Lập bản đồ di truyền (genetic mapping)
Việc lập bản đồ gene là một bước quan trọng trong việc tìm hiu, chẩn đoán
điều tr các bệnh di truyền. Hiện nay đã trên 14.000 gene trong s
khoảng từ 30.000 đến 40.000 gene trong genome của người đã được xác định
vtrí trên nhiễm sắc thể và chkhoảng 1.500 bệnh do đột biến gene đã xác
định được đột biến trên các gene đặc hiệu. Như vậy rõ ràng vẫn còn rất
nhiều việc phải làm đ tìm hiểu các biến đổi xảy ra trên gene m gây ra
những bệnh di truyền.
hai cách lập bản đồ gene chính: (1) Lập bản đồ di truyền (genetic
mapping) phương pháp trong đó tần số hoán vị giữa các locus trên NST
qua giảm phân được sử dụng để đánh giá khoảng cách giữa các locus và (2)
lập bản đồ vật (physical mapping) liên quan tới việc sử dụng các kỹ thuật
phân tử và di truyền tế bào để xác định vị trí vật lý của các gene trên NST.
1.Hiện tượng trao đổi chéo (crossing over) giữa các gen liên kết
Trong giảm phân giữa các NST tương đồng đôi khi xảy ra sự trao đi các
đoạn DNA trong kỳ đầu của lần phân bào I gọi trao đổi chéo. Một NST có
kích thước trung bình s từ 1 đến 2, 3 vị ttrao đổi chéo trong giảm phân
qua đó thể làm xảy ra stái kết hp của các allele trên cặp NST tương
đồng.
2. Tần số hoán v
Strao đổi chéo xảy ra giữa các locus nằm xa nhau trên 1 NST nhiều hơn
giữa các locus nằm cạnh nhau (hình 2). Như vậy khoảng cách giữa 2 locus
thđược tính toán được bằng cách đánh giá tần số tái tổ hp xảy ra trong các
gia đình (hiện tượng hoán vị gene). Nếu trong một số lượng lớn các lần giảm
phân được nghiên cứu trên các gia đình, các allele A B đã trãi qua tái t
hợp 5% lần thì tần số hoán vị giữa A và B sẽ là 5% (0,05).
Khoảng cách di truyền giữa 2 locus được đo bằng đơn vcentiMorgan (cM)
để tưởng nhớ tới Morgan, người đã phát hiện ra hiện tượng bắt chéo của các
NST vào năm 1910. Một cM tương đương với 1% tần shoán vị, mỗi 1cM
tương ứng với khoảng độ 1 triệu bp (1Mb). Nếu 2 locus liên kết ch nhau
50cM thì được coi như là không liên kết, vì trong trường hợp này tần số hoán
vị của chúng bằng với khi chúng di truyền phân ly độc lập với nhau.
3. Cách tính tần số hoán vị
Tần shoán vị được đánh giá thông qua việc khảo sát sự di truyền các gene
trong ph hệ.
Hình 1 một phả hệ của bệnh u xơ thần kinh type 1 (NF1) trong đó các
thành viên được phân loại theo một RFLP hai allele gọi là 1F10 (ký hiệu
1 2), RFLP này cùng nằm trên NST 17 với gene NF1. Kiểu gene 1F10
được ghi ở phía dưới mỗi cá thể trong phả hệ.
Khảo sát thế hthứ nhất và thế hệ thứ hai cho thấy gene NF1 phải liên kết
với allele 1 của 1F10 trên cùng 1 NST trong gia đình này, thI-2 đồng
hợp tử về allele 2 (2,2) không mắc bệnh. Người bố mắc bệnh (I-1) dị hơp tử ở
locus 1F10 (1,2) đã truyền một NST chứa cả allele bệnh và allele1 của 1F10
cho con gái (II-2).
A, Một phả hệ của bệnh NF1 trong đó mỗi thành viên được phân loại dựa
trên tính đa hình của 1F10. Kiểu gene của locus marker gồm 2 allele này
được ghi dưới mỗi cá thể trongphả hệ. Các thành viên trong phả hệ bị mắc
bệnh được bôi đen. B, Hình phóng xạ tự chụp của các allele của marker 1F10
trong ph hệ này.
S sắp xếp của các allele này trên mỗi NST được gọi phase liên kết
(linkage phase). Khi đã biết về phase liên kết rồi thì kiểu gene của con gái
II-2 khi đó sẽ là N1/n2 (với N là allele gây bệnh NF1 và n allele bình
thường). Chng của cô này (II- 1) không mắc bệnh và đng hợp tử về allele 2
ở locus 1F10 (2,2) do đó có kiểu gene là n2/n2. Nhng đứa con của cuộc hôn
nhân này (thế hIII) nếu mắc bệnh NF1 thì smang allele bệnh N đi cùng
với allele 1 của locus 1F10 trong khi đó những đứa trẻ không mang bệnh sẽ
mang allele 2 của locus 1F10 đi cùng với allele lành n.7 trong 8 đứa trẻ của
thế hệ thứ ba cho thấy điều này hoàn toàn đúng.
Tuy nhiên đã một truờng hợp xảy ra hiện tượng tái kết hp (người III-6).
Điều này cho thấy một tần shoán vị 1/8 hay 12,5%. Tần số này giữa c
locus không allele đã h trcho giả thuyết về sliên kết giữa locus NF1 và
1F10. Nếu đây xuất hiện mt tần stái thợp là 50% shỗ trợ cho giả
thuyết là hai locus này không liên kết vi nhau tức là di truyền phân ly độc
lập với nhau.
Trong thực tế một mẫu lớn hơn gồm nhiều gia đình sđược sử dụng đđảm
bảo giá trị về mặt thống kê của kết quả này. Như vậy việc đánh giá tần số tái
kết hợp bằng cách khảo sát sự di truyền của các allele trong nhiều gia đình
việc xác định phase liên kết đã giúp nghiên cứu vị trí của các gene trên NST
và qua đó lập được bản đồ gene.
4. Vai trò của các marker
Hiện tượng đa hình (polymorphism) trên locus 1F10 được sdụng để theo
dõi một gene bệnh nào đó trong gia đình được gọi là các marker. Chúng được
dùng để đánh dấu NST mang allele bệnh. các marker này thđược
xác định trong mỗi một thể bất kỳ độ tuổi nào thậm chí giai đoạn bào
thai nên chúng rất có ích trong việc chẩn đn sớm các bệnh di truyền. Tuy
nhiên cần lưu ý rằng một marker được sdụng để đánh dấu trên một NST
nào đó sđược di truyền cùng với gene bệnh chkhông nghĩa là chính
là nguyên nhân của bệnh.
5. Lập bản đồ gene dựa trên phân tích hiện tượng di truyền liên kết
Hơn một thập niên trước, việc phân tích liên kết rất ít may thành công
các n di truyền học ch trong tay vài chục marker đa hình
(polymorphic markers) hữu dụng cho việc tìm kiếm hiện tượng liên kết trong
toàn bgenome của người như các allele của các gene quy định các nhóm
máu. Như vậy skhông chắc rằng một gene bệnh snằm đủ gần với mt
marker để thể đạt tới được một sự liên kết ý nghĩa hay không. Tình
trạng này đã thay đổi một cách ngoạn mục trong hơn một thập niên gần đây,
khi hàng ngàn marker đa hình mới (RFLP, VNTR STRP) đã được khám
phá.