ĐỀ CƯƠNG LUẬT TÀI CHÍNH
LÝ THUYẾT
1. So sánh giữa “Đạo luật Ngân sách Nhà nước thường niên” với “Đạo luật
Ngân sách Nhà nước” được Quốc hội ban hành năm 2015?
Khái niệm:
Đạo luật NSNN thường niên: là bản dự toán thu chi NSNN hàng năm sau khi được
Quốc hội thông qua bằng nghị quyết thì người ta gọi nó là đạo luật NSNN thường niên.
Đạo luật NSNN: là văn bản QPPL do Quốc hội ban hành trong đó có quy định về các
nguyên tắc quản lý NS; hệ thống NSNN ; thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức trong lĩnh
vực NSNN; Nguồn thu nhiệm vụ chi cho các cấp NS; Trình tự thủ tục lập, chấp hành và
quyết toán NSNN.
Giống nhau:
Đều do quốc hội thông qua.
Đều có liên quan đến hoạt động thu chi NSNN
Đều có tính bắt buộc các chủ thể có liên quan phải triệt để thi hành
Khác nhau:
Tiêu chí Đạo luật NSNN thường niên Đạo luật NSNN 2015
Về nội dung Chỉ bao gồm những nội
dung thu chi tài chính cụ thể
của nhà nước trong 1 năm
Quy định về những vấn đề cơ bản quan
trọng nhất trong lĩnh vực NSNN tạo cơ
sở pháp lý co việc xây dựng và thực
hiện NSNN hàng năm
Về hình thức Được hợp thành bởi 2 văn
bản là bản dự toán NSNN
hàng năm và 01 nghị quyết
của Quốc hội về việc thông
qua bản dự toán NSNN trên
Giống các đạo luật thông thường khác
gồm các chương, điều khoản
đượcthực hiện từ 2015-2020
Về hiệu lực
pháp lý
Chỉ có hiệu lực thi hành
trong 1 năm, ngày bắt
đầu,ngày kết thúc được xác
định trước (01/01 đến hết
ngày 31/12 hằng năm)
Có hiệu lực pháp lý lâu dài,ngày bắt
đầu có hiệu lực thihành được xác định.
Cụ thể ngày thực hiện luật NSNN 2015
được thực hiện bắt đầu từ 1/1/2015 và
kết thúc hiệu lực là ngày 31/12/2020
Về mối quan
hệ
Là cái riêng, cái cụ thể Là cái chung, cái khái quát
Kế hoạch tài
chính
Theo điều 42 Luật NSNN
2015, Kế hoạch tài chính
thường niên lập ra dựa vào
các yêu cầu sau:
1. Dự toán ngân sách nhà
nước phải tổng hợp theo
từng khoản thu, chi và theo
Theo điều 17 Luật NSNN 2015 Kế
hoạch tài chính 5 năm (2015-2020)
được thực hiện với mục tiêu cụ thể về
tài chính-ngân sách nhà nước; các định
hướng lớn về tài chính, ngân sách nhà
nước; số thu và cơ cấu thu nội địa, thu
dầu thô, thu cân đối từ hoạt động xuất
cơ cấu chi đầu tư phát triển,
chi thường xuyên, chi dự
trữ quốc gia, chi trả nợ và
viện trợ, chi bổ sung quỹ dự
trữ tài chính, dự phòng ngân
sách.
2. Dự toán ngân sách của
đơn vị dự toán ngân sách các
cấp được lập phải thể hiện
đầy đủ các khoản thu, chi
theo đúng biểu mẫu thời
hạn do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định.
khẩu, nhập khẩu; số chi và cơ cấu chi
đầu tư phát triển, chi trả nợ,chi thường
xuyên; định hướng về bội chi ngân
sách; giới hạn nợ nước ngoài của quốc
gia, nơ công, nợ chính phủ; các giải
pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch.
Bộ Tài chính có trách nhiệm chủ trì
xây dựng kế hoạch tài chín 05 năm
quốc gia trình Chính phủ báo cáo Quốc
hội; Sở Tài chính có trách nhiệm xây
dựng kế hoạch tài chính 05 năm của địa
phương mình trình Ủy ban Nhân dân
cùng cấp báo Hội đồng nhân dân cùng
cấp báo Hội đồng nhân dân xem xét,
quyết định cùng với thời điểm trình dự
toán ngân sách năm đầu kỳ kế hoạch.
Chính phủ quy định chi tiết việc lập kế
hoạch tài chính 05 năm.
2. Phân biệt cấp ngân sách với đơn vị dự toán ngân sách nhà nước?
NSNN: là toàn bộ các khoản thu chi của NN được dự toán và thực hiện trong một khoản
thời gian nhất định do cơ quan NN có thẩm quyền quyết định để đảm bảo. Cấp Ngân sách
là bộ phận cơ bản cấu thành ngân sách nhà nước.
Theo điều 4 Luật ngân sách nhà nước 2015. Đơn vị dự toán ngân sách là cơ quan, tổ
chức, đơn vị được cấp có thẩm quyền giao dự toán ngân sách, thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của NN
Phân biệt:
Cấp ngân sách Đơn vị dự toán
Vị trí, tư cách Cấp ngân sách được hình
thành trên cơ sở cấp chính
quyền nhà nước
Là bộ phận cơ bản cấu
thành hệ thống NSNN
Là một cơ quan, đơn vị
được nhà nước thành lập hay
thừa nhận-thực hiện một
nhiệm vụ được nhà
nước giao, được nhận kinh phí từ
ngân sách cấp để thực hiện
nhiệm vụ đó
Là bộ phận cấu thành của một
cấp NS. Được cấp ngân sách
của mình phân bổ giao dự toán để
quản lý sử dụng. Riêng ngân sách
xã vừa là cấp NS vừa là đơn
vị trực tiếp sử dụng Ns-dưới
nó không có đơn vị dự toán
Thẩm quyền Gồm quyền quyết
định,phân bổ, quản lý, giám
sát kiểm tra NS của các đơn
vị dự toán thuộc cấp mình
trên cơ sở được phân cấp
nguồn thu nhiệm vụ chi cho
NS cấp mình
Quyền sử dụng ngân sách được
giao, quyền quản lý giám sát đơn
vị dự toán cấp dưới trực thuộc.
Phạm vi thu chi Rộng: nguồn thu có được từ
nhiều nguồn khác nhau trong
đó có nguồn thu quan trọng
từ thuế-Chi cho nhiều lĩnh
vực, nhiều đối tượng khác
nhau, mức độ chi lớn
Thu hạn chế-chỉ từ một và nguồn
được phân giao chủ yếu quản lý
sử dụng nguồn kinh phí ngân sách
cấp để chi cho một nhiệm vụ, lĩnh
lực được phân công hay đối tượng
trực thuộc đơn vị mình.
Quyền chủ động
và trách nhiệm
đối với NS
Mức độ tự chủ cao có quyền
quyết định, quyền điều chỉnh
dự toán ngân sách cấp
mình. Tự bảo đảm cân đối
ngân sách cấp mình trên cơ
sở nguồn thu,nhiệm vụ chi
được phân cấp và tình hình
thực tế hoạt động thu của
ngân sách cấp mình
Mức độ tự chủ không cao,mọi
hoạt động thu chi phải theo dự
toán được phân bổ,chỉ được thay
đổi dự toán NS khi có sự cho phép
của cơ quan có thẩm quyền.
Được NS bảo đảm đúng số kinh
phí theo dự toán được giao
Chủ thể quản lý Hệ thống cơ quyền lực và cơ
quanhành chính nhà nước-
hệ thống các cơ quan tài
chính các cấp
Thủ trưởng đơn vị và bộ phận tài
chính kế toán của đơn vị.
Số lượng Có 4 cấp ngân sách tương
ứng với cấp chính quyền
Có nhiều đơn vị dự toán ngân
sách-trong một cấp ngân sách có
đơn vị dự toán cấp I-cấp II, cấp III
dưới cấp III. Riêng cấp xã không
có đơn vị dự toán.
3. Trình bày mối quan hệ giữa cấp ngân sách và cấp chính quyền trong xây
dựng hệ thống Ngân sách Nhà nước và mối quan hệ giữa các cấp ngân sách
trong hệ thống ngân sách của nhà nước ta hiện nay?
Mối quan hệ giữa cấp ngân sách và cấp chính quyền trong xây dựng hệ thống Ngân
sách Nhà nước:
– Nguồn ngân sách trung ương giữ một vai trò chủ đạo, ngân sách trung ương đảm bảo
được việc thực hiện các nhiệm vụ chi quốc gia. Phối hợp, hỗ trợ đối với các địa phương
mà chưa đả bảo được việc cân đối về nguồn ngân sách ngoài ra hỗ trợ các địa phương
theo quy định của pháp luật.
– Quỹ ngân sách các cấp chính quyền địa phương hay quỹ ngân sách trung ương được
phân cấp về nguồn thu và nhiệm vụ chi được cụ thể.
– Về việc ban hành cũng như việc thực hiện các chế độ, chính sách mới sẽ làm tăng chi
về nguồn ngân sách luôn phải đưa ra các giải pháp để đảm bảo được nguồn tài chính, khả
năng đưa ra là phù hợp với các khả năng về việc cân đối của nguồn ngân sách từng cấp
quản lý. Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào thì sẽ do cấp đó đảm bảo thực hiện và
thực hiện đầy đủ. Việc đưa ra quyết định trong việc đầu tư các dự án hay chương trình mà
sử dụng vốn ngân sách sẽ phải đảm bảo trong một phạm vi ngân sách theo đúng phân cấp
quản lý.
– Nguồn ngân sách địa phương được phân cấp về nguồn thu luôn phải đảm bảo được thực
hiện một cách chủ động thực hiện về các nhiệm vụ chi được giao ra. Hội đồng nhân dân
cấp tỉnh sẽ quyết định về việc phân cấp nhiệm vụ chi, nguồn thu giữa các cấp ngân sách ở
địa phương là phù hợp với các cấp quản lý về quốc phòng, về an ninh, về kinh tế-xã hội,
cũng như trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn cụ thể.
Mối quan hệ giữa các cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách của nhà nước ta
hiện nay
* Tính độc lập tương đối giữa ngân sách các cấp
Các nguồn thu và chi được giao cho các cấp ngân sách và cho phép mỗi cấp ngân sách
có quyền quyết định ngân sách của mình, cụ thể:
– Nguồn thu của ngân sách cấp nào thì ngân sách cấp đó sử dụng
– Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp nào thì ngân sách cấp đó phải đảm nhận
* Tính phụ thuộc giữa ngân sách cấp dưới và ngân sách cấp trên
– Mối quan hệ giữa cấp ngân sách trung ương và cấp ngân sách địa phương: Ngân sách
trung ương hỗ trợ địa phương chưa cân đối được ngân sách và bổ sung có mục tiêu cụ thể
theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Luật ngân sách nhà nước 2015.
Chính phủ trình Quốc hội số bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách từng tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương. Phân chia tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách trung ương
và ngân sách địa phương trong trường hợp ngân sách địa phương cân đối được thu chi sẽ
nộp theo tỷ lệ về ngân sách trung ương.
– Mối quan hệ giữa các cấp ngân sách ở địa phương:
+ Có tính lồng ghép: Ngân sách tỉnh bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách các huyện,
ngân sách huyện bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã.
+ Có sự phân chia theo tỷ lệ giữa các cấp ngân sách: Ngân sách cấp trên hỗ trợ ngân sách
cấp dưới trong trường hợp ngân sách cấp dưới chưa cân đối được ngân sách. Ủy ban nhân
dân trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định số bổ sung từ ngân sách cấp mình cho
ngân sách cấp dưới trực tiếp.
4. Nêu điểm giống và khác nhau cơ bản giữa thuế với khoản thu ngân sách từ tiền
phạt vi phạm hành chính?
- Thuế: là khoản thu bắt buộc mang tính cưỡng chế do NN huy động từ các tổ
chức,cá nhân và tập trung vào quỹ ngân sách Nhà nước khi có đủ các điều kiện nhất định
- Tiền phạt vi phạm hành chính: Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý vi
phạm hành chính năm 2012 thì xử phạt vi phạm hành chính được xác định là việc người
có thẩm quyền xử phạt áp dụng các hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả
đối với các cá nhân, tổ chức mà thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của
pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
Giống nhau:
– Đều là một trong những nguồn thu vào ngân sách nhà nước, các đối tượng phải
nộp thuế hoặc phải nộp tiền phạt vi phạm hành chính sẽ phải bỏ nguồn tiền của cá nhân
để nộp vào ngân sách nhà nước.
– Về hình thức nộp: Cả nộp thuế và nộp phạt vi phạm hành chính thì người nộp
đều có thể đến các địa điểm sau để nộp tiền:
+ Nộp trực tiếp tại Kho bạc Nhà nước;
+ Nộp tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác và tổ chức dịch vụ, tổ
chức khác theo quy định của pháp luật nơi Kho bạc nhà nước ủy nhiệm thu.
– Về mục đích sử dụng: Đều được dùng cho các hoạt động quản lý nhà nước, phát
triển kinh tế xã hội của các địa phương.
– Về tính bắt buộc: Đây đều là những khoản thu mang tính chất bắt buộc của Nhà
nước áp dụng đối với người dân, nếu thuộc các đối tượng phải chịu thuế hoặc có những
hành vi vi phạm thuộc trường hợp bị phạt tiền thì các cá nhân, tổ chức đó bắt buộc phải
đóng thuế hoặc nộp tiền phạt theo quy định nếu không pháp luật sẽ có chế tài để xử lý.
– Chứng từ thu thuế, tiền nộp phạt vi phạm hành chính đều là các hóa đơn, phiếu
thu, phiếu nộp tiền theo quy định của pháp luật; giấy xác nhận nộp tiền phạt vào tài
khoản của Kho bạc nhà nước.
– Đều là khoản thu thể hiện quyền lực của Nhà nước.
Khác nhau:
- Đối tượng áp dụng:
Đối tượng áp dụng của thuế rộng hơn so với đối tượng áp dụng của các khoản thu
từ tiền phạt vi phạm hành chính. Bởi vì đối tượng áp dụng của thuế bao gồm tất cả các tổ
chức,cá nhân hay pháp nhân thuộc đối tượng chịu thuế. Hiện nay pháp luật Việt Nam quy
định rất nhiều các loại thuế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh sống của người
dân cho nên hầu như tất cả các đối tượng, thành phần xã hội đều đang đóng thuế. Còn
tiền nộp phạt do vi phạm hành chính là chế tài chỉ để áp dụng đối với những người, tổ
chức có hành vi vi phạm hành chính chứ không bao gồm các cá nhân, tổ chức khác.
- Tính hoàn trả:
Đặc điểm của thuế là có tính hoàn trả, nhưng không mang tính hoàn trả trực tiếp
cho người dân mà mang tính hoàn trả dựa trên các nhu cầu xã hội, cung cấp các dịch vụ
công cộng. Sự không hoàn hảo trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế.
Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào
cho người nộp thuế. Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào
cho người nộp thuế.