột nói
trên không chỉ là va chạm lợi ích thuần túy
phản ánh những giới hạn khoảng
trống của hệ thống pháp luật hiện hành
trong việc ghi nhận điều chỉnh không
gian kinh tế ban đêm như một thực thể đặc
thù; thiết kế chế hài hòa lợi ích giữa Nhà
nước, doanh nghiệp cộng đồng dân;
phân công, phối hợp thẩm quyền quản lý,
giám sát và trách nhiệm giải trình giữa các
quan nhà nước; bảo đảm quyền con
người, quyền công dân, đặc biệt quyền
tự do kinh doanh, quyền môi trường trong
lành, quyền được bảo vệ về sức khỏe, an
toàn, trật tự xã hội.
Nếu so sánh với xu hướng quốc tế, nhiều
quốc gia đã đi trước trong việc xây dựng
chiến lược khung pháp cho kinh tế
HỒ THANH THUỶ
3
Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
ban đêm, với các hình như thị trưởng
ban đêm (night mayor), ủy ban ban đêm
(night-time commission), các tiêu chuẩn
Cờ tím (Purple Flag) về an toàn, đa dạng
văn hóa, hay các cơ chế tài chính như Late
Night Levy Anh (Hadfield, 2011; Roberts
& Eldridge, 2009; URBACT, 2024). Trong
khi đó, Việt Nam mới giai đoạn khởi đầu,
chủ yếu dừng ở các định hướng chính sách,
trong khi khung pháp luật điều chỉnh vẫn
còn mang tính lắp ghép từ nhiều đạo luật
và văn bản ngành dọc khác nhau.
Trong bối cảnh trên, bài viết tập trung vào
ba câu hỏi chính: (i) Khung pháp luật hiện
hành điều chỉnh các hoạt động được coi
thuộc kinh tế ban đêm Việt Nam đang
được cấu trúc như thế nào; (ii) Những bất
cập pháp lý chủ yếu nào đang tồn tại, xét từ
góc độ hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh
nghiệp cộng đồng dân cư; (iii) Những
định hướng cải cách pháp luật nào cần
được xem xét nhằm xây dựng một khung
pháp thống nhất, minh bạch cho kinh tế
ban đêm, đồng thời bảo đảm quyền lợi
ích hợp pháp của các chủ thể. Về phương
pháp, bài viết chủ yếu dựa trên phân tích
chuẩn tắc phân tích nội dung các văn bản
pháp luật hiện hành (Hiến pháp, luật, nghị
định, quyết định của Thủ tướng, quy định
địa phương), kết hợp với tổng hợp một số
nghiên cứu và báo cáo trong và ngoài nước
về kinh tế ban đêm. Một số kinh nghiệm
quốc tế điển hình (Anh, xứ Wales, Úc, một
số đô thị châu Âu) được sử dụng như điểm
tham chiếu để gợi mở hướng hoàn thiện
pháp luật ở Việt Nam.
2. sở lý luận pháp lý về điều chỉnh
kinh tế ban đêm
2.1. Khái niệm kinh tế ban đêm: tiếp cận
quốc tế và gợi ý cho Việt Nam
Kinh tế ban đêm (night-time economy)
thường được hiểu tổng thể các hoạt động
kinh tế diễn ra trong khoảng thời gian từ
chiều tối đến rạng sáng, thường được xác
định trong khoảng 18h đến 6h hôm sau, bao
gồm các dịch vụ ăn uống, giải trí, văn hóa,
du lịch, vận tải, bán lẻ các dịch vụ hỗ
trợ liên quan (Roberts & Eldridge, 2009).
Một số tác giả nhấn mạnh thêm yếu tố gắn
với đời sống đô thị, coi kinh tế ban đêm
một phần của nhịp sống thành phố, nơi kết
hợp giữa tiêu dùng, giao lưu hội, văn
hóa lao động trong không gian ngoài giờ
làm việc truyền thống (Roberts và cộng sự,
2018; McGill và cộng sự, 2022).
Việt Nam, Đề án phát triển kinh tế ban
đêm tại Quyết định 1129/QĐ-TTg không
đưa ra định nghĩa pháp lý cụ thể nhưng mô
tả kinh tế ban đêm như một bộ phận của
nền kinh tế diễn ra từ 18h hôm trước đến
6h sáng hôm sau, chủ yếu là các hoạt động
dịch vụ ẩm thực, mua sắm, giải trí, du lịch,
vận tải một số dịch vụ hỗ trợ, mối
liên hệ hữu với phát triển du lịch, dịch
vụ đô thị (Chính phủ, 2020; Nguyen
cộng sự, 2023). Tuy nhiên, việc thiếu một
khái niệm pháp lý chuẩn hóa trong văn bản
quy phạm pháp luật khiến cho việc xác
định phạm vi, đối tượng điều chỉnh của
pháp luật về kinh tế ban đêm trở nên không
ràng. cấp địa phương, mỗi nơi sử dụng
thuật ngữ phạm vi khác nhau như “phố
đi bộ”, “tuyến phố du lịch”, “phố ẩm thực”,
“khu dịch vụ ban đêm”, làm cho bức tranh
pháp lý thêm phân mảnh.
Như vậy, một số tiêu chí cần được tính đến
khi xây dựng khái niệm pháp về kinh tế
ban đêm trong tương lai, bao gồm thời gian
(hoạt động diễn ra chủ yếu trong khung giờ
ban đêm hoặc tỷ trọng doanh thu đáng
kể trong khung giờ này), không gian (tập
trung một số khu vực được quy hoạch
hoặc công nhận khu vực kinh tế ban
đêm), chức năng (gắn với các dịch vụ tiêu
dùng, du lịch, văn hóa, giải trí, giao thông,
Hoàn thiện khung pháp luật về phát triển kinh tế ban đêm nhằm hài hòa lợi ích
giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư
4Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng- Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
hỗ trợ thương mại với cường độ hoạt động
cao vào ban đêm) quản trị (có chế
quản lý, cấp phép, giám sát đặc thù hơn so
với hoạt động kinh doanh thông thường).
2.2. Nguyên tắc pháp lý điều chỉnh kinh tế
ban đêm
Từ hệ thống pháp luật hiện hành các
chuẩn mực hiến định, thể xác định một
số nguyên tắc bản chi phối việc xây dựng
và thực thi pháp luật về kinh tế ban đêm.
Thứ nhất nguyên tắc tôn trọng bảo
đảm quyền con người, quyền công dân.
Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền con
người, quyền công dân trong các lĩnh vực
như quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu
tài sản, quyền được sống trong môi trường
trong lành, quyền được bảo vệ sức khỏe,
quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng
tư, chỗ ở. Phát triển kinh tế ban đêm, về
bản chất, việc tổ chức lại không gian
thời gian đô thị, nên thể tác động trực
tiếp đến việc thực thi các quyền này. Pháp
luật phải bảo đảm không hạn chế trái Hiến
pháp quyền tự do kinh doanh, song thể
đặt ra những điều kiện hợp lý nhằm bảo vệ
trật tự, an ninh, sức khỏe cộng đồng; đồng
thời không hy sinh quyền của dân một
cách cực đoan để đổi lấy tăng trưởng dịch
vụ ban đêm.
Thứ hai là nguyên tắc hài hòa lợi ích công-
tư. Kinh tế ban đêm tạo ra lợi ích cho doanh
nghiệp (doanh thu, lợi nhuận), cho Nhà
nước (thu ngân sách, hình ảnh đô thị, an
sinh), nhưng đồng thời phát sinh chi phí
hội như tiếng ồn, ô nhiễm, tắc nghẽn, nguy
mất trật tự. Do đó, pháp luật cần thiết
kế các công cụ phân bổ gánh nặng lợi
ích tương đối công bằng, thông qua nghĩa
vụ thuế, phí, các cơ chế bồi thường, hỗ trợ,
quy định về đầu tư hạ tầng và dịch vụ công
phục vụ khu vực kinh tế ban đêm (Public
Health Wales, 2015; Institute of Alcohol
Studies, 2021).
Thứ ba là nguyên tắc phân cấp, phân quyền
trách nhiệm giải trình trong quản đô
thị. Kinh tế ban đêm gắn mạnh với đặc thù
từng địa phương, nên cần mở rộng thẩm
quyền cho chính quyền cấp tỉnh, cấp đô thị
trong thiết kế mô hình, phân vùng, quy chế
hoạt động, song song với đó các chế
kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình
và sự tham gia của người dân vào quá trình
hoạch định chính sách và giám sát thực thi.
Thứ nguyên tắc tham gia của cộng
đồng đối thoại chính sách. Nghiên cứu
quốc tế cho thấy kinh tế ban đêm chỉ phát
triển bền vững khi cộng đồng bản địa được
xem là đối tác, không phải chỉ là đối tượng
chịu tác động (Roberts & Eldridge, 2009;
URBACT, 2024). Pháp luật vì vậy cần ghi
nhận quyền tham gia, góp ý, giám sát của
dân trong quy hoạch, tổ chức vận
hành khu vực kinh tế ban đêm, đồng thời
tạo khuôn khổ cho đối thoại ba bên giữa
Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng.
2.3. Các mô hình quản trị kinh tế ban đêm
trên thế giới: Gợi ý về thiết kế pháp lý
Nhiều đô thị trên thế giới đã xây dựng
hình quản trị kinh tế ban đêm chuyên biệt,
có giá trị tham khảo cho Việt Nam. Ở châu
Âu, một số thành phố như Amsterdam,
Berlin, London phát triển hình thị
trưởng ban đêm (night mayor) với nhiệm
vụ cầu nối giữa chính quyền, doanh nghiệp
dịch vụ ban đêm cộng đồng dân, tham
mưu chính sách, điều phối xung đột
truyền thông về kinh tế ban đêm (Hadfield,
2011; URBACT, 2024). Tại Anh, bên cạnh
các chiến lược 24-hour City, chế Late
Night Levy được áp dụng nhằm huy động
một phần đóng góp từ các sở bán rượu
hoạt động muộn để đắp chi phí cảnh sát,
vệ sinh dịch vụ y tế khẩn cấp trong khu
vực kinh tế ban đêm (Institute of Alcohol
HỒ THANH THUỶ
5
Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
Studies, 2021). Đồng thời, các chương
trình như Purple Flag ghi nhận quảng
các khu vực kinh tế ban đêm đạt chuẩn
an toàn, đa dạng, quản trị tốt, khuyến khích
các đô thị nâng cao chất lượng quản lý.
Ở Australia, kinh nghiệm ban hành và điều
chỉnh các quy định như Lockout Laws (giới
hạn giờ bán rượu đóng cửa sớm các sở
giải trí ban đêm) cho thấy tác động hai mặt
của pháp luật đối với kinh tế ban đêm. Các
biện pháp siết chặt giúp giảm bạo lực liên
quan đến rượu nhưng đồng thời ảnh hưởng
mạnh đến ngành giải trí, khiến nhiều cơ sở
phải đóng cửa làm dấy lên tranh luận
rộng rãi trong hội (NSW Government,
2020; McGill cộng sự, 2022). Kết quả
chính sách phải được điều chỉnh theo
hướng cân bằng hơn giữa an ninh trật tự
sức sống văn hóa- kinh tế của đô thị.
Điểm chung của các hình trên pháp
luật không chỉ đóng vai trò công cụ xử phạt
vi phạm, còn công cụ thiết kế
hình quản trị, thiết lập thiết chế liên ngành,
đa chủ thể, định hình nguyên tắc tiêu
chuẩn cho một kinh tế ban đêm vừa sôi
động, vừa có trật tự. Đây là hướng tiếp cận
Việt Nam có thể cân nhắc khi xây dựng
khung pháp cho kinh tế ban đêm trong
giai đoạn tới.
3. Khung pháp hiện hành về kinh tế
ban đêm ở Việt Nam
3.1. Nhóm quy định về ngành nghề, điều
kiện và giờ hoạt động dịch vụ ban đêm
Hoạt động kinh tế ban đêm gắn nhiều với
các ngành nghề kinh doanh điều kiện
như dịch vụ ăn uống, karaoke, trường,
bar, trò chơi điện tử, lưu trú du lịch, casino,
dịch vụ vui chơi giải trí, biểu diễn nghệ
thuật… Pháp luật hiện hành điều chỉnh
các hoạt động này chủ yếu thông qua Luật
Đầu tư, Luật Doanh nghiệp các nghị
định hướng dẫn về danh mục ngành nghề
kinh doanh điều kiện, Luật Du lịch,
Luật Thương mại, Luật Phòng chống tác
hại của rượu, bia, Luật Phòng cháy chữa
cháy, Luật An ninh trật tự, cùng các nghị
định chuyên ngành về kinh doanh karaoke,
trường, sở lưu trú, quảng cáo, biểu
diễn nghệ thuật. Một nội dung nhạy cảm
trong quản pháp quy định về giờ
hoạt động ban đêm. Trước đây, nhiều địa
phương áp dụng khung giờ đóng cửa mặc
định cho các sở dịch vụ, trong khi Đề
án kinh tế ban đêm cho phép thí điểm kéo
dài giờ hoạt động đến khuya tại một số khu
vực. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn
thiếu một khung pháp lý thống nhất về thời
gian hoạt động, nhiều quy định nằm rải rác
ở cấp nghị định quyết định địa phương,
dẫn đến sự thiếu đồng bộ giữa các tỉnh,
thành. Phân định giữa khu vực được phép
kéo dài giờ khu vực áp dụng khung giờ
thông thường chủ yếu dựa trên các quyết
định hành chính, thiếu tiêu chí pháp
ràng, trong khi các quy định về giờ hoạt
động vẫn thiên về cách tiếp cận hạn chế để
quản trật tự hơn gắn với chính sách
tổng thể về phân vùng cấu trúc kinh tế
ban đêm.
3.2. Quy hoạch đô thị, sử dụng không
gian công và cấp phép hoạt động
Kinh tế ban đêm không chỉ câu chuyện
kéo dài giờ mở cửa mà còn việc tổ chức
lại không gian đô thị vào ban đêm. Các mô
hình phố đi bộ, chợ đêm, phố ẩm thực, khu
trình diễn nghệ thuật ngoài trời, không gian
văn hóa sáng tạo… liên quan trực tiếp tới
Luật Quy hoạch đô thị, Luật Đất đai, Luật
Xây dựng và các quy chuẩn, tiêu chuẩn về
kiến trúc, sử dụng không gian công cộng.
Thực tiễn cho thấy nhiều hình phố đi
bộ, chợ đêm được hình thành như những
quyết định hành chính mang tính thí điểm,