Kinh nghiệm dân gian chữa bệnh bằng rau má
Rau má có tên khoa học là Centella asiatica (L.) Urban và có nhiều tên gọi trong
dân gian như tích tuyết thảo, liên tiền thảo, địa tiền thảo, mã đề thảo, lão công căn,
băng khẩu uyển, thổ tế tân, bán biên nguyệt, đại diệp kim tiền thảo, hồ quả thảo,
lục địa mai hoa, đại diệp thương cân thảo...
Rau má tươi.
Theo các sách thuốc cổ như Bản thảo cương mục, Bản thảo cầu nguyên, Đường
bản thảo, Dược tính luận, Bản kinh, Biệt lục, Nam dược thần hiệu..., rau máv
đắng, tính hàn, vào được 3 kinh can, tỳ và thận, có công dụng thanh nhiệt lợi thấp,
tiêu thũng giải độc, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như tiết tả về mùa
hè, bệnh lỵ, vàng da do thấp nhiệt, sỏi đường tiết niệu, tiện huyết, khái huyết, thổ
huyết, đau mắt đỏ, viêm hng, dị ứng mẩn ngứa, nhọt độc, tổn thương do sang
chấn, bỏng... Một số kinh nghiệmn gian dùng rau má chữa bệnh như sau:
Vàng da do thấp nhiệt: rau má 30-40g, đường phèn 30g, sắc uống.
Đi lỏng do trúng thử: rau má 30g sc với nước vo gạo uống hàng ngày.
Đái ra máu: rau má ích mẫu thảo mỗi thứ một nắm, rửa sạch, giã nát vắt lấy
nước uống. Táo n: rau má 30g giã nát đắp vào rn.
Bệnh sởi: rau má 30-60g, sắc uống.
Áp-xe vú giai đoạn đầu: rau má và vỏ quả cau lượng bằng nhau sắc uống, nếu pha
thêm một chút rượu thì càng tốt.
Nhọt độc: rau má tươi rửa sạch, giã nát đắp lên tổn thương hoặc rau má tươi 30-
60g, sắc uống.
Lloét vùng lưng (đông y gọi là chng Triền yêu hỏa đan): rau má tươi rửa sạch,
giã nát, ép ly nước cốt hòa với bột gạo nếp thành dng hồ rồi bôi lên tn thương.
Chấn thương phần mềm gây sưng nề: rau má tươi 20-30g giã nát, vắt lấy nước hòa
với một chút rượu uống. Lở loét ống chân (chứng liêm sang): rau má tươi giã nát,
đắp lên tổn thương.
Đau mắt đỏ: rau má tươi rửa sạch, giã nát, đắp lên vùng mạch ở lằn chỉ cổ tay
(thốn khẩu).