Lão Hạc – bi kịch bảo tồn thiên lương
1.1-Xung đột bi kịch:
Xung đột bi kịch trong Lão Hạc” xung đột giữa ý thức bảo tồn thiên lương
của lão Hạc với cái đói. Trong truyện nhà văn không trực tiếp tả cái đói như ông đã
từng tả trong Một bữa no” hoặc như Thạch Lam, Nguyễn Thị Vịnh từng m nhưng
cái đói dưới ngòi bút Nam Cao một sức mạnh vô hình ghê gớm luôn rình chực bẻ
gãy thiên lương, quật ngã con người.
Hoàn cảnh khách quan của lão Hạc: Từ ngày đứa con đi phu “lão m thuê để
kiếm ăn. Hoa lợi của khu ờn được bao nhiêu, lão để riêng ra. Lão chắc mẩm thế nào
đến lúc con lão về, lão cũng được một trăm đồng bạc”. Sau trận ốm, số tiền chắt
chiu bao nhiêu m tháng của lão hết nhẵn, sức lực con người lão cũng cạn kiệt. Lại
gặp cảnh khủng hoảng chung của làng xóm khi Làng mất vè sợi, nghề vải đành phải
bỏ. Đàn bà rỗi rãi nhiều. Cònviệc nhẹ nào họ tranh nhaum mất cả” ,“ Rồi lại bão.
Hoa màu bị phá sạch sành sanh…Gạo cứ kém mãi đi. Một lão với một con chó, mỗi
ngày ba hào gạo, mà gia sự vẫn còn đói deo đói dắt”.
Thiên lương là đức tính , phẩm chất tốt đẹp ông trời phú cho con người.
cốt lõi trong đạo đức nhân mỗi nời. Thông thường đạo đức nhân bao gồm
hai loại quan hệ đạo đức: quan hệ đạo đức nhân với cộng đồng quan hđạo đức
nhân với chính bản thân mình. Loại quan htrước, mọi thiết chế hội đều ra sức
cổ vũ, rèn cặp theo tưởng của giai cấp cầm quyền ( Vì trong hội giai cấp thì
tưởng thống trị tưởng của giai cấp thống trị). Loại quan hệ thứ hai thể hiện nỗ
lực của bản thân mỗi con người- cá nhân, nó được thể hiện qua những đức tính: tự lực,
tự lập, tự tín, tự trọng , tự ái,..Ý thức về nhân cách chính là cơ sở triết học của loại đức
tính này. Không loại quan hệ thứ hai đủ mạnh , con người ta thể giàu có, thành
đạt , thành danh nhưng không thể nhân cách đẹp. Những tấm gương nhân cách
“vằng vặc như sao Khuê” trong lịch sViệt Nam một minh chứng. Họ hầu hết đâu
xuất thân từ tầng lớp bình dân nhưng đạo đức , nhân cách của họ, người bình dân
vẫn mãi mãi tôn vinh, noi dấu.
Lão Hạc- trong truyện ngắn cùng tên- bề ngoài vgàn dở, lẩm cẩm, thậm
chí có lúc còn bị nghi là đánh bả chó nữa; thế nhưng, mặc cho cái vbề ngoài có phần
lẩn thẩn của nhân vật, Nam Cao đã cố m hiểu” để nhìn thấu cái bề sau, bề sâu,
bề xa, để thấy được bản chất nhất mực lương thiện, nhân hậu, tuyệt vời tự trọng vị
tha của lão. nghĩa lão Hạc con người ý thức sâu sắc vđạo đức nhân, kiên
quyết giữ cho bằng được thiên lương lành sạch. Thiên lương của lão Hạc chỗ lão
“ luôn luôn tự xoá mình đi trong tương quan chồng vợ, cha con: mảnh vườn thì do vợ
tậu, con chó thì của con mua. Lão không tự cho mình sở đắc một cái cả, sự xoá
mình ý thức ấy một đặc điểm quan trọng nhất quán trong tính cách lão Hạc để
dẫn đến sự chọn lựa cuối cùng của đời lão. Một đức hi sinh lớn lao trong từng nếp
nghĩ, đã thành lẽ sống ở đời” [13 ;282]
1.2- Đặc điểm của nhân vật bi kịch- lão Hạc:
Truyện Lão Hạc thực chất một cuộc đối thoại liên tục giữa các luồng suy
nghĩ khác nhau: con chó của lão Hạc quý hay m sách của một người nhiều chữ
nghĩa, nhiều luận” như ông giáo- nhân vật người kchuyện trong truyện- quý?
Ông lão một người ki bo tiền chịu khổ! Lão m lão khổ chứ ai làm lão
khổ”( theo cách nghĩ của vợ ông giáo) và là một con người “ làm bộ..chỉ tẩm ngẩm thế
nhưng cũng ra phết chứ chả vừa đâu” (theo suy luận của Binh Tư) hay một con
người thiên lương mát trong như mạch suối nguồn ? Lão lỗi già bằng này tuổi
đầu rồi còn đánh lừa một con chó” ( theo cách nghĩ của lão) hay lão làm như
vậy chẳng qua cũng một cách hóa kiếp cho ( theo cách nghĩ của ông giáo)?
cả mt câu hỏi còn bỏ lửng, xót xa nhưng chạm đến cái “sơn cùng thuỷ tận của
kiếp người: Kiếp con chó là khổ hơn kiếp người như kiếp của lão chăng?
Thế đấy , hành trình làm người của lão Hạc thật nhọc nhằn.
Mở đầu truyện, từ điểm nhìn của nhân vật Tôi - ông giáo- nời kchuyện :
“Lão Hạc thổi cái mồi rơm, châm đóm. Tôi đã thông điếu và bỏ thuốc rồi. Tôi mời lão
hút trước…”, Nam Cao đã khéo léo dẫn dắt cuộc đối thoại ngầm giữa hai ý thức: ý
thức của lão Hạc ý thức của ông giáo. Lão Hạc phải dềnh dàng mãi mới nói ra cái
dự định mà ông không hề muốn làm: “ Có lẽ tôi bán con chó đấy , ông giáo ạ!” . Nghe
câu đó, ông giáo rất dửng dưng” vì biết Lão nói nói để đó thế thôi; chẳng bao
giờ lão bán đâu. Vả lại, có bán thật đi nữa thì đã sao? Làm quái một con chó mà lão
có vẻ boăn khoăn quá thế! ”. Ông giáo mặc nhiên muốn bác lão Hạc: Lão quý con chó
vàng của lão đã thấm vào đâu với tôi quý năm quyển sách của tôi…”. Tục ngữ Việt
Nam vốn câu : Nhà giàu cưng chó, nhà khó cưng con”. nghĩa tuỳ theo đối
tượng, tuỳ theo gia sự con người ta quan tâm đến cái gì. Nói như tục ngữ, không
phải nhà giàu không cưng con , mà chỉ cưng chó thôi, sự thực thì nhà giàu họ thừa khả
năng để cưng con, vn đề họ nhiều của nả nên cưng chó đchó giữ tài sản cho họ ,
cũng cho con. Nhà nghèo chỉ lưng vốn để đời các đứa con, mai sau
may ra ông trời cho khá vì “ không ai giàu ba họ , không ai khó ba đời”. Ông giáo quý
mấy cuốn sách cũng sách kỉ vật về một thời đầy ước. Chứ thực ra thì ông
giáo khổ ấy thừa hiểu Sách vở ích gì cho buổi ấy”. Mặt khác - cũng theo cách nói
của chính Nam Cao - khi một người bị đau chân thì chỉ nghĩ đến cái chân đau của
mình , i sức đâu ngđến cái đau của người khác. Nhưng rồi sau đó, đương nhiên,
ông giáo cũng hiểu ra cái do khiến lão Hạc khổ tâm khi phải bán chó chính vì lão
thương thằng con , cốt nhục duy nhất của lão giờ trôi dạt không biết tận đẩu tận đâu,
không khéo cả đời sẽ sa vào kiếp vong gia thất thổ. Do đó tuy mầm mống bi kịch
của lão Hạc bắt đầu từ một tình yêu bất thành nhưng bi kịch nội m của lão Hạc thật
sự khởi động khi lão ý định bán “cậu vàng”, trong nỗi tuyệt vọng ngay cả cái tử
tế cuối cùng, cái niềm hi vọng cuối cùng của lão lão cũng đánh mất “tôi già bằng này
tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó”
Làm cha , lão Hạc không lo nổi cho con trai cưới vợ, để cho con phải phẫn chí
bỏ xứ ra đi làm phu đồn điền cao su cho Pháp trong niềm ám ảnh hãi hùng . Không có
con bên cạnh, lão Hạc bầu bạn cùng con chó lão âu yếm gọi bằng Cậu Vàng,
gán ghép con trai mình bố cậu vàng. Cậu Vàng nthế đã tư cách của một đứa
cháu! Nặng nề biết bao khi lão quyết dứt tình để bán cậu Vàng. Không bán cậu vàng,
làm sao lão nuôi nổi không để bị ốm đói? lão cũng đang đói dài ! Không
bán cậu Vàng m sao lão đủ chút tiền để khi nhắm mắt xuôi tay mà không mấy
“liên lụy đến ng m láng giềng” ? Thế chẳng đặng đừng, lão phải bán chó, nhưng
việc m chẳng đặng đừng đó thật sự làm lão đau đớn. Hãy nghe lời ông giáo: Lão
cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu đôi mắt lão ầng ậng nước.(…)
Mặt lão bỗng nhiên co m lại. Những vết nhăn lại với nhau, ép cho nước mắt
chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên cái miệng móm mém của lão mếu như con
nít. Lão hu hu khóc…”. Chứng kiến cảnh đó, ông giáo cũng muốn ôm choàng lấy
lão òa lên khóc không xót xa năm quyển sách quá như trước nữa” vì cuộc
đời là một sự bị tước đoạt dần dần những cái mình quý mình yêu. Ông giáo nói với lão