ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA LUẬT
----------
BÀI TẬP CHƯƠNG I
Môn: Luật ngân hàng
Nhóm sinh viên thực hiện : Nhóm
GVHD : ThS. Lưu Minh Sang
Lớp học phần : 232LN0205
TP. Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2024
Câu 1: Theo các anh (chị), lý do vì sao ngân hàng có thể tồn tại hàng thế kỷ
và ngày càng phát triển, gắn chặt với nền kinh tế các quốc gia?
Lý do ngân hàng có thể tồn tại hàng thế kỷ và ngày càng phát triển, gắn chặt với
nền kinh tế các quốc gia là bởi vì bản chất kinh doanh cốt lõi của ngân hàng là chuyển
đổi kỳ hạn. Điều này tạo nên giá trị giúp ngân hàng tồn tại hàng thế kỷ vì bản chất của
hoạt động ngân ng nhận tiền của người gửi với kỳ hạn ngắn hạn cho những
người khác vay với kỳ hạn dài hơn.
Giải thích một ch cụ thể hơn, thông thường hoạt động cho vay luôn tồn tại
những rủi ro, những rủi ro này đến từ sự bất cân xứng thông tin giữa bên vay bên
cho vay. Trong mối quan hệ tín dụng/cho vay, bên cho vay luôn bên yếu thế hơn.
Bởi lẽ, bên vay trong trường hợp này nắm được nhiều thông tin hơn về khả năng thanh
toán, tuổi tác và sức khỏe của bản thân... trong khi bên cho vay chỉ nắm được thông tin
của bên vay thông qua việc điều tra hoặc tiếp nhận những thông tin bên vay cung
cấp khi cân nhắc cho vay. Việc này khiến bên cho vay rơi vào tình trạng bất cân xứng
thông tin khi cân nhắc cho vay. nh trạng bất cân xứng thông tin giữa bên vay và bên
cho vay sẽ dẫn đến hai hệ quả, bao gồm:
Hệ quả thứ nhất, lựa chọn bất lợi.
Lựa chọn bất lợi tình trạng xảy ra trước khi khoản vay được hình thành.
Những người không khả năng thanh toán khoản vay thường mong muốn được
vay nhất. Thế nên để được vay, những người này đưa ra nhiều điều kiện tốt để bên cho
vay có thể cân nhắc (1). Vì tình trạng bất cân xứng thông tin, bên cho vay rơi vào trạng
thái cực kỳ lưỡng lự giữa lựa chọn không cho vay hay cho vay để hướng đến lợi nhuận
(2).
Từ hai yếu tố trên, nếu bên cho vay quyết định cho vay tiền của mình, có nhiều
khả năng họ sẽ lựa chọn những người không có khả năng thanh toán hoặc có khả năng
thanh toán thấp và dẫn đến hệ quả lựa chọn bất lợi.
Hệ quả thứ hai, rủi ro đạo đức.
Việc xuất hiện lựa chọn bất lợi dẫn đến hệ quả thứ hai chính rủi ro đạo đức.
Rủi ro đạo đức xảy ra sau khi tiền đã được giải ngân chuyển cho bên vay. Những
người khả năng thanh toán khoản vay thấp sẽ sử dụng khoản vay vào những mục
tiêu rủi ro cao thay các mục tiêu rủi ro thấp như đã đưa ra với bên cho vay
dẫn đến nguy cơ không có khả năng hoàn trả lại khoản tiền cho bên cho vay trước đó.
Hoạt động cho vay sẽ luôn tiềm ẩn các nguy cơ về lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo
đức. Để giảm thiểu các nguy trên, ngân hàng xuất hiện như một bên trung gian tài
chính. Họ bên đủ khả năng, đủ nguồn lực để điều tra thẩm định thông tin về
người đi vay để làm sao giảm thiểu lựa chọn bất lợi thông qua các yêu cầu cung cấp
thông tin thẩm định nhiều yếu tố để lựa chọn đúng người đi vay giúp lựa chọn
bất lợi giảm thấp nhất thể. Khi lựa chọn đúng người đi vay thì rủi ro đạo đức cũng
giảm do ngân hàng có đủ khả năng để giám sát quá trình sử dụng nguồn vay vào đúng
mục đích đã đưa ra trước đó sau khi tiến hành giải ngân cho người đi vay.
Thế nên, ngân hàng một tổ chức chuyên nghiệp, bên trung gian tài chính
đầy đủ nguồn lực, quy trình để khả năng giảm thiểu tình trạng bất cân xứng
thông tin, từ đó giảm thiểu lựa chọn bất lợi và giảm thiểu rủi ro đạo đức. Khả năng này
của ngân hàng khiến trở thành một định chế tài chính trung gian quan trọng. Các
định chế tài chính trung gian kênh dẫn vốn từ những người tiết kiệm đến những
người đầu tư: nhận tiền gửi từ khách hàng và sử dụng quỹ tiền gửi đó để tài trợ cho các
dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh hoặc các nhu cầu khác trong nền kinh tế.
Sự tham gia của c định chế tài chính trung gian cho phép các doanh nghiệp thực
hiện các dự án đầu hoặc phương án sản xuất kinh doanh với thời hạn dài, trong khi
cũng cho phép những người gửi tiền (người tiết kiệm) thể rút tiền ngay lập tức khi
có nhu cầu. Khi giữ vai trò trung gian giữa những người tiết kiệm và người đi vay cuối
cùng trong nền kinh tế, các định chế tài chính trung gian đang thực hiện một chức
năng kinh tế quan trọng: chức năng biến đổi kỳ hạn (maturity transformation), biến đổi
các khoản tiết kiệm với kỳ hạn ngắn thành những khoản đầu tư với kỳ hạn dài1.
Nếu không có ngân hàng, người ta sẽ không tìm thấy được bên nào đủ uy tín để
giữ tiền nhàn rỗi của mình trong bối cảnh bản thân họ chưa khả năng đầu hoặc
chưa tìm thấy hội đầu tư. Mặt khác, những người nhu cầu đầu hoặc những
người nhu cầu tiêu dùng vượt khả năng hoặc số tiền họ đang cũng không
nơi để tiếp cận nguồn vốn.
Bên cạnh đó, khi thực hiện khả năng chuyển đổi kỳ hạn, ngân hàng phải hứng
chịu các rủi ro bao gồm rủi ro thanh toán và rủi ro thanh khoản.
Rủi ro thanh toán rủi ro đến từ người đi vay ngân hàng khi những người này
chậm trả hoặc không trả khi đã đến kỳ hạn thanh toán khoản nợ. Những khoản chậm
thanh toán này được gọi là nợ xấu. Khi tỷ lệ nợ xấu tăng cao, ngân hàng sẽ rơi vào tình
1 Nội dung từ báo cáo tóm tắt thông báo giải thưởng của Uỷ ban Giải thưởng Nobel. Chi tiết tại:
https://www.nobelprize.org/uploads/2022/10/advanced-economicsciencesprize2022-2.pdf.
trạng thiếu tiền để trả lại cho những người đã gửi tiền vào ngân hàng trước đó (vì ngân
hàng buộc phải đáp ứng nhu cầu của những người gửi cho chúng một cách ngay lập
tức để đảm bảo mức độ uy tín và giúp cho hoạt động ngân hàng vẫn tồn tại)
Rủi ro thanh khoản sẽ xuất hiện trong 2 trường hợp. Trường hợp thứ nhất là khi
tình trạng n xấu tăng cao đến mức ngân hàng không thể tiến hành thanh khoản cho
những người đã gửi tiền vào ngân hàng. Trường hợp thứ hai là khi kỳ hạn thanh khoản
ngắn hạn nhưng kỳ hạn thanh toán dài hạn. Khi yêu cầu thanh khoản đồng loạt
xuất hiện do sự mặt của tình trạng bất lợi (ví dụ như tin đồn) sẽ khiến hiện tượng
bank-run xuất hiện. Việc kỳ hạn của những khoản tiền cho vay chưa đến nhưng kỳ hạn
của các khoản tiền gửi vào ngân hàng đồng loạt bị bẻ gãy khiến ngân hàng không đủ
tiền để đáp ứng do các khoản vay chưa được thu hồi dẫn đến rủi ro thanh khoản.
bên trung gian tài chính đứng ra để hứng chịu các rủi ro thanh toán rủi
ro thanh khoản trên, ngân hàng thường đặt lãi suất tiền gửi thấp hơn lãi suất cho vay.
Khoảng chênh lệch sẽ là phần thưởng cho ngân hàng (chủ thể trung gian hứng chịu rủi
ro) và sử dụng số tiền này để tạo ra lợi nhuận và duy trì hoạt động.
Những lý do trên đã giúp cho ngân hàng có thể tồn tại hàng thế kỷ và ngày càng
phát triển, gắn chặt với nền kinh tế các quốc gia.
Câu 2: Dựa vào quy định về hoạt động ngân hàng, hãy cho biết những hoạt
động sau có là hoạt động ngân hàng không? Vì sao.
(1) Hoạt động của tiệm cầm đồ;
Hoạt động trên không phải là hoạt động ngân hàng.
Hoạt động cầm đồ hoạt động ngân hàng đều nhiều điểm tương đồng với
nhau như đều cung cấp dịch vụ cho vay tiền, yêu cầu tài sản đảm bảo cho khoản vay
(cầm cố hoặc thế chấp)đều thu lãi suất trên khoản vay. Tuy nhiên có nhiều sự khác
biệt nét được pháp luật quy định: Hoạt động của dịch vụ cầm đồ được coi một
ngành nghề kinh doanhđiều kiện tại Luật Đầu tư 2020 (phụ lục 4) thì sẽ được quản
lý bởi cơ quan quản lý nhà nước về đăng ký kinh doanh và hoạt động kinh doanh, mức
lãi suất được dựa trên luật dân sự (điểm 6 Điều 29 Nghị định 96/2016/NĐ-CP) không
được vượt quá 20%/năm (Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015); Hoạt động ngân hàng chịu
sự giám sát chặt chẽ của Ngân hàng nhà nước, lãi suất của hoạt động ngân hàng có thể
theo thỏa thuận giữa các bên hoặc do Ngân hàng nhà nước ấn định khi có diễn biến bất
thường (Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, Điều 12 Luật Ngân hàng nhà nước
2010). hầu như lãi suất của hoạt động tiệm cầm đồ sẽ xu hướng cao hơn của
hoạt động ngân hàng.
Thêm vào đó, hoạt động cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm
cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi bên nhận
cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ2. Còn hoạt động ngân hàng là gồm những hoạt
động như: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản3
các hoạt động khác thuộc Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng 2010. Một bên lấy lãi
thông qua tài sản đảm bảo, còn một bên thì nhiều hoạt động khác ngoài lấy lãi dựa
trên khoản vay hay có các tài sản đảm bảo.
(2) Hoạt động kinh doanh sản phẩm bảo hiểm nhân thọ;
Đây không phải là hoạt động ngân hàng.
Theo khoản 13 Điều 4 Luật kinh doanh bảo hiểm 2022. Bảo hiểm nhân thọ
loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết. Và theo đó sẽ
các điều khoản khác nhau được quy định theo luật này. Cụ thể như theo khoản 16
2 Điều 309 Bộ luật Dân sự 2015.
3 Khoản 12 Điều 14 Luật các tổ chức tín dụng 2010.