Hồi sinh tim phổi ở người lớn
CÁC HƯỚNG DẪN HỒI SINH TIM PHỔI 2000 VÀ 2005
m 1993 Ủy ban Liên lạc Quốc tế về Hồi sinh (International Liaison
Committee on Resuscitation, viết tắt ILCOR) được thành lập nhằm nhận
diện và xem xét các chứng cứ khoa học về hồi sinh tim phổi và cấp cứu tim
mạch và tiến đến một s đồng thuận quốc tế về các hướng dẫn điều trị.
ILCOR gm 7 tổ chức là Hiệp hội Tim Hoa Kỳ, Hội đồng Hồi sinh châu Âu,
Hội Tim Đột quị Canada, Hi đồng Hồi sinh Nam Phi, y ban Hồi sinh
Úc New Zealand, Hội Tim Liên M và Hội đồng Hồi sinh cu Á. Kết
quhoạt động của ILCOR là việc công bố "Hướng dẫn quốc tế về Hồi sinh
tim phi và cấp cứu tim mạch năm 2000" 1. Đây là văn kiện đồng thuận
quốc tế đầu tiên v hồi sinh tim phổi và cấp cứu tim mạch. Trong những
năm sau đó, các chuyên gia thuộc các hội đồng thành viên của ILCOR lại
tiếp tục công việc đánh giá các chứng cứ khoa học.m 2005, Hội Tim Hoa
Kvới tư cách chủ nhà đã phối hợp với ILCOR tổ chức Hội nghị đồng
thuận quốc tế về khoa học hồi sinh tim phổi và cp cứu tim mạch kèm vi
các khuyến o điều trị 2. Các khuyến cáo đưa ra tại hội nghị này được các
chuyên gia Hoa Kdùng làm sở để biên soạn "Hướng dẫn năm 2005 của
Hiệp hi Tim Hoa Kvhồi sinh tim phổi và cấp cứu tim mạch" 3. Hướng
dẫn 2005 đã chính thức thay thế hướng dẫn 2000. So với hướng dẫn 2000,
hướng dẫn 2005 có một số thay đổi quan trọng.
1. T lệ nhấn ngực:hô hấp nhân tạo: Theo hướng dẫn 2000, tỉ lệ
nhấn ngực:hô hấp nhân tạo khi chưa đặt nội khí quản 15:2. Theo hướng
dn 2005, tlệ này là 30:2. Việc tăng tỉ lệ nhấn ngực:hô hấp nhân tạo từ 15:2
lên 30:2 nhằm giảm thiểu thời gian ngưng nhấn ngực (thời gian ngưng
nhấn ngực để hấp nhân tạo 2 i là khong 15 giây). do của sự thay
đổi này nhiu nghiên cứu trên động vật thí nghiệm và trên hình
một số nghiên cứu tn người cho thấy nhấn ngực càng ít bngắt quãng thì
áp lực tưới máu mạch nh càng ng khả ng thành công của hồi sinh
tim phổi càng cao 2,3. Sau khi đặt nội khí qun thì không cần xen kẽ nhấn
ngực và hấp nhân tạo, tần snhấn ngực vẫn là 100/phút tn sp
bóng giúp thqua ống nội khí quản là 8-10/phút.
2. Xtrí ban đầu ngưng tim do rung thất: Theo hướng dẫn 2005,
trong rung thất mới xuất hiện (dưới 3-4 phút), sốc điện phá rung là biện pháp
được lựa chọn. Tuy nhiên nếu ngưng tim xảy ra ngoài bnh viện và không
được nhân viên cấp cứu chứng kiến hoặc nếu biết rõ thi gian từ c ngưng
tim đến khi đội cấp cứu mặt tại hiện trường là trên 4-5 phút, nên thực
hiện 5 chu knhn ngực-hô hấp nhân tạo (khoảng 2 phút) trước khi sốc điện
phá rung.
3. Sốc điện: Theo hướng dẫn 2000, khi cp cứu rung thất hoặc nhịp
nhanh thất mất mạch, người cấp cứu đánh lần lượt 3 cú sốc điện với mức
năng lượng tăng dần, kiểm tra nhịp (trên máy monitor-phá rung) trước và
sau mỗi cú sốc đin và không nhn ngực-hấp nhân tạo giữa các sốc
điện. Hướng dẫn 2005 nhiều thay đổi quan trọng. Thay đổi thứ nhất là sốc
điện một cú duy nhất thay vì 3 cú với mc năng lượng ng dần. Mục đích
của thay đổi này là nhm hạn chế sự gián đoạn nhấn ngực (theo qui trình của
hướng dẫn 2000, thời gian từ khi đánh cú sốc điện đầu tn cho đến khi nhn
ngực trở lại là t29 đến 37 giây). Năng lượng cú sốc điện duy nhất này
người ln là 360 J nếu dùng máy sốc điện dạng ng một pha. Nếu dùng
máy sốc điện có dạng ng 2 pha, năng ợng cú sốc đin là 150-200 J đối
với dạng ng biphasic truncated exponential (BTE) 120 J đối với dạng
sóng rectilinear biphasic. Ngay sau cú sc điện phải nhấn ngực ngay chứ
không được mất thời gian cho việc đánh giá tuần hoàn (bt mạch và kim tra
nhịp trên máy monitor). Chsau khi đã thực hiện 2 phút nhấn ngực-giúp th
(khong 5 chu knhấn ngực xen kẽ hấp nhân tạo trong trường hợp chưa
đặt nội khí quản) thì mới đánh giá tuần hoàn đánh sốc điện tiếp nếu nhịp
vẫn là rung thất hoặc nhịp nhanh thất mt mạch.
4. Thuốc vận mạch và thuốc chống lon nhịp: Theo ng dẫn
2005, epinephrine thuốc vận mạch chuẩn, liều tiêm tĩnh mạch ở người ln
là 1 mg mỗi lần, nhắc li mỗi 3-5 phút. Có ththay thế 2 liu epinephrine
th nhất và th hai bằng một liều vasopressin 40 đơn vị tiêm tĩnh mạch.
Trong cấp cứu rung thất và nhịp nhanh thất mất mạch, thuốc vận mạch được
dùng sau khi đã thất bại vi cú sốc điện đầu tiên.
Các thuốc chống loạn nhịp dùng trong hi sinh tim phổi gồm
amiodarone và lidocaine. Theo ng dẫn 2005, thuốc chống loạn nhịp được
xem xét dùng nếu nhịp vẫn là rung tht hoặc nhịp nhanh thất mất mạch sau
khi đã sốc điện 2 cú và dùng thuốc vận mạch. Liều dùng amiodarone 300
mg tm tĩnh mạch, th nhắc lại 150 mg. Liều dùng lidocaine 1-1,5
mg/kg tm tĩnh mạch, thể nhắc lại 0,5-0,75 mg/kg cách mỗi 5-10 phút
nhưng không vượt quá 3 mg/kg.
5. H thân nhiệt trị liệu: H thân nhiệt trị liệu (therapeutic
hypothermia) lần đầu tiên được đề cập trong hướng dẫn 2005: Những người
ln có hồi phục tuần hoàn nhưng không tỉnh sau ngưng tim ngoài bnh vin
cần được hạ thân nhiệt xuống 32-340C trong 12-24 ginếu nhịp ban đầu là
rung thất. Biện pháp này cũng thể được xem xét dùng nếu nhịp ban đầu
không phi rung thất (đối vi ngưng tim ngoài bệnh viện) và c sau ngưng
tim trong bnh viện. Để xử trí hiện tượng run khi hạ tn nhiệt phải dùng
thuốc an thần và thuốc liệt cơ nếu cần.
HỒI SINH TIM PHỔI VỚI NHẤN NGỰC ĐƠN THUẦN
Hướng dẫn 2005 đã xác định nhấn ngực hữu hiệu (đủ tần số, đủ biên
độ và ít bngắt quãng nhất) là một chìa khóa quan trọng cho thành công của
hồi sinh tim phổi. Trong năm 2007 3 nghiên cứu được ng bố so sánh
hiệu quả của hồi sinh tim phổi chuẩn với hồi sinh tim phổi với nhấn ngực
đơn thuần (tức là không có hấp nhân to, trong y văn tiếng Anh gọi là
hands-only CPR hoặc compression-only CPR) trong ngưng tim ngoài bnh
viện. Các nghiên cứu này những nghiên cu quan sát chứ không phải thử
nghim m sàng phân nhóm ngu nhiên, tuy nhiên c3 đều qui rất
ln nên kết quả đáng lưu ý. Nghiên cu SOS-KANTO là một điều tra về
những trường hợp ngưng tim ngoài bệnh viện (tuổi 18) người chứng
kiến sau đó được chuyển vào khoa cấp cứu của các bệnh viện tại vùng
Kanto (Nhật) t1/9/2002 đến 31/12/2003 4. Nghiên cứu của Iwami và cng
slà một khảo t trên những trường hợp ngưng tim ngi bệnh viện (tuổi