intTypePromotion=1
ADSENSE

Kích thước cột sống cổ của người Việt Nam trưởng thành bình thường bằng chụp cắt lớp vi tính

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

5
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cột sống cổ là một vùng giải phẫu phức tạp đóng vai trò quan trọng trong chức năng vận động và nâng đỡ cơ thể. Việc nắm rõ kích thước cột sống cổ không chỉ quan trọng trong chẩn đoán bệnh lý cột sống mà còn giúp ích cho các phẫu thuật viên. Bài viết trình bày xác định kích thước cột sống cổ của các bệnh nhân tuổi từ 18 trở lên đến khám tại bệnh viện Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kích thước cột sống cổ của người Việt Nam trưởng thành bình thường bằng chụp cắt lớp vi tính

  1. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 26 * Số 2 * 2022 Nghiên cứu Y học KÍCH THƢỚC CỘT SỐNG CỔ CỦA NGƢỜI VIỆT NAM TRƢỞNG THÀNH BÌNH THƢỜNG BẰNG CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH Đỗ Phúc Long1, Nguyễn Thị Minh Trang2, Đỗ Hải Thanh Anh2, Lê Văn Phước2, Trương Thị Phương Thảo2 TÓM TẮT Đặt vấn đề: Cột sống cổ là một vùng giải phẫu phức tạp đóng vai trò quan trọng trong chức năng vận động và nâng đỡ cơ thể. Việc nắm rõ kích thước cột sống cổ không chỉ quan trọng trong chẩn đoán bệnh lý cột sống mà còn giúp ích cho các phẫu thuật viên. Mục tiêu: Xác định kích thước cột sống cổ của các bệnh nhân tuổi từ 18 trở lên đến khám tại bệnh viện Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp: Kích thước các cấu trúc cột sống cổ được đo trên hình ảnh cắt lớp vi tính vùng cổ của 150 bệnh nhân tuổi từ 18 đến 41 và không có bệnh lý cột sống. Các phép kiểm T được dùng để so sánh sự khác biệt các kích thước ở nam và nữ. Kết quả: Các kích thước cột sống cổ của nam lớn hơn nữ (p
  2. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 26 * Số 2 * 2022 width increased from C3 to C7. Right and left pedicle height maximum at C7. Conclusions: Cervical vertebrae dimensions vary between sexes, vertebral and intervertebral disc levels. Keywords: dimension, cervical vertebrae, computed tomography ĐẶT VẤNĐỀ Tiêu chuẩn chọn Cột sống cổ đóng vai trò quan trọng đối với Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên đến khám tại chức năng vận động và nâng đỡ cơ thể. Tuy vậy, bệnh viện Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí trong các bệnh lý cơ-xương-khớp, các vấn đề ở Minh được chụp CLVT vùng cổ. cột sống cổ thường khá thường gặp như thoái Tiêu chí loại trừ hóa, thoát vị đĩa đệm, chấn thương mất vững. Bệnh nhân có các bất thường bẩm sinh cột Các tổn thương nói trên làm thay đổi cấu trúc và sống hoặc bệnh lý cột sống như viêm, u, thoái chức năng sinh lý của cột sống, cuối cùng gây ra hóa, có chất thương cột sống hoặc đã được phẫu các triệu chứng lâm sàng như đau, tê bì vùng cổ, thuật cột sống. cánh tay, hạn chế cử động cột sống, làm giảm Phƣơng pháp nghiên cứu chất lượng cuộc sống. Ngày nay, với sự tiến bộ Thiết kế nghiên cứu vượt bậc trong các kỹ thuật chẩn đoán, bác sĩ Cắt ngang mô tả. chẩn đoán hình ảnh đã có vai trò khá quan trọng trong việc phát hiện và chẩn đoán các bệnh lý Kỹ thuật chụp CLVT vùng cổ nói chung và bệnh lý vùng cột sống cổ nói riêng. Tư thế bệnh nhân khi chụp CLVT: đặt bệnh Việc chẩn đoán sớm, chính xác sẽ giúp bác sĩ lâm nhân trong khung máy, nằm ngửa, vai hạ thấp sàng lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp tối đa, hai tay xuôi dọc theo cơ thể. Bệnh nhân (nội khoa hoặc ngoại khoa)(1,2). Do đó, việc nắm nhịn thở và không nuốt trong quá trình thực vững các kích thước giải phẫu bình thường của hiện. Hình ảnh cắt lớp vi tính vùng cổ của bệnh cột sống cổ là rất quan trọng, không chỉ giúp cho nhân được hiển thị trên cửa sổ xương. Sử dụng các nhà chẩn đoán hình ảnh trong quá trình chẩn kĩ thuật tái tạo MPR với độ dày 1 mm và khoảng đoán mà còn giúp các phẫu thuật viên hạn chế cách 0,8 mm để thu được ba mặt phẳng ngang, biến chứng trong các cuộc phẫu thuật. đứng dọc và đứng ngang. Ở Việt Nam cũng có vài nghiên cứu đo các Biến số nghiên cứu kích thước giải phẫu của đốt sống cổ, nhưng Đo kích thước khối bên C1 thường không toàn diện, vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu đo các kích thước bình thường của cột sống cổ người Việt Nam trưởng thành. Mục tiêu nghiên cứu là xác định các kích thước của khối bên đốt sống C1, cuống sống đốt sống C2, thân sống, cuống sống đốt sống C3 đến C7 ở người Việt Nam trưởng thành. ĐỐI TƢỢNG- PHƢƠNG PHÁP NGHIÊNCỨU Đối tƣợng nghiên cứu Các bệnh nhân tuổi từ 18 tuổi trở lên được chụp cắt lớp vi tính (CLVT) vùng cổ bằng máy 128 dãy đầu dò tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2017 đến Hình 1: Hình minh họa đo kích thước khối bên C1 tháng 12/2020. (BN L.V. X, số hồ sơ N20-0021446) Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Y Tế Công Cộng 133
  3. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 26 * Số 2 * 2022 Nghiên cứu Y học Mặt cắt ngang đi qua khối bên C1: Đo đường thân sống. kính ngang và đường kính trước sau của khối + Đo đường kính trước sau mặt trên và mặt bên, chính là khoảng cách dài nhất của khối bên dưới thân sống: khoảng cách giữa bờ trước và bờ theo chiều trước sau và chiều ngang. sau thân sống. Đo kích thước cuống sống C2-C7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu Mặt cắt ngang đi qua trục cuống sống: Đo Các kích thước trong nghiên cứu được trình đường kính ngang của cuống sống: khoảng cách bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn (mm). nhỏ nhất giữa bờ trong và bờ ngoài cuống sống. Phép kiểm t được sử dụng để kiểm định sự Mặt cắt đứng dọc đi qua trục cuống sống: Đo khác biệt kích thước giữa nam và nữ, giữa các chiều cao của cuống sống: khoảng cách nhỏ nhất kích thước bên trái và bên phải. giữa bờ trên và bờ dưới cuống sống. Phép kiểm ANOVA được sử dụng để kiểm định sự khác biệt giữa các kích thước trên năm tầng đốt sống liên tiếp. Y đức Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TP. HCM, số: 974/HĐĐĐ-ĐHYD, ngày 29/12/2020. KẾT QUẢ Hình 2: Hình minh họa đo đường kính và chiều cao Kích thƣớc khối bên C1 cuống sống (BN L.V.X, số hồ sơ N20-0021446) Đường kính ngang và đường kính trước sau Đo kích thước thân sống C3-C7 khối bên C1 của nam giới lớn hơn nữ giới, khác Mặt cắt ngang đi qua chính giữa thân sống: biệt có ý nghĩa thống kê (p 0,05). Bảng 1: Kích thước khối bên C1 Đường kính ngang Đường kính trước sau Giới (mm) (mm) Phải Trái Phải Trái Nam 13,12 ± 13,25 ± 19,87 ± 1,14 19,53 ± 1,06 (N=75) 0,64 0,73 12,26 ± 12,33 ± Nữ (N=75) 19,28 ± 0,99 19,00 ± 0,97 0,75 0,82 Đƣờng kính ngang ở mức giữa thân sống C3- Hình 3: Hình minh họa đo đường kính trước sau và C7 chiều cao thân sống (BN L.V.X, số hồ sơ N20-0021446) Bảng 2: Đường kính ngang ở mức giữa thân sống Mặt cắt đứng dọc đi qua chính giữa thân sống: Đường kính ngang thân sống (mm) Đốt sống Nam (N=75) Nữ (N=75) + Đo chiều cao mặt trước thân sống: khoảng C3 22,57 ± 0,92 20,93 ± 0,89 cách giữa góc trước trên và góc trước dưới của C4 23,25 ± 1,00 21,61 ± 0,93 thân sống. C5 24,25 ± 0,97 22,90 ± 0,85 + Đo chiều cao mặt sau thân sống: khoảng C6 26,14 ± 1,18 24,55 ± 0,80 C7 29,04 ± 1,35 27,10 ± 0,90 cách giữa góc sau trên và góc sau dưới của 134 Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Y Tế Công Cộng
  4. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 26 * Số 2 * 2022 Đường kính ngang thân sống của nam giới cao bờ trước và bờ sau thân sống giảm từ C3 tới lớn hơn nữ giới ở tất cả các đốt sống, khác biệt có C5 là nhỏ nhất, rồi tăng dần tới C7, sự khác biệt ý nghĩa thống kê (p
  5. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 26 * Số 2 * 2022 Nghiên cứu Y học Tương đồng với nghiên cứu của các tác giả Lê thể do sự khác biệt chủng tộc gây ra. Nghiên cứu Viết Dũng, David C hay Goksin S(1,3,4). Tuy nhiên, của Bashar A(11) thấy rằng đường kính trước sau nghiên cứu của tác giả Nitixa PP(5) có đường lớn nhất ở thân sống C7, nhỏ nhất ở thân sống kính trước sau khối bên C1 lớn hơn số liệu của C5. Trong khi Brian K(9) lại ghi nhận giá trị lớn chúng tôi còn đường kính ngang khối bên C1 thì nhất ở C6, nhỏ nhất ở C3. Chúng tôi ghi nhận lại nhỏ hơn số liệu của chúng tôi, nguyên nhân kích đường kính trước sau ở mặt dưới thân sống có thể là do tác giả Nitixa PP thực hiện đo trực lớn hơn mặt trên thân sống, điều này tương tự tiếp trên xác. với nghiên cứu của tác giả Brian K(9). Chiều cao Đường kính ngang cuống sống C2 có giá trị thân sống có giá trị nhỏ nhất là 12,42 ở bờ trước từ 3,61 mm đến 6,88 mm. Còn chiều cao cuống thân sống C5, cao nhất là 14,26 ở bờ trước thân sống C2 có giá trị từ 6,07 mm đến 9,82 mm. sống C7. Chiều cao thân sống ở cả bờ trước và Nghiên cứu của tác giả Lê Viết Dũng(1) cho giá trị bờ sau đều giảm dần từ C3 tới C5, tăng lên ở C6 trung bình của đường kính ngang cuống sống và lớn nhất ở C7. Nghiên cứu của các tác giả C2 khá tương đồng, tác giả Pakorn Y(6) nghiên trong nước như Trương Thiết Dũng, Trần Ngọc cứu trên quần thể người Thái Lan hay tác giả Anh(2,10) cho giá trị trung bình không tương ứng Wiwat W(7) cũng cho ra kết quả tương đồng với với nghiên cứu của chúng tôi, điều đó có thể là nghiên cứu của chúng tôi. Bên cạnh đó, các do nghiên cứu của Trương Thiết Dũng(2) thực nghiên cứu của tác giả Gosavi, S(4,8) với phương hiện đo trực tiếp trên xác chết, còn tác giả Trần pháp nghiên cứu là đo trực tiếp trên xác thì đều Ngọc Anh(10) đo trên hình ảnh cộng hưởng từ. cho số liệu lớn hơn tương đối với nghiên cứu Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu trên đều thống của chúng tôi. nhất chỉ ra xu hướng chiều cao thân sống giảm Về kích thước của thân sống đốt sống cổ dần từ C3 tới C5, sau đó tăng lên ở C6 và lớn thấp, chúng tôi ghi nhận đường kính ngang thân nhất ở C7. Khi so sánh giữa chiều cao thân sống sống có chiều hướng tăng dần từ C3 tới C7, với ở bờ trước và bờ sau, chúng tôi ghi nhận chiều giá trị trung bình nhỏ nhất ở C3 (21,75 mm) lớn cao bờ trước thân sống lớn hơn bờ sau thân sống nhất ở C7 (28,07 mm). Tác giả Trương Thiết ở các đốt C3, C4, C7. Chiều cao bờ sau thân sống Dũng(2) cho kết luận tương tự về chiều hướng lớn hơn bờ trước thân sống ở các đốt C5, C6. tăng dần, tuy nhiên các giá trị trung bình lại thấp Điều này không giống với tác giả Bashar A(11) khi hơn nghiên cứu của chúng tôi, điều này có thể là tác giả này ghi nhận chiều cao bờ trước thân do tác giả đo trực tiếp trên xác. Tác giả Brian K(9), sống lớn chiều cao bờ sau thân sống hơn ở các với phương pháp nghiên cứu trên hình ảnh đốt C3, C6, C7, thấp hơn ở các đốt C4, C5. Còn CLVT, cho kết quả tương tự với nghiên cứu của nghiên cứu của tác giả Trương Thiết Dũng và chúng tôi. Còn đường kính trước sau thân sống Trần Ngọc Anh(2,10) lại thống nhất chỉ ra rằng C3-C7 có giá trị nhỏ nhất là 13,48 ở mặt trên C3, chiều cao bờ trước thân sống lớn hơn chiều cao lớn nhất là 15,17 ở mặt dưới C7. Đường kính bờ sau thân sống ở tất cả các đốt sống C3-C7. trước sau thân sống C3 là nhỏ nhất, lớn nhất ở Về kích thước cuống sống của đốt sống cổ C7. Các nghiên cứu trong nước như tác giả thấp, chúng tôi ghi nhận đường kính ngang Trương Thiết Dũng, Trần Ngọc Anh(2,10) cho các cuống sống C3-C7 ở nữ giới có giá trị từ 3,27 mm giá trị trung bình khá tương đương với nghiên tới 6,98 mm, còn ở nam giới là từ 3,63 mm tới cứu của chúng tôi và ghi nhận đường kính trước 7,46 mm. Đường kính ngang cuống sống có xu sau thân sống C7 cũng có giá trị lớn nhất. Các hướng tăng dần từ cuống sống C3 tới C7. nghiên cứu ở nước ngoài như của tác giả Bashar Nghiên cứu của tác giả Trương Thiết Dũng(2) cho A hay Brian K(9,11) đều cho giá trị trung bình lớn thấy các giá trị trung bình thấp hơn so với hơn hẳn các nghiên cứu trong nước. Điều này có nghiên cứu của chúng tôi, điều này có thể do tác 136 Chuyên Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh - Y Tế Công Cộng
  6. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 26 * Số 2 * 2022 giả này thực hiện đo trực tiếp trên xác chết với 2. Trương Thiết Dũng (2012). Nghiên cứu một số đặc điểm giải phẫu cột sống cổ đoạn C3-C7 ứng dụng trong phẫu thuật cột do cỡ mẫu khá nhỏ (44 mẫu), tuy nhiên nghiên sống cổ thấp do chấn thương. Luận Án Tiến Sĩ Y Học, Học viện cứu này cũng ghi nhận đường kính ngang cuống Quân Y. 3. David C, Robert E, James L, Michael Y, et al (2007). C1 anatomy sống có xu hướng tăng dần từ C3-C7. Nghiên and dimensions relative to lateral mass screw placement. Spine, cứu của các tác giả Leonard W(12) trên người da 32(8):844-848. trắng ghi nhận các giá trị trung bình lớn hơn so 4. Goksin S, Hakan HK (2006). Morphometric anatomy of the atlas and axis vertebrae. Turkish Neurosurgery, 16(2): 69-76. với nghiên cứu của chúng tôi, điều này có thể là 5. Nitixa PP, Deepa SG (2016). A morphometric study of adult do khác biệt về chủng tộc. Trong khi nghiên cứu human atlas vertebrae in South Gujarat population, India. của các tác giả Kamran F, Pongsthorn C(13,14) lần International Journal of Research in Medical Sciences, 4:10. 6. Pakorn Y, Thakul O, Tunthanathip T (2020). Morphometry of lượt ở Ấn Độ và Thái Lan cho các giá trị khá the C2 Pedicle and Lamina in Thai Patients. Asian Journal of tương tự nghiên cứu của chúng tôi. Chiều cao Neurosurger, 15:39-44. 7. Wiwat W, Thamrong L, Praman F, Pongsthorn C, et al (2016). cuống sống C3-C7 ở nữ giới có giá trị từ 4,24 mm Prevalence of High-Riding Vertebral Artery and Morphometry tới 7,19 mm, còn ở nam giới là từ 4,61 mm tới of C2 Pedicles Using a Novel Computed Tomography 8,46 mm. Chiều cao cuống sống ở C4 cao hơn Reconstruction Technique. Asian Spine Journal, 10(6):1141-1148. 8. Shilpa G, Vatsalaswamy P (2012). Morphometric Study of the C3, C5 sau đó tăng lên ở C6, lớn nhất ở C7. Atlas Vertebra using Manual Method. Malays Orthop J, 6(3):18- Nghiên cứu của tác giả Trương Thiết Dũng(2) cho 20. thấy các giá trị trung bình hơi thấp hơn so với 9. Brian K, Frederick S, William M, Jonathan G, et al (2004). Morphologic evaluation of cervical spine anatomy with nghiên cứu của chúng tôi. Nghiên cứu của các computed tomography: anterior cervical plate fixation tác giả Kamran F, Pongsthorn C(13,14) cũng cho các considerations. J Spinal Disord Tech, 17(2):102-107. 10. Trần Ngọc Anh (2006). Nghiên cứu kích thước cột sống cổ trên giá trị trung bình thấp hơn nghiên cứu của X quang và MRI ở người Việt trưởng thành bình thường và chúng tôi, có thể do khác biệt về phương pháp người có biểu hiện lâm sàng thoái hóa cột sống cổ. Luận Án Tiến nghiên cứu. Nghiên cứu của tác giả Leonard Sĩ Y Học, Học viện Quân Y. 11. Bashar A, Banu T, Baris K, Saffet T (2010). Anatomic basis of W(12) cũng nghiên cứu trên hình ảnh CLVT, với anterior and posterior instrumentation of the spine: mặt cắt và cách đo tương đồng nghiên cứu của morphometric study. Surg Radiol Anat, 32(1):75-85. chúng tôi đã cho ra kết quả khá tương tự nghiên 12. Leonard W, Carolin S, Peer E, Marvin S, et al (2018). Computer tomography-based morphometric analysis of the cervical spine cứu của chúng tôi. pedicles C3-C7. Acta Neurochir, 160(4):863-871. 13. Kamran F, Rahul Y, Buddhadev C, Shivanand G, et al (2018). KẾT LUẬN Computerized Tomography–Based Morphometric Analysis of Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các kích Subaxial Cervical Spine Pedicle in Asymptomatic Indian Population. International Journal of Spine Surgery, 12(2):112-120. thước cột sống cổ ở nam giới đều lớn hơn ở nữ 14. Pongsthorn C, Chaiwat K, Aroonjarattham K (2014). giới (p 0,05). Các kích thước của thân sống có sự thay đổi đa dạng, giữa hai tầng đốt sống liên tiếp sẽ Ngày nhận bài báo: 28/11/2021 có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2