
Kiến thức lớp 10
Nguyễn Bỉnh Khiêm –Nhàn-phần 3
1. Tác giả
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) người làng Trung Am, huyện
Vĩnh Lại, Hải Dương (nay thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng), từng thi
đỗ Trạng nguyên. Làm quan được tám năm, ông dâng sớ xin
triều đình chém mười tám kẻ lộng thần nhưng không được chấp
nhận. Sau đó ông xin về trí sĩ ở quê nhà, tự đặt tên hiệu là Bạch
Vân cư sĩ, dựng am Bạch Vân, lập quán Trung Tân, mở trường
dạy học.
Tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm gồm có tập thơ chữ Hán Bạch
Vân am thi tập, tập thơ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi, tập sấm kí
Trình Quốc công sấm kí,…

2. Tác phẩm
Bao trùm trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm từ khi về trí sĩ ở quê nhà
là cảm hứng thanh nhàn, tự tại, gắn bó với thiên nhiên, không tơ
tưởng bon chen phú quý. Cảm hứng ấy được thể hiện bằng
những bài thơ có ngôn từ giản dị, tự nhiên mà cô đọng, giàu ý vị.
Bài thơ Nhàn trích trong tập thơ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi là
một trường hợp tiêu biểu.
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sống gần trọn thế kỉ XVI, giai
đoạn có nhiều biến cố phức tạp, nội chiến tranh giành quyền lực
giữa các tập đoàn phong kiến diễn ra liên miên, nhân dân lầm
than đói khổ trong cảnh "nồi da nấu thịt". Sáng tác của Nguyễn
Bỉnh Khiêm thể hiện thái độ phê phán những thói đời bạc bẽo,
ham danh lợi mà bỏ đi tình nghĩa, là một biểu hiện thanh cao của
một tấm lòng thiết tha với dân tộc.
"Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm là bài thơ tiêu biểu cho mảng thơ

về đề tài "tịch cư" trong văn học trung đại. Bài thơ vẽ nên một
bức tranh sinh hoạt của người ẩn sĩ với thú vui dân dã. Khi về ở
ẩn, Trạng Trình đã tỏ ra rất bằng lòng với lựa chọn của mình :
Cao khiết thuỳ vi thiên hạ sĩ ?
An nhàn ngã thị địa trung tiên !
(Ngụ hứng)
Là tiên khách bởi được thoải mái cả về thân xác và tinh thần :
Nội đắc tâm thân lạc,
Ngoại vô hình dịch luỵ.
(Bên trong được thú vui của tâm, của thân,
Bên ngoài khỏi phải chạy vạy để phục dịch cho hình xác)
(Cảm hứng)
Thú vui nhàn dật, tránh xa khỏi vòng danh lợi là một đề tài khá
quen thuộc của văn học thế kỉ XVI. Nhiều tác giả ca ngợi cuộc

sống miền thôn dã với thú vui điền viên sơn thuỷ :
Yêu thay miền thôn tịch ;
Yêu thay miền thôn tịch !
Cư xử dầu lòng ;
Ngao du mặc thích.
Khéo chiều người mến cảnh sơn hà ;
Dễ quyến khách vui miền tuyền thạch.
(Nguyễn Hàng, Tịch cư ninh thể phú)
Cuộc sống tự nhiên, thanh tao miền tịch cư đã giúp các nhà nho
tránh được những phiền phức chốn quan trường. Cuộc sống
nhàn tịch miền thôn dã được tác giả miêu tả ở hai câu đề và hai
câu thực :
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Cách dùng số từ, danh từ, từ "thơ thẩn" trong câu thơ thứ nhất và
nhịp điệu hai câu đề gợi nên dáng vẻ ung dung trong công việc
lao động hàng ngày và thể hiện những nhu cầu khiêm tốn của
cuộc sống ẩn dật. Cuộc sống thật gần gũi với tự nhiên, đơn giản
mà thanh sạch, vô tư, dường như không mảy may vướng bận
những lo toan của cuộc sống bon chen nơi đông đúc. Cuộc sống
đơn giản, với những sinh hoạt đạm bạc, mùa nào thức ấy, không
phải lo lắng gì nhiều. Đủ cả bốn mùa, mỗi mùa một sản vật, vừa
thể hiện thời gian quanh năm, vừa thể hiện được mối quan hệ
gần gũi, hoà nhập cùng thiên nhiên. Một trong những đặc điểm
nổi bật của lối sống ẩn dật là hoà nhập cùng thiên nhiên. Những
nhu cầu giản dị của người ẩn sĩ đều được thiên nhiên thoả mãn
một cách dễ dàng. Những sinh hoạt của người ẩn sĩ thật giản dị
và thanh cao, giống như một tiên khách chốn trần gian. Bằng lòng
với cuộc sống ẩn dật, người ẩn sĩ tự hào với sự lựa chọn của
chính mình :

