Lịch sử cuộc viễn chinh nam kỳ năm 1861
Đề cương:
Chiến địa và tình trạng hai phe đối thủ - Cơ bản địa
lý của Đế Quốc An Nam - Tầm quan trọng quân sự
và chính trị của thành Kỳ Hòa
Đế quốc An Nam gồm ba xứ mà trước kia hoàn toàn
riêng biệt:
- Xứ Bắc Kỳ , mà người Tàu gọi là Giao Châu, có
nghĩa là Xng ngòi (Pays aquatique: nguyên văn
trong bản gốc - ND), người dân sinh sống nơi đây gọi
là người Nam Kỳ Dong ngoai (tức là Đàng Ngoài -
ND), Xứ Bắc kỳ còn gi là X bên ngoài, và theo
mt tài liệu Hòa Lan thì phi gọi là An Nam phía Bắc
( Annam septentrional - ND);
-Xứ An Nam hay là An Nam min Trung, còn gọi là
kinh thành Huế, hay gọi đúng hơn là Dong Trong
(tức Đàng trong - ND), có nghĩa là Xứ Miền Trong,
hay đúng hơn nữa là An Nam phía Nam;
- An Nam min dưới (La basse Cochinchine, nguyên
văn trong bản gốc - ND) , mà nhiều tài liu ghi sai là
Tỉnh Sài Gòn, miền này các bản đồ xưa đều ghi là
Cao Miên (Cambodge: nguyên văn trong bản gốc -
ND). Thật vậy, trước cuộc chinh phục của các Chúa
nhà Nguyễn (Vương triu đương thời - TG), thì vùng
đất này thuộc lãnh th của Vương quốc Cao Miên.
Ngoài ra đế quốc An Nam còn gm một số nước bảo
hộ phải triều cống. Đây lành trạng đế quốc An Nam
bắt đầu từ năm 1802 cho đến nay.
Một dãy núi kéo dài 800 dặm, tiếp nối từ vùng núi
non Tây Tạng, không xa cao nguyên Khou-khou-
noor, kéo dài xuống phía Nam song song với vùng
biển Tàu, phân định vị trí hai vùng vương quốc xưa
nhất của đế quốc An Nam. Một bên là núi và một bên
là bin làm ranh giới thiên nhiên cho hai vương quốc
An Nam phía Bắc và An Nam phía Nam; nếu dùng
danh xưng không được đúng lắm như thông dụng hơn
thì gọi là Bắc Kỳ và Nam K. bắc K là một vùng
đồng bằng rộng lớn, phù sa, phì nhiêu và phong p
nhờ sông Sang-koi hay Song-ca (theo cha x
Alexanre Rhodes - TG) và các phụ lưu bồi đắp. Nam
K là một dải đất chỉ rộng từ 30 đến 50 dặm, kéo dài
từ bắc xuống nam; dọc theo một dãy núi bao bọc nằm
bên phía Tây. Nước đổ ra biển bằng các sông ngòi ít
ngoằn ngoèo, nước chảy cuồn cuộn, từ hướng tây
sang hướng đông. Đây là dãy núi xa nhất về phía
đông trong số năm dãy núi ln tạo ra các vùng thung
lũng rộng là xứ Miến Điện, xứ Xiêm La, xCao
Miên và xAn Nam. Núi trải dài từ vĩ độ 11 thành
từng vùng thấp dần theo một đường uốn cong bắt đầu
từ núi Vi và đổ ra sát tới biển, tạo ra một bức trường
thành rng lớn và một ngọn đèo, chỉ chừa lại một dải
đất hẹp là Phan Thiết, làm ranh gii thiên nhiên giữa
Nam K miền dưới và Nam Kỳ miền Trung.
Trải xuống phía tây nam vẫn còn các núi đồi nhỏ
thưa thớt, nơi đây có thể coi là vùng chuyển tiếp của
ranh giới Nam K miền Trung: sông ngòi ít ngoằn
ngoèo, vài kênh rạch thiên nhiên hoặc do người đào,
chảy giữa các vùng núi và đồi nhỏ. Càng xuống dần
phía Nam thì chỉ thấy trước mặt một vùng đất mềm
gm cát, bùn và m con sông lớn cùng các kênh
rạch thiên nhiên chia cắt tnh hàng ngàn đảo. Cát thì
được mang từ biển vào (trên phương diện địa chất
học không được đúng lắm, cát vẫn do sông ngòi bi
đắp - ND), bùn đất thì do sông Mê Kông (trong
nguyên tác tác giả ghi là sông Cambodge. Tên ngày
nay là sông Mê Kông, tác giả cũng dùng tên sông
Cambodge để chỉ chung cho các sông Tiền Giang và
hậu Giang - ND) chy ngang những vùng núi non,
bào mòn những nơi này và đem bồi đắp trong mùa
nước lũ. Trong quá khứ chắc rằng biển đã bao phủ cả
miền Nam Kngày nay. Mt vịnh hình vòng cung
nằm lọt giữa hai vùng núi là Tiên và cap Saint-
Jacques (Tên ny nay là Vũng Tàu - ND); Sông
Đồng Nai chỉ là một dòng thác; hai nhánh Sông Vàm
Cỏ tạo ra hai con sông riêng biệt. Tỉnh Long Hồ
(Vĩnh Long) lúc đó chưa thành lập; các tỉnh Gia
Định, Đồng Nai, An Giang và Hà Tn gm một
vùng đất một phần dựa vào núi, một phần giáp ranh
với vương quốc Cao Miên. Bùn đất phù sa và các bãi
san hô giữa Sài Gòn và Tây Ninh chng minh cho
thấy vùng đất này trước kia do sông ngòi và biển tạo
ra. cát dồn lại thành cồn dọc bờ sông, hòa với phù sa
tạo ra ruộng đồng phong phú. Sự hình thành đất đai