Hội chứng lách to
(Kỳ 2)
2.1.4. Xác định các tính chất của lách:
Dùng bàn tay sdọc theo giới hạn trong của lách, trong nhiều trường hợp
nếu lách rất to và chắc sẽ sờ thấy bờ răng cưa của nó. Tiếp theo day nhẹ trên b
mặt lách xem nhẵn hay sần sùi hoặc u cục. Đồng thời ấn nhẹ xem lách mềm
hay chắc, rắn đau không. Sau đó kiểm tra lại tính chất di động theo nhịp thở
của lách và dùng hai bàn tay kim tra xem có di động sang các phía không (để
phân biệt với một số u trong ổ bụng). Cuối cùng kiểm tra dấu hiệu chạm thắt lưng
để phân biệt với một u ngoài phúc mạc hoặc thận to.
2.2. Thao tác khám lách với tư thế bệnh nhân nằm nghiêng:
Khi thầy thuốc không sờ thấy lách tư thế nằm bệnh nhân ngửa thì phải
khám với tư thế nằm nghiêng. thế này lách sẽ đổ ra trước và xuống dưới nhiều
hơn.
Bệnh nhân nằm nghiêng phải, chân phải duỗi, chân trái co tay để lên đầu.
2.2.1. Sờ lách:
Tay trái thầy thuốc để mạng sườn trái bệnh nhân i ấn nhẹ, bàn tay
phải áp sát vào thành bụng và bảo bệnh nhân thở sâu bằng bụng, sau đó thầy thuốc
ấn các đầu ngón tay sâu ới bờ sườn trái ở thì thra, thì thvào nếu lách to sẽ
chạm vào ngón tay thầy thuốc. Cũng có thể dùng tay phải móc sâu vào dưới bờ sư-
ờn trái để kiểm tra lách. Phải m đi làm lại 2 - 3 lần để cảm giác chính xác được
lách.
2.2.2. Gõ lách:
dọc theo ơng sườn X gian ờn IX - X trái, tgai sống ra trước.
Giao điểm vùng vang của phổi vùng đục của lách là cực sau hoặc giới hạn sau
của lách, cần đánh dấu lại. Tiếp theo, giao điểm giữa vùng đục của lách và vùng
vang của phổi là cực trước hoặc giới hạn trước của lách, cần đánh dấu lại. Nếu
giới hạn trước của diện đục lách vượt qua đường nách sau thì xác định là lách
to.
2.3. Nghe lách:
Trường hợp đã xác định lách to, thì cần phải nghe lách; vùng nghe lách
toàn b diện đục của lách và phần lách to trên thành bụng. Khi nghe cần chú ý
phát hiện: tiếng thổi hay không? (trường hợp thông động- tĩnh mạch), tiếng
cmàng lách hay không?. Tiếng cọ màng ch thxuất hiện khi viêm quanh
lách (ta có thnghe thấy sột soạt như xé vải).
3. Chn đoán lách to.
Qua thăm kmm sàng nời thầy thuốc phải xác định được:
+ đúng lách to không ? lách to thường những đặc tính m sàng
chính sau:
- Sờ thấy ở vùng hsườn trá.
- Sờ thấy bờ răng cưa (khi lách to nhiều).
- Di động theo nhịp thở, không di động tự do các phía.
- Gõ đục và vùng đục liên tục với vùng đục sinh lý của lách.
- Dấu hiệu chạm thắt lưng âm tính.
- Các tính chất khác của lách như: mật độ chắc hay mềm, bề mặt nhẵn hay
có u cục, có đau hay không đau...
4. Chn đoán phân biệt.
Lách to cần phân biệt với:
- U góc đại tràng trái: khối u thường tròn, thdi động các phía, không di
động theo nhịp thở, gõ thường vang. Lâm sàng hội chứng bán tắc ruột
(Koenig). Cần chụp khung đại tràng cản quang để xác định.
- Thận trái to: khối u nằm sâu, dấu hiệu chạm thắt lưng (+), thvang
(do phía trưc ruột), không di động theo nhịp thở. Cần siêu âm để xác định, có
thể chụp bơm hơi sau phúc mạc, chụp thận thuốc tĩnh mạch, CT...
- U tuyến thượng thận trái: lâm sàng có triệu chứng tăng huyết áp từng cơn.
Skhối u giống như u thận. Cần siêu âm, chụp m hơi sau phúc mạc, CT để c
định.
- U ddày: thường nằm thượng vị, không di động theo nhịp thở. Lâm
sàng có rối loạn tiêu hoá. Cần chụp dạ dày, soi và sinh thiết dạ dày để xác định.
- U thùy trái của gan: gõ đục liên tục với vùng đục của gan. Cần siêu âm
soi bụng để xác định.
Ngoài ra còn cần phân biệt với u tuỵ, u mạc treo...
5. Các bệnh thường có lách to (chẩn đoán nguyên nhân).
5.1. Các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng và viêm:
- St rét: là bệnh phổ biến nhất gây lách to nước ta hiện nay. Nếu sốt rét
tiên phát thường lách chỉ to vừa phải. Nếu sốt t tái phát dai dẳng lách thể rất
to. Những nời sống u vùng sốt rét u hành nặng dù không biểu hiện sốt
rét nhưng lách cũng có thể to. Vì vậy những bệnh nhân có lách to lại có tiền sử sốt
rét hoặc ở vùng sốt rét u hành thì nhất thiết phải kiểm tra kỹ ký sinh trùng sốt rét
trong máu.
- Bệnh Kala - azar: do ký sinh trùng Leishmania, lách rất to, tăng bạch cầu
đơn nhân trong máu. Cần phải chọc tủy, chọc lách để tìm ký sinh trùng.
- Lao lách: lách to vừa phải nhưng đau. Có hội chứng nhim độc lao. Có thể
kết hợp lao gan, X quang bụng thể thấy nốt vôi hoá. Cần soi bụng, siêu âm
lách, gan và nếu có thể thì chọc sinh thiết gan, lách để có chẩn đoán xác định.
- Các trường hợp nhiễm khuẩn huyết, thương hàn, osler... lách thường to ít,
mềm, đau. Lâm sàng thường sốt kéo dài, suy kiệt, rối loạn tiêu hoá, tim mạch.
Những trường hợp này nhất thiết phải cấy máu nhiều lần, làm phản ứng huyết
thanh (thương hàn), siêu âm tim (osler)...
- Một số bệnh nhiễm virus cũng thể ch to. Đặc biệt, bệnh tăng bạch
cầu đơn nhân truyền nhiễm lách to kèm theo hạch to và sốt, trong máu xuất hiện
nhiều bạch cầu đơn nhân lymphô kích thích. Cần làm phản ứng huyết thanh
PBD (Paul Bunnell Davidsohn) để chẩn đoán xác định.
- Bệnh lý tự miễn có thể có lách to vừa phải: