LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS.Nguyễn
Trọng Hà, người đã hướng dẫn, vạch ra những định hướng khoa học để tác giả hoàn
thành luận văn này.
Xin cảm ơn Anh Nguyễn Công Thịnh, Phó giám đốc Công ty TNHH một
thành viên khai thác thuỷ lợi Thái Nguyên, Ban quản lý Hồ Núi Cốc đã tận tình
giúp đỡ tác giả để hoàn thành luận văn.
Xin cảm ơn các thầy cô giáo trong Trường Đại học Thủy lợi, Phòng đào tạo
Đại học và sau Đại học về sự giúp đỡ trong thời gian tác giả học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người thân trong
gia đình đã động viên trong suốt quá trình viết luận văn.
Hà Nội, ngày 09 tháng 06 năm 2012
TÁC GIẢ
Nguyễn Thanh Tuấn
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Nguyễn Thanh Tuấn. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Những nội dung và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực
và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào.
Hà Nội, ngày 09 tháng 06 năm 2012
TÁC GIẢ
Nguyễn Thanh Tuấn
MỤC LỤC
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NƯỚC CỦA
HỆ THỐNG TƯỚI ...................................................................................................... 1
1.1. Đánh giá hiệu quả sử dụng nước trên thế giới ................................................. 1
1.1.1. Phương pháp đánh giá truyền thống .......................................................... 1
1.1.2 Phương pháp đánh giá theo chỉ tiêu ........................................................... 3
1.1.3 Phương pháp kế toán nước ......................................................................... 4
1.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng nước ở Việt Nam ................................................... 8
Chương 2 GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN NƯỚC ............................... 11
2.1. Khái quát về phương pháp kế toán nước ........................................................ 11
2.2. Các định nghĩa và các thành phần trong kế toán nước ................................... 19
2.2.1. Các định nghĩa ......................................................................................... 19
2.2.2. Các thành phần kế toán nước .................................................................. 21
2.2.3 Những vấn đề nghiên cứu Kế toán nước (WA) ........................................ 27
Chương 3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NƯỚC CỦA HỆ THỐNG HỒ NÚI
CỐC BẰNG PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN NƯỚC .................................................. 30
3.1. Tổng quan của vùng nghiên cứu .................................................................... 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên ................................................................................... 30
3.1.2. Tình hình dân sinh - kinh tế - xã hội ........................................................ 49
3.2. Đánh giá hiệu quả quản lý hệ thống thủy nông hồ Núi Cốc .......................... 51
3.3. Các thành phần kế toán nước cho hệ thống - năm 2009 ................................ 57
3.3.1 Tình hình sử dụng đất trong khu vực Hồ Núi Cốc .................................... 57
3.3.2 Cơ cấu các loại cây trồng trong khu vực Hồ Núi Cốc ............................ 57
3.3.3. Xác định lượng nhu cầu nước cho các loại cây trồng ............................. 59
3.3.4 Tính toán nhu cầu dùng nước cho nuôi trồng thủy sản ........................... 62
3.3.5 Tính toán nhu cầu dùng nước cho chăn nuôi ........................................... 63
3.3.6 Tính toán nhu cầu dùng nước cho Sinh Hoạt ........................................... 64
3.3.7. Tính toán nhu cầu dùng nước cho Thủy điện .......................................... 64
3.3.8. Tính toán nhu cầu dùng nước cho Du lịch .............................................. 65
3.3.9. Tính toán nhu cầu dùng nước cho Công Nghiệp ..................................... 65
3.3.10. Tính toán nhu cầu dùng nước cho các cam kết khác ............................. 66
3.3.11. Tính lượng bốc hơi mặt thoáng ............................................................ 66
3.3.12. Tính lượng nước bốc hơi trên diện tích đất phi nông nghiệp ................ 68
3.3.13 Lượng nước thất thoát do thẩm lậu, ngấm dưới đất và qua các công trình69
3.3.14 Lượng nước cần để sử dụng cho xử lý chất thải công nghiệp và du lịch
........................................................................................................................... 69
3.3.15 Tính toán lượng nước để thay đổi độ ẩm của đất ................................... 70
3.3.16 Thành phần kế toán nước Hồ Núi Cốc ................................................... 70
3.3.17. Xác định các chỉ số kế toán nước Hồ Núi Cốc ...................................... 75
3.4. Nhận xét, đánh giá và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tổng
hợp tài nguyên nước bền vững cho hệ thống thủy nông hồ Núi Cốc .................... 80
3.4.1. Phân tích kết quả chỉ số kế toán nước hệ thống thủy nông hồ Núi Cốc . 80
3.4.2 Nhận xét, đánh giá về hiệu quả tưới hệ thống thuỷ nông Hồ Núi Cốc ..... 86
3.4.3 Đề xuất các giải pháp và kiến nghị áp dụng phương pháp Kế toán nước
cho hệ thống thủy nông hồ Núi Cốc................................................................... 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................... 94
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Sơ đồ các thành phần nước trong Kế toán nước
Hình 3.1 : Bản đồ vị trí của hệ thống hồ Núi Cốc
Hình 3.2: Nhà máy thủy điện hồ Núi Cốc
Hình 3.3. Biểu đồ kế toán nước hệ thống thủy nông Hồ Núi Cốc
DANH MỤC BẢNG BIÊU
Bảng 2.1 Đánh giá mức độ quan trọng của các thông số đánh giá hiệu quả hệ thống
thủy nông ở một số nước trong khu vực
Bảng 2.2: Các hợp phần WA các mức độ cánh đồng, dịch vụ và lưu vực
Bảng 2.3: Chỉ số mang tính vật lý trong kế toán nước
Bảng 2.4: Chỉ số sử dụng nước hữu ích
Bảng 2.5: Chỉ số hiệu suất sử dụng nước
Bảng 3.1: Nhiệt độ trạm Tân Cương
Bảng 3.2: Độ ẩm trạm Thái nguyên
Bảng 3.3: Một số đặc trưng của gió
Bảng 3.4 : Lượng mưa thực đo của trạm Thái Nguyên
Bảng 3-5 : Bốc hơi hàng năm của trạm Thái Nguyên
Bảng 3.6: Cơ cấu sử dụng đất
Bảng 3.7: Hiện trạng sử dụng đất vùng dự án hồ Núi Cốc
Bảng 3.8: Cơ cấu các loại cây trồng chính hệ thống thuỷ nông Hồ Núi Cốc
Bảng 3.9: Hệ số cây trồng Kc
Bảng 3.10: Tính toán lượng bốc hơi tiềm năng trên lưu vực
Bảng 3.11. Nhu cầu nước của các loại cây trồng năm 2009
Bảng 3.12. Bảng nhu cầu nước cho nuôi trồng thủy sản
Bảng 3.13. Bảng nhu cầu nước cho chăn nuôi
Bảng 3.14. Bảng thông số kỹ thuật cơ bản của Hồ Núi Cốc
Bảng 3.15. Bảng tính toán diện tích mặt thoáng kênh
Bảng 3.16. Lượng nước bốc hơi mặt thoáng trên lưu vực
Bảng 3.17. lượng bốc hơi trên đất phi nông nghiệp
Bảng 3.18 Lượng nước cần để sử dụng cho xử lý xả thải CN&DL
Bảng 3.19. Thành phần kế toán nước Hồ Núi Cốc
Bảng 3-20. Các chỉ số tiêu hao của hệ thống thuỷ nông Hồ Núi Cốc
Bảng 3-21: Chỉ số sử dụng nước hữu ích hệ thống thuỷ nông Hồ Núi Cốc
Bảng 3.22: Tổng giá trị của sản xuất nông nghiệp SGVP năm 2009
Bảng 3.23: Chỉ số hiệu suất nước của hệ thống thủy nông Hồ Núi Cốc
Bảng 3.24: Chỉ số hiệu suất nước ở lưu vực Bhakra của Ấn Độ
Bảng 3.25: Chỉ số hiệu suất nước ở tiểu lưu vực Christian của Pakistan
Bảng 3.26: Chỉ số hiệu suất nước ở tiểu lưu vực Kirindi Oya của SriLanka
Bảng 3.27: Chỉ số hiệu suất nước lưu vực sông Nile của Ai Cập
Bảng 3.28: Chỉ số hiệu suất nước ở Muda của Malaysia
Bảng 3.29: Chỉ số hiệu suất nước ở Alasehir của Thổ Nhĩ Kỳ
Bảng 3.30: Chỉ số hiệu suất nước ở lưu vực sông Hương của Việt Nam
DANH MỤC VIẾT TẮT
CWR: Nhu cầu nước cho cây trồng cạn
GIS: Hệ thống thông tin địa lý
KCN: Khu công nghiệp
KHKT: Khoa học kỹ thuật
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
RVS: Cấp nước tương đối
SGVP: Chỉ số tổng giá trị sản xuất nông nghiệp đã được chuẩn hóa
WA: Water Accounting – Kế toán nước
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Do sự gia tăng dân số và tài nguyên nước giới hạn, cần phải tăng cường quản
lý tài nguyên nước tốt hơn. Điều này đặc biệt đúng khi tất cả hoặc gần như tất cả tài
nguyên nước trong lưu vực được phân phối cho các sự sử dụng khác nhau. Các
chiến lược quản lý tài nguyên nước phù hợp để đạt được hiệu quả cao hơn mà vẫn
duy trì và cải thiện môi trường phải được thiết lập. Sự lãng phí và sử dụng không
hữu ích cần phải được xem xét cẩn thận để nhận ra những tiềm năng tiết kiệm nước.
Những phương pháp phân phối nước hiệu quả mà giảm thiểu và giúp giải quyết các
xung đột phải được xây dựng và thực hiện. Để hỗ trợ việc hoàn thành những nhiệm
vụ này, các phương pháp đã được cải tiến để giải thích cho sự sử dụng tài nguyên
nước và hiệu suất sử dụng.
Ngày nay, khi cuộc sống ngày một phát triển thì nước không chỉ đơn thuần
dành cho tưới trong nông nghiệp mà nước còn đóng một vai trò quan trọng trong
các hoạt động khác của con người như giao thông thuỷ, cải tạo môi trường, du lịch,
thể thao....lúc này tài nguyên nước luôn là mối quan tâm hàng đầu của các hộ dùng
nước. Các hoạt động kinh tế phát triển kéo theo việc gia tăng nhu cầu sử dụng nước,
trong khi tài nguyên nước lại có hạn thì vấn đề cấp thiết là phải biết cách dùng nước
thật hiệu quả. Như vậy tất cả nguồn nước trong lưu vực đều phải được phân định
cho các sử dụng nước khác nhau. Điều quan trọng là cần phải có một kế hoạch dùng
nước thật hợp lý. Sự lãng phí và sử dụng không hữu ích phải được xem xét cẩn thận
để nhận biết được tiềm năng và cơ hội tiết kiệm nước. Chúng ta cần phát triển và
thực hiện hiệu quả việc phân phối nước và giải quyết được những mâu thuẫn trong
dùng nước.
Phương pháp kế toán nước là một công cụ hữu ích trong việc đánh giá và nhận
biết nước được sử dụng có hiệu quả thế nào cũng như các hệ thống tưới được quản
lý như thế nào. Bằng việc kể đến tất cả các hình thức sử dụng nước trong lưu vực,
phương pháp này cho thấy các mục tiêu được đặt ra có đúng hay không, các cách
mà chúng ta đang làm có hợp lý hay không. Đây là một công cụ hữu ích trong việc
thiết lập một quá trình quản lý tổng hợp tài nguyên nước trong lưu vực. Kế toán
nước là một phương pháp đang được áp dụng ngày càng rộng rãi ở nhiều nước trên
thế giới
Hiện trạng quản lý của hệ thống phản ánh đúng thực trạng của hầu hết các
công trình thuỷ lợi hiện nay là đánh giá hiệu quả tưới mới chỉ dựa theo quan điểm
cấp nước và khả năng hoàn thành mục tiêu là chính. Các thành phần sử dụng nước
ngoài nông nghiệp của hệ thống có nhu cầu ngày càng tăng, ngày càng tạo ra sức ép
lớn đối với hệ thống do tính hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên, sự
can thiệp trở lại trong quản lý hệ thống của các thành phần dùng nước này chưa
được nghiên cứu và tìm hiểu một cách thích đáng.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu phát triển phương pháp kế toán nước và áp dụng trong đánh giá
hiệu quả của hệ thống tưới hồ Núi Cốc theo quan điểm sử dụng tổng hợp tài nguyên
nước. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nước của hệ thống.
3. Phạm vi nghiên cứu
Tài nguyên nước trong hệ thống tưới hồ Núi Cốc không chỉ sử dụng cho tưới
tiêu cây trồng mà còn sử dụng cho nhiều đối tượng dùng nước khác nhau như cấp
nước để bảo vệ và phát triển hệ sinh thái tự nhiên, cấp nước cho sinh hoạt, nuôi
trồng thủy sản, bổ sung cho nước ngầm,... Vì vậy, sử dụng phương pháp kế toán
nước phân tích sự tiêu hao nước, sử dụng nước và hiệu suất của nước sẽ phản ảnh
đầy đủ và toàn diện hơn tính đa mục tiêu, hiệu quả cấp nước của hệ thống.
Phạm vi nghiên cứu được tiến hành trên toàn bộ diện tích thuộc hệ thống
tưới hồ Núi Cốc.
1.4. Các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được tiến hành dựa trên các tiếp cận truyền thống
của Việt Nam và Thế giới về đánh giá hiệu quả của hệ thống tưới.
Phương pháp nghiên cứu dựa trên việc phát triển Phương pháp kế toán nước để
áp dụng và đánh giá hiệu quả của hệ thống tưới hồ Núi Cốc. Dựa trên nguyên lý cân
bằng nước, các phân tích về quá trình tiêu hao có lợi hay không có lợi, định trước
hay không định trược, các chỉ số đánh giá hiệu quả và hiệu suất của hệ thống để đề
suất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nước trong hệ thống.
1.5. Những kết quả đạt được
Nghiên cứu sẽ hệ thống và đánh giá tổng hợp các phương pháp áp dụng đánh
giá hiệu quả của hệ thống tưới đang áp dụng ở trong nước và thế giới.
Giới thiệu nguyên lý, các thành phần, cách xác định chúng của phương pháp
kế toán nước, ý nghĩa kinh tế, xã hội và môi trường của phương pháp
Áp dụng phương pháp kế toán nước trong việc quản lý nước của hệ thống hồ
Núi Cốc để đề suất các giải pháp nâng cao hiệu quả của sử dụng nước bền vững
trong hệ thống.
1
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NƯỚC
CỦA HỆ THỐNG TƯỚI
1.1. Đánh giá hiệu quả sử dụng nước trên thế giới
1.1.1. Phương pháp đánh giá truyền thống
Để đánh giá hiệu quả sử dụng nước trong việc tưới, đến nay, có nhiều phương
pháp luận, kỹ thuật và công cụ cũng như phương thức. Các phương pháp này khá
hữu dụng trong đánh giá sự hoạt động của các hệ thống tưới. Tuy nhiên, vẫn còn
một số hạn chế khi áp dụng những phương pháp này.
Oad và Podmore (1989) đã định nghĩa một đại lượng, gọi là “cấp nước tương
đối”. Đại lượng này là tỷ số giữa lượng cấp (gồm lượng nước tưới cộng với lượng
mưa) và yêu cầu (gồm bốc thoát hơi nước cộng với lượng nước rò rỉ và thấm sâu)
để đánh giá xem mức độ nước tưới lúa được quản lý tốt như thế nào dưới các mức
cấp khác nhau.
Molden và Gates (1990) đã định nghĩa các mục tiêu hệ thống phân nước tưới,
gồm độ chính xác, hiệu quả, độ tin cậy và sự công bằng của việc phân nước và đã
phát triển các phương pháp đo sự hoạt động bằng các thuật ngữ cho phép phân tích
hiệu quả của các hệ thống phân nước tưới phục vụ các mục đích đánh giá, quy
hoạch và thiết kế. Các phương pháp này cung cấp một sự đánh giá định lượng
không chỉ sự hoạt động của toàn hệ thống mà còn đánh giá xem sự hoạt động này có
thể bị hạn chế bởi sự kém cỏi của công trình và/hoặc của quản lý.
Sakthivadivel và đồng nghiệp (1993) đã thảo luận sự hữu ích và việc sử dụng
khái niệm “cấp nước tương đối – RWS” để đánh giá sự hoạt động của các hệ thống
tưới với sự đề cập đặc biệt đến các hệ thống tưới lúa. Về mặt khái niệm, khái niệm
này được định nghĩa là tỷ số giữa nước cấp với yêu cầu nước liên kết với các cây
trồng thực tế được sinh trưởng với các biện pháp canh tác thực tế được dùng và cho
một khu tưới thực tế.
2
Mặc dù những thuận lợi của khái niệm là tiện lợi cho phân tích và làm sáng tỏ
các khoảng thời gian và vị trí khác nhau, nhưng các giá trị RWS đối với các khoảng
thời gian dài hơn lại biểu lộ một vài sự mâu thuẫn. Đó là bởi vì khái niệm này
không xem xét sự trữ trên ruộng lúa trong mùa sinh trưởng của cây trồng.
Để khắc phục hạn chế này, khái niệm “Cấp nước tương đối luỹ tích – CRWS”
được giới thiệu. CRWS được định nghĩa là giá trị luỹ tích của phần nước cấp so với
yêu cầu được tính toán trong các khoảng thời gian ngắn (ví dụ tuần hoặc ngày) bắt
đầu từ một thời gian cụ thể trong mùa. Thuận lợi chính của CRWS so với RWS là
nó có thể được dùng để miêu tả sinh động tỷ lệ nước cấp với yêu cầu nước đầy ý
nghĩa cho cả mùa, trong khi đó RWS chỉ hữu dụng cho việc đánh giá tỷ lệ này cho
một giai đoạn cụ thể trong mùa.
Mặc dù có những thuận lợi như đã nói ở trên, nhưng những khái niệm này chỉ
có thể được dùng để đánh giá sự hoạt động của hệ thống tưới trong đó chỉ xem xét
đến nông nghiệp được tưới. Trong những trường hợp mà có nhiều loại hình sử dụng
nước khác như nước sinh hoạt và cây mọc hoang thì những khái niệm này bị hạn chế.
Murray – Rust và Snellen (1993) đã định nghĩa sự hoạt động, mục đích, mục
tiêu và các chỉ số hoạt động của một hệ thống tưới và gợi ý một khung đánh giá sự
hoạt động và phán đoán dựa trên các định nghĩa này.
Bos và đồng nghiệp (1993) đã cung cấp một khung mà những nhà quản lý tưới
có thể sử dụng để đánh giá hoạt động tưới dựa trên khung đánh giá do Murray-Rust
và Snellen (1993) đã gợi ý.
Có thể thấy rằng khung đánh giá và các chỉ số được gợi ý ở trên nhằm vào các
mục tiêu dự kiến đề ra và mức độ đạt được chúng trong quá trình hoạt động thực tế
của hệ thống tưới. Các chỉ số được nhận ra trong các loại hình khác nhau để chỉ ra
các khía cạnh đạt được từ sự hoạt động của hệ thống tưới theo một cách thực chi tiết
hơn. Phương thức này hữu ích cho việc đánh giá sự hoạt động ở mức độ hệ thống.
Tuy nhiên, có một số khó khăn. Chẳng hạn, những mục tiêu nào sẽ được lựa chọn
trong các quá trình đánh giá sự hoạt động của hệ thống cũng như những sự thay đổi
trong các mục tiêu sẽ dẫn tới việc cần phải xem xét lại. Hơn nữa, sự tiêu thụ nước
3
thực tế trong các hệ thống tưới không được chỉ ra một cách rõ ràng. Một số loại
hình sử dụng nước khác (từ thực vật tự nhiên trong khu tưới, từ các khu vườn, từ
sinh hoạt, công nghiệp, v.v.) không được kể đến trong cách đánh giá này. Vì vậy
hiệu quả sử dụng nước trong hệ thống tưới vẫn chưa được đánh giá đầy đủ hơn.
Bos (1997) tóm tắt các chỉ số hoạt động được dùng trong Chương trình nghiên
cứu về sự hoạt động tưới, trong đó có khoảng 40 chỉ số hoạt động đa nguyên tắc
được định lượng và khảo sát, dựa trên tập chỉ số hoạt động được Bos và đồng
nghiệp (1993) miêu tả. Các chỉ số này rất phù hợp cho sử dụng trong đánh giá sự
hoạt động tưới tiêu.
Các nghiên cứu trước đây và các chỉ số hiệu quả sử dụng nước được định
nghĩa vẫn quan tâm đến hiệu quả sử dụng nước liên quan đến các yếu tố dòng chảy,
đất và năng suất/sản lượng cây trồng (trong đó chủ yếu đề cập đến khả năng đáp
ứng tiêu chuẩn và mục tiêu đặt ra). Các chỉ số này khá có ý nghĩa đối với những
người quản lý hệ thống tưới - những người quan tâm đến việc vận hành hệ thống
hàng ngày. Tuy nhiên, những nghiên cứu trước đây chưa chú trọng vào mối liên
quan giữa nước, đất và giá trị đầu ra. Thực chất mà nói, đối với một hệ thống tưới,
hiệu quả sử dụng nước của nó phải được đánh giá ở khía cạnh giá trị kinh tế cho
một đơn vị nước và vấn đề này đã được R.Sakthivadivel và đồng nghiệp (1999)
nghiên cứu.
1.1.2 Phương pháp đánh giá theo chỉ tiêu
Tháng 5/1994 hội thảo vùng Châu A-Thái Bình Dương về "đánh giá hiệu quả
tưới trong nền nông nghiệp bền vững" tại Bangkok (Thái Lan) các chuyên gia đã
nhất trí về các thông số đánh giá hiệu quả tưới. Tuy rằng mỗi nước có các mục tiêu
khác nhau tùy theo điều kiện của hệ thống tưới khác nhau
Các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả tưới gồm:
1. Hệ thống phân phối nước (bao gồm công trình trên kênh)
- Hiệu quả vận chuyển nước ở các cấp kênh
- Hiệu quả phân phối nước
- Bồi lắng và cỏ rác
4
2. Hiệu quả tưới mặt ruộng
- Hệ số quay vòng đất
- Hiệu ích tưới
- Hiệu quả sử dụng nước
3. Hiệu quả môi trường trong hệ thống tưới
- Mức độ nhiễm mặn, kiềm hóa
- Chất lượng nước mặt, nước ngầm
- Ngập úng
- Cỏ dại trong kênh có nước đọng
4. Hiệu quả xã hội
- Lao động
- Sở hữu ruộng đất
- Giới trong hoạt động tưới
- Sự thỏa mãn của nông dân
5. Hiệu quả đa mục tiêu
Thường được vận dụng tất cả các các chỉ tiêu đánh giá nêu trên.
6. Hiệu quả về kinh tế
- Mở rộng diện tích gieo trồng
- Tăng năng suất
- Tăng sản lượng
- Tăng thu nhập
Tuy nhiên việc xác định một số thông số chưa rõ ràng (giới, sở hữu ruộng đất
...), chưa có 1 quy định cụ thể nào cho việc xác định các thông số này vì vậy đây là
1 hạn chế trong việc đánh giá hiệu quả của hệ thống tưới
1.1.3 Phương pháp kế toán nước
Dân số đang tăng nhanh và tài nguyên nước đang hạn chế, đó là một yêu cầu
tăng cường quản lý tài nguyên nước tốt hơn trên toàn thế giới. Điều này đặc biệt
đúng khi tất cả hoặc gần như tất cả nguồn nước trong một lưu vực đã được phân
5
phối cho các sử dụng khác nhau. Những chiến dịch có hiệu quả đang giành được
nhiều số lượng trong khi duy trì hoặc cải thiện môi trường sẽ được thành hệ thống.
Nước thải và những sử dụng không sinh lợi cần phải được nghiên cứu cẩn thận để
nhận dạng những cơ hội tiết kiệm tiềm tàng. Những quy trình phân phối hiệu quả là
giảm thiểu và giúp giải quyết những xung đột cần được phân tích và thực hiện. Trợ
giúp trong khi hoàn thành nhiệm vụ này, những quy trình được cải thiện, Kế toán
cho sử dụng tài nguyên nước và hiệu suất được đề ra. Do kiểu và quy mô sử dụng
rất khác nhau, truyền đạt thông tin về nước của các nhà chuyên môn và không có
chuyên môn là hoàn toàn khó khăn, những quy định về chính sách thường được
thực hiện với một sự hiểu biết không rõ ràng về tầm quan trọng cho tất cả những
người dùng nước. Cạnh tranh do sự cung cấp nước hạn chế đang gia tăng, nó biến
thành sự gia tăng nghiêm trọng đối với sự truyền đạt rõ ràng về nước sẽ được sử
dụng ra sao và nguồn nước được phân phối ra sao với những tác động của các kiểu
sử dụng nước như hiện nay.
Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới các nhà khoa học đã thực hiện đánh
giá hiệu quả sử dụng nước bằng phương pháp Kế toán nước và cho ra nhưng kết
quả đánh giá khá sát thực và giải thích được thực trạng sử dụng nước tại vùng
nghiên cứu. Ở Ấn Độ, năm 1989 đã xuất bản 2 tác phẩm “ tiêu chuẩn đo đạc quản lý
vận hành hệ thống tưới” và “ giám sát đánh giá hệ thống tưới”. Tiếp sau đó các
chuyên gia Ấn độ và IWMI đã đánh giá hệ thống tưới Sirsa có sự trợ giúp của công
nghệ viễn thám và các mô hình thủy lực, đánh giá hệ thống tưới Bhakra với sự trợ
giúp của công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS). Để nâng cao hiệu
quả tưới nói chung và cụ thể là đảm bảo độ tin cậy trong việc phân phối nước cho
người sử dụng, nhiều hệ thống tưới ở Ấn Độ, cả các hệ thống đang hoạt động và hệ
thống mới xây dựng đã tiến hành nâng cao quản lý nước bằng cách quan trắc và
điều hành các công trình và các thông số từ xa. ở hầu hết các hệ thống đều chọn 1
đoạn kênh đang hoạt động làm mẫu để nghiên cứu và phân tích lợi ích do cải thiện
hệ thống quản lý nước và sau đó mở rộng cho vùng rộng hơn ( mô hình điểm)
6
Tại Trung Quốc, trong các năm 1993-1994 Trung quốc đã tiến hành đánh
giá 195 hệ thống tưới lớn với 3 mức đánh giá :
+ Mức 1: Đánh giá kết cấu công trình hoặc kênh mương
+ Mức 2: Đánh giá toàn bộ hệ thống
+ Mức 3: Đánh giá cải tạo nâng cấp hệ thống
Kết quả đánh giá cho thấy: 70% công trình đầu mối bị xuống cấp hoặc trong
tình trạng nguy hiểm, 16% mất khả năng làm việc, 10% bị bỏ hoang, chỉ có 4% làm
việc bình thường. Đối với kênh mương: 60% chuyển nước tốt, 21% xuống cấp
nghiêm trọng, 9% mất khả năng làm việc, 10% bị bỏ hoang. Đối với các trạm bơm:
36% mất khả năng làm việc, 32% xuống cấp hoặc trong tình trạng nguy hiểm
Tại Malaysia, từ những năm 1990 đã bắt đầu đánh giá ở 8 vùng trọng điểm
lúa với nội dung chính là đánh giá hiệu quả sử dụng nước. Trong quá trình đánh giá
các chỉ tiêu đã được sử dụng như: tỷ lệ cấp nước tương đối, hiệu quả tưới, chỉ tiêu
sử dụng nước, hệ số quay vòng đất..IWMI đã có nghiên cứu ở Kerian năm 1991 cho thấy chỉ số hiệu quả dùng nước từ 0,035-0,271 kg/m3, trung bình 0,12 kg/m3, trong
khi đó theo tài liệu của FAO với hệ thống tưới lúa cho việc sử dụng nước có hiệu quả chỉ số này nằm trong khoảng từ 0,7-1,1 kg/m3. Để giúp chọn các thông số giám
sát đánh giá ở một số nước đã đưa ra các thống số và mức độ quan trọng như bảng
2.1: Theo tài liệu của FAO-1994, Với x- quan trọng; xx - rất quan trọng.
Bảng 2.1 Đánh giá mức độ quan trọng của các thông số đánh giá hiệu quả hệ thống
thủy nông ở một số nước trong khu vực
7
TT
Thông số
Lào
Phillipin
Indonesia Malaysia
Ấn độ Myanmar Nepal Pakistan
Banglades Bhutan Srilanca
Thái lan
Việt Nam
Trung Quốc
Hàn Quốc
1
xx
x
xx
xx
xx
xx
xx
2 3
xx x xx xx xx
x xx xx xx x
xx xx xx x xx
xx x x xx xx
xx x xx
xx xx xx xx
xx x
xx x xx xx
x x
x xx x
xx xx xx x xx
x xx x xx
xx xx xx xx xx
xx x x xx
xx xx xx x x
xx xx xx xx xx x x xx xx xx x xx
x x x xx x xx xx xx x
xx xx xx x x x x x x x x x x
x xx x x x x x xx x x xx xx x
xx x xx xx x xx x xx x
xx xx xx x x x xx x xx xx x
x x x x
xx xx xx xx xx x x xx x x x
x x x x x x
x xx x x xx x x x xx x
xx xx x xx xx xx xx xx x x xx xx
x x xx x xx xx x xx xx xx xx x
xx xx xx xx x x xx xx xx x xx x
x x x x x x x x x
x x x xx xx x xx xx xx x x xx
6
xx xx
x xx x
xx xx xx
x xx
xx xx
x xx
x x
xx xx
x xx
xx xx xx
x x
xx xx
xx x
Sự thích hợp của hệ thống tưới - Tính công bằng - Hiệu suất - Mức độ tin cậy hiệu quả các công trình Hiệu quả sử dụng nước mặt ruộng - Hiệu ích tưới - Hệ số quay vòng đất - Sản phẩm 4 Môi trường - úng - Thoái hóa đất - Nước ngầm - Tiêu nước - Cỏ dại - Sức khỏe cộng đồng xã hội 5 - Sở hữu đất - Sự di chuyển chỗ ở của nông dân - Sự thỏa mãn của nông dân xx x - Hội dùng nước x Sử dụng tổng hợp nguồn nước - Thủy sản - Nước trong thành phố - Vận tải Kinh tế - tự túc tài chính - Tỷ số B/C
x xx x xx xx xx
7
xx x x xx xx
x x x xx xx xx
xx x x xx xx xx
x xx xx x
xx xx xx xx
x xx x xx x
x xx
xx xx x
xx x x xx xx xx
xx x x xx xx xx
x x x xx xx
x x xx x
x x xx x
8
1.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng nước ở Việt Nam
Ở nước ta, nghiên cứu về hiệu quả sử dụng nước còn ít. Bắt đầu từ năm 2005
là nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thế Quảng và PGS.TS Đoàn Doãn Tuấn thực
hiện. Nghiên cứu đã đưa ra phương pháp phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động của
hệ thống thuỷ nông dựa trên 29 chỉ số đánh giá có liên quan đến năng suất cây
trồng, nước, đất và năng suất lao động, nguồn nước cấp, kinh tế, môi trường, cơ sở
hạ tầng và các cấp quản lý thuỷ nông chính thức và cộng đồng. Mặc dù phương
pháp này đã đề cập đến nhiều khía cạnh ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống thuỷ
nông nhưng nó vẫn chủ yếu là so sánh hiệu quả hoạt động thực tế với mục tiêu đặt
ra cho hệ thống và vì vậy nó chỉ có ý nghĩa nhiều đối với những người quản lý vận
hành hệ thống mà không có ý nghĩa nhiều đối với những nhà quản lý và lập chính
sách dài hạn và có tính chiến lược.
GS. Bùi Hiếu và Trần Quốc Lập (năm 2005) đã thực hiện một nghiên cứu về
“Công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển các ngành kinh tế khác nông nghiệp của các
tỉnh Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam”. Nghiên cứu tập trung vào đánh giá
hiệu quả các công trình thuỷ lợi phục vụ các ngành kinh tế như thuỷ sản, sinh hoạt,
công nghiệp, phát điện, giao thông và lâm nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu mới dừng
lại ở mức điều tra khảo sát và đánh giá thực trạng của các hệ thống thuỷ lợi phục vụ
đa mục tiêu.
Năm 2006, các tác giả Dương Thị Kim Thư, Đoàn Doãn Tuấn, Hoàng Thái
Đại đã nghiên cứu đánh giá hiệu quả tưới công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn bằng
các bộ chỉ tiêu phản ánh về năng suất, kinh tế và thể chế tổ chức quản lý hệ thống.
Năm 2011 các tác giả Thái Thị Khánh Chi, Hoàng Thái Đại đã nghiên cứu đánh giá
hiệu quả hệ thống thủy nông Bắc Đuống- Bắc Ninh bằng các chỉ tiêu về hiệu ích
tưới nước, chỉ diện tích tưới nước trạng thái công trình, chỉ tiêu về sản lượng và
hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp
Nhận xét chung về các nghiên cứu hiệu quả hệ thống thuỷ lợi nước ta hiện nay:
Các nghiên cứu đánh giá hiệu quả tưới trong nước đã đề cập được nhiều yếu
tố ảnh hưởng đến hiệu quả tưới của hệ thống thủy nông. Trên cơ sở các chỉ tiêu
9
đánh giá hiệu quả hệ thống tưới của các nước và các tổ chức nghiên cứu thủy lợi
trên thế giới, các tác giả đã cập nhật và bổ sung một số chỉ tiêu đánh giá phù hợp
với tình hình tại Việt Nam, đưa ra được một số chỉ tiêu định lượng cụ thể để xác
định hiệu quả của 1 hệ thống tưới và so sánh với hệ thống khác, qua đó giúp chúng
ta có một cách đánh giá tổng quát hơn về hiệu quả mà hệ thống thủy lợi đem lại
Tuy nhiên các nghiên cứu đều tập trung vào đánh giá hiệu quả hệ thống tưới
dựa trên các bộ chỉ tiêu nhằm xác định hiệu quả của hệ thống theo các mục tiêu thiết
kế ban đầu như diện tích tưới, hệ số sử dụng nước, số công trình, năng lực công
trình và tập trung vào một số loại đối tượng sử dụng nước xác định từ khi thiết kế hệ
thống (đối tượng sử dụng nước chủ yếu là phục vụ sản xuất nông nghiệp như lúa,
màu..).
Ở một số nghiên cứu có bổ sung thêm một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả
của hệ thống mà khi thiết kế chưa được xác định như chỉ tiêu về công bằng trong
phân phối nước tưới, sản lượng trên công lao động, tổng giá trị nông sản trên một
đơn vị diện tích được tưới vv...tuy nhiên để xác định được các chỉ tiêu này lại cũng
phải dựa vào các chỉ tiêu đã được xác định từ khi thiết kế hệ thống, ví dụ chỉ tiêu về
sự công bằng trong phân phối nước được xác định bằng tỷ số giữa diện tích tưới đạt
được bình quân của 25% diện tích tưới đầu kênh trên diện tích tưới đạt được bình
quân của 25% diện tích tưới cuối kênh, trong đó diện tích tưới là mục tiêu đã xác
định từ khi thiết kế hệ thống. Ở một số chỉ tiêu khác cách xác định cũng dựa vào các
mục tiêu thiết kế ban đầu bằng cách tương tự như vậy. Do đó có thể nói việc bổ
sung thêm 1 số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả tưới của hệ thống là những chỉ tiêu
gián tiếp, được xác định từ các mục tiêu thiết kế ban đầu của hệ thống.
Trong khi đó trong hệ thống thủy lợi có nhiều đối tượng dùng nước của hệ
thống mà không có trong mục tiêu thiết kế ban đầu (như nuôi trồng thủy sản, nước
sinh hoạt, công nghiệp, du lịch, môi trường, giao thông vv..) vì vậy các kết quả đánh
giá hiệu quả của hệ thống chưa phản ánh hết hiệu quả thực tế mà hệ thống đem lại.
Đồng thời với rất nhiều các bộ chỉ tiêu được đưa ra để đánh giá hiệu quả của
hệ thống sẽ dẫn đến việc đánh giá hiệu quả của 1 hệ thống rất phức tạp và để so
10
sánh hiệu quả giữa các hệ thống với nhau là rất khó khăn. Thậm chí ở một số chỉ
tiêu nếu nhận xét theo những tiêu chí đặt ra sẽ là lãng phí nước, ví dụ như chỉ tiêu
hệ số sử dụng nước tương đối, hay chỉ tiêu về hiệu suất cung cấp nước của nguồn,
các chỉ tiêu này được xác định là tỷ số giữa lượng nước cung cấp tại đầu mối trên
lượng nước cần tại mặt ruộng, nếu chỉ tiêu này đạt 1 là hiệu quả tưới tốt nhất, nó
cho thấy nguồn nước cung cấp đủ cho yêu cầu tưới nước mặt ruộng, chỉ tiêu này <1
thể hiện công trình đầu mối không cung cấp đủ nước, nếu >1 cho thấy có sự thừa
nước (lãng phí nước). Ở hệ thống Nam Thạch hãn chỉ tiêu này là 2, do đó nếu xét về
các tiêu chí đánh giá trên thì ở hệ thống này đã lãng phí tới 50% lượng nước lấy vào
đầu mối. Tuy nhiên vì chưa đề cập đến hết các đối tượng dùng nước trong hệ thống
nên việc đánh giá tình trạng thừa nước như trên là chưa đảm bảo chính xác do trong
50% lượng nước bị lãng phí đó tuy không cung cấp nhu cầu nước cho cây trồng
nhưng có thể mang lại những hiệu ích về môi trường, về nuôi trồng thủy sản, về
cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân trong vùng vv.....
Mặt khác các nghiên cứu chưa thể hiện sự liên hệ của hệ thống được đánh
giá với hệ thống xung quanh. Trong thực tế hệ thống thủy lợi thường có mối liên hệ
chặt chẽ với xung quanh như các cam kết về cung cấp nước cho hạ du để đảm bảo
dòng chảy môi trường, giao thông hoặc cho 1 nhu cầu nước thực tế nào đó. Vì vậy,
các kết quả đánh giá cũng chưa phản ánh hết được các nhu cầu nước cũng như các
tổn thất nước mà một hệ thống thủy lợi gặp phải
Để hạn chế được phần nào các tồn tại như trên trong đánh giá hiệu quả tưới
của hệ thống thủy lợi cần phải có những nghiên cứu thêm về phương pháp đánh giá
hiệu quả hệ thống thủy lợi. Phương pháp kế toán nước hiện nay được xem là một
trong những phương pháp phổ biến để đánh giá hiệu quả hệ thống tưới và đưa ra
được các khuyến nghị cho việc nâng cao hiệu quả của hệ thống thủy lợi. Phương
pháp này hiện nay được nhiều nước trên thế giới áp dụng và hạn chế được những
tồn tại của các phương pháp nêu trên.
Cho đến nay, nghiên cứu áp dụng về kế toán nước cho quản lý tài nguyên
nước ở Việt Nam hầu như chưa có.
11
Chương 2
GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN NƯỚC
2.1. Khái quát về phương pháp kế toán nước
Tưới là hoạt đông sử dụng nước lớn, những phân tích trong tưới nước có tác
động sâu sắc đến sử dụng nước của lưu vực và mức độ sẵn có của nước. Đúng vậy,
kế hoạch và việc thực hiện những can thiệp của tưới thường tiến hành ở nơi thiếu sự
xem xét đến những sử dụng khác. Một trong những lý do chính của nhìn nhận hạn
chế này là không thỏa đáng về mô tả về nước tưới sẽ sử dụng ra sao. Hiệu quả tưới
hầu như thường được sử dụng với thuật ngữ mô tả nước được sử dụng tốt ra sao.
Nhưng những gia tăng về hiệu quả tưới thường không đồng thời với những gia tăng
sản phẩm trên toàn lưu vực nhờ có nước.
Để giải quyết những vướng mắc đó, Molden.D (1997) đã phát triển một khung
khái niệm “Kế toán nước – Water Accounting” và cung cấp các thuật ngữ và
phương pháp chung để miêu tả tình trạng sử dụng nguồn nước và kết quả của các
hành động liên quan tới tài nguyên nước. Điều cực kỳ quan trọng trong khung này
là việc giới thiệu các định nghĩa kế toán nước, đặc biệt là các định nghĩa về các loại
tiêu hao nước và các chỉ số. Đây là cơ sở chủ yếu cho việc xây dựng và phát triển
phương pháp luận về kế toán nước - một phương pháp xem xét đến tất cả các đối
tượng dùng nước. Phương thức cơ bản mà phương pháp này dựa vào là phương
pháp cân bằng nước.
Lượng dòng chảy vào = Lượng dòng chảy ra + sự thay đổi lượng trữ.
Cân bằng nước xem xét các dòng chảy vào và các dòng chảy ra từ lưu vực,
tiểu lưu vực và các mức độ khác như hệ thống tưới hoặc cánh đồng tưới. Bước khởi
đầu trong việc cân bằng nước là nhận dạng vùng xem xét bằng việc chỉ ra các biên
không gian và thời gian của vùng xem xét.
Chẳng hạn, một vùng xem xét có thể là một hệ thống tưới được giới hạn bởi
các công trình đầu mối và diện tích thiết kế, và được giới hạn theo thời gian là mùa
sinh trưởng cụ thể. Sự bảo toàn khối lượng yêu cầu đối với phạm vi trong giai đoạn
12
xem xét, các dòng chảy vào bằng các dòng chảy ra cộng với bất kỳ sự thay đổi trữ
nào trong phạm vi đó.
Phương pháp này có thể được áp dụng để phân tích sử dụng nước ở 3 mức độ
khác nhau: Vĩ mô (lưu vực, tiểu lưu vực), vừa (khu tưới, khu cấp nước dân sinh),
hoặc vi mô (một khu ruộng, một hộ gia đình,...). Phương pháp này giúp chúng ta
hiểu biết hơn về các loại hình sử dụng nước hiện tại, giúp cải thiện kênh liên lạc
trong các nhà chuyên môn với nhà khoa học và kênh liên lạc với các nhà phi chuyên
môn và cải thiện cơ sở cho sự phân phối nước giữa các loại hình sử dụng. Một tác
dụng quan trọng nữa đó là thông qua kết quả kế toán nước, có thể nhận ra những cơ
hội cho tiết kiệm nước và gia tăng năng suất nước. Nghệ thuật của kế toán nước là
cần phải phân loại các thành phần cân bằng nước thành các loại sử dụng nước mà
phản ánh hậu quả sự can thiệp của con người vào chu kỳ thủy văn. Kế toán nước
tổng hợp các thông tin cân bằng nước với các loại sử dụng nước.
Tưới nước trong bối cảnh của một lưu vực có sự thống nhất của một số nhà
nghiên cứu, Bagley(1965) đã chú ý rằng sự không thích hợp trong thừa nhận những
đặc tính của đường ranh giới khi mô tả hiệu quả tưới có thể dẫn tới những kết luận
đúng và lưu ý rằng tổn thất nước dẫn đến hiệu quả thấp là không thất thoát đối với
hệ thống lớn. Trong lĩnh vực quyền sử dụng nước, ở đó thường có sự khác biệt rõ
ràng giữa tiêu dùng và sự chệch hướng từ một chu trình thủy văn (Wrigh 1964),
Bos(1979) đã đưa ra nhận biết về những hướng khác nhau của dòng chảy vào và ra
của một dự án tưới, nước được nhận biết rõ ràng khi trở lại trong lưu vực và là
nguồn sẵn có cho sử dụng cuối lưu vực. Willardson (1985) đã chú rằng hiệu quả của
1 cánh đồng tưới độc lập là ít quan trọng đến thủy văn của một lưu vực, ngoại trừ
khi xem xét chất lượng nước, và kết luận rằng “lưu vực rộng tác động làm tăng hiệu
quả tưới có thể là sự phủ định rất tốt về tính xác thực”. Bos và Wolters (1989) đã
chỉ ra rằng lượng nước thoát ra từ 1 dự án tưới do không dùng hết, nó không nhất
thiết là lượng tổn thất của lưu vực sông, vì hầu hết nó được sử dụng lại ở hạ lưu. Nó
đã chỉ ra rằng nước tái sử dụng cao thực sự làm tăng hiệu quả nói chung (Wolters và
Bos 1990). Van Vuren(1993) đã liệt kê những sử dụng khác nhau của hiệu quả tưới
13
và đã chỉ ra những tình trạng khi những hiệu quả thấp hơn là có thể chấp nhận được.
Palacios-velez (1994) đồng ý rằng “ nước có thất thoát không phải là lãng phí”.
Trong khi những công việc này được thừa nhận những điểm yếu khi sử dụng
những giới hạn hiệu quả và những tác động của phạm vi phân tích từ cánh đồng tới
khu tưới và tới lưu vực, một sự lựa chọn có nghĩa về mô tả sử dụng nguồn nước đã
không được mô tả. Công việc tại cùng thời gian, những thay thế được đề xuất để mô
tả sự sử dụng nước trong lưu vực bởi Keller (1995) với hiệu quả thực sự, và bởi
Willardson et al (1994) với việc sử dụng những thành phần. Gần đây, được làm bởi
Seckler (1992,93,96), Keller (1992), Keller etal (1996) và Perry (1996b) mô tả
nhiều về việc xem xét có thống nhất với mô tả tưới trong lưu vực. Tại thời gian này,
một khung chung có yêu cầu mô tả sử dụng nước trong lưu vực. Công việc này
được phân tích từ một quan điểm tưới nhưng chúng ta có thể hiểu rõ hơn những tác
động của những can thiệp tưới cho một phạm vi lưu vực. Nó được phân tích với
cách chung để mô tả bất kỳ sự sử dụng tài nguyên nước để làm tăng sự truyền thông
giữa những người đang hành nghề trong các lĩnh vực tài nguyên nước khác nhau.
Kế toán nước là một thủ tục của phân tích những sử dụng, tiêu hao, và hiệu
suất của nước, và trong bối cảnh lưu vực. Nó là một phương pháp luận được khuyến
khích do tiện dụng trong đánh giá những tác động của cánh đồng ở mức có những
sự can thiệp nông nghiệp trong bối cảnh của lưu vực, hiệu suất của nông nghiệp có
trước, và sự phân phối phối nước giữa nguồn sử dụng trong một lưu vực. Nó có
được sự phát triển như một trong những hoạt động của hệ thống là sáng kiến rộng
lớn trong quản lý nước (SWIM) của CCIAR. Mục tiêu của pha đầu tiên của SWIM,
dự án kế toán nước là phát triển những thủ tục kế toán nước theo tiêu chuẩn hóa.
Những mục đích cụ thể của dự án là:
Phát triển và chính thức hóa những tiêu chuẩn kế toán cho sự theo dõi tiêu
hao nước trong lưu vực.
Phát triển cùng với những trung tâm hàng hóa chính, một thủ tục kế toán cho
tình trạng quy định, và những thay đổi về đo lường bên trong, có thể xác định được
đầu ra trên đơn vị nước thực sự được tiêu hao với các cách trồng khác nhau.
14
Áp dụng và kiểm tra các thủ tục cho sự dùng nước và các tiêu hao bởi nông
nghiệp có tưới như là một hợp phần của SWIM và những dự án nghiên cứu.
Tạo ra các thủ tục kế toán khác nhau của vận hành NARS trong hai lĩnh vực
quy hoạch thủy lợi và nghiên cứu cây trồng.
Nó sử dụng một công cụ là thông tin không giống nhau về các thủ tục kế
toán nước được tiêu chuẩn hóa cho cả trung tâm CCIAR và NARS, kể cả đã bao
gồm trong quản lý tưới và thủy lợi. IIMI với những hoạt động hợp tác cùng IRRI,
ICRAF, CIAT và CIMMYT. Những dự án SWIM khác sẽ sử dụng các thủ tục đã
được phát triển ở đây với những đầu tư chi tiết hơn. Rút cục, nó có ý định rằng kế
toán nước sẽ tiến triển thành một tập hợp được chấp nhận chung và thực hành theo
tiêu chuẩn hóa (David Molden). Thống nhất áp dụng cho sử dụng tài nguyên nước ở
3 cấp độ phân tích: mức độ sử dụng như thửa ruộng được tưới hoặc như hộ dùng
nước, mức độ dịch vụ như việc tưới nước hoặc hệ thống cung cấp nước, và mức độ
lưu vực có thể bao gồm những sử dụng khác nhau. Thuật ngữ Kế toán nước và
những chỉ số thực hành được phân tích và trình bày với những ví dụ cho tất cả 3
mức độ. Những nội dung và những thuật ngữ được trình bày, được phân tích có sự
giúp đỡ của các hoạt động của một thành viên bao gồm: sự nhận ra những cơ hội
cho việc tiết kiệm nước và tăng hiệu suất sử dụng nước, khi phân tích hiểu được tốt
hơn những kiểu mẫu hiện tại của sử dụng nước và những tác động của các can thiệp
vào, cải thiện sự tuyên truyền giữa các chuyên gia và truyền thông tới những người
không thuộc nghành nước, và cải thiện cách phân tích nguyên nhân trong phân chia
nước của người sử dụng, điều này được mong đợi với việc áp dụng trong tương lai.
Các nội dung kế toán nước bao gồm một sự chuyển mạnh ủng hộ hệ thống phân tích
lưu vực.
Mục đích của tiếp cận này là đề ra một sự khái quát, tiếng nói chung cho việc kế
toán những sử dụng nước. Khung các khái niệm này cung cấp:
1. Thuật ngữ và một quy trình có thể được áp dụng để mô tả tình trạng hiện nay
và kết quả của các hoạt động có liên quan đến sử dụng tài nguyên nước được tiến
hành trong nông nghiệp và những thành phần nước khác.
15
2. Một biện pháp chung cho những kết quả báo cáo của những thử nghiệm nông
học có liên quan đến nước và những can thiệp của tưới. Nhờ thế, những tác động có
thể được hiểu biết tốt hơn cho một bối cảnh của lưu vực.
Các nhà nghiên cứu trong nông nghiệp, thủy lợi và tài nguyên nước làm việc với
phạm vi không gian có độ lớn rất khác biệt. Những nhà nghiên cứu nông học
thường tập trung vào phạm vi cánh đồng hoặc các ô thửa với sự đa dạng của cây
trồng và các hoạt động quản lý của cánh đồng. Các chuyên gia tưới tập trung vào
một hệ thống liên hệ với nhau trên các cánh đồng bởi một nguồn nước chung. Các
chuyên gia về tài nguyên nước có được mối liên hệ với những người sử dụng khác
ngoài nước cho nông nghiệp nó còn bao gồm cho đô thị, công nghiệp và sử dụng
cho môi trường.
Sự hiểu biết ảnh hưởng lẫn nhau giữa các mức độ này trong phân tích giúp
chúng ta hiểu những tác động về các hoạt động của chúng ta. Sự tiến bộ được nhận
biết trong sử dụng nước ở mức độ đồng ruộng có thể cải tiến hiệu quả toàn diện của
nước trong một lĩnh vực, hoặc nó có thể giảm hiệu quả của những người sử dụng ở
hạ lưu. Chỉ khi sự can thiệp có được ở trong bối cảnh của phạm vi lớn hơn về phân
tích có thể câu trả lời đã biết. Tương tự, những yêu cầu trên toàn lưu vực có thể hé
mở những khái niệm chung về Nước có thể được tiết kiệm ra sao, những thông tin ở
mức độ cánh đồng cho biết cách nào tiến tới tiết kiệm hoặc tăng hiệu quả nước được
đề ra. Vì thế, 3 mức độ khác nhau của dùng nước được định nghĩa với các thủ tục kế
toán nước được phân tích:
+ Mức vĩ mô (Macro): mức lưu vực hoặc tiểu lưu vực bao gồm tất cả hoặc
một phần của lưu vực, bao gồm những sử dụng nước khác nhau.
+ Mức trung bình (Mezzo level): mức dịch vụ nước, chẳng hạn tưới hoặc
dịch vụ nước cho đô thị.
+ Mức vi mô (Micro level): mức sử dụng, chẳng hạn cho 1 cánh đồng nông
nghiệp, 1 hộ hưởng lợi, hoặc cho 1 sử dụng vì môi trường.
Phương pháp kế toán nước được phân tích theo cách như nó có thể sử dụng
chung cho tưới, đô thị, công nghiệp, môi trường, hoặc các sử dụng khác về nước.
16
Nhưng tập trung nhất của báo cáo này sẽ là dịch vụ tưới và sử dụng nước, và nhấn
mạnh sẽ là tổng lượng nước trên cánh đồng và mức độ dịch vụ tưới.
Phương pháp kế toán nước dựa trên tiếp cận cân bằng nước. Nước cân bằng
bằng cách xem xét dòng chảy vào và dòng chảy ra từ lưu vực hoặc các tiểu lưu vực,
và dịch vụ và các mức sử dụng như các hệ thống tưới hoặc những cánh đồng. Bước
đầu tiên của tiến hành cân bằng nước là xác định phạm vi quan tâm bởi những ranh
giới về không gian và trong một phạm vi cụ thể. Ví dụ, 1 phạm vi có thể là một hệ
thống tưới được giới hạn bởi công trình đầu mối và vùng kiểm soát tưới, và trong
giới hạn của thời gian cho một vụ cây trồng cụ thể. Sự bảo tồn khối lượng đòi hỏi
cho phạm vi của toàn giai đoạn là thời gian nghiên cứu, dòng chảy vào là cân bằng
với những dòng chảy ra cộng với bất kỳ sự thay đổi nào của trữ lượng trong phạm
vi. Trong xu hướng thuần túy vật lý hoàn toàn, các dòng chảy của nước được mô tả
bởi sự cân bằng nước. Phân tích và sử dụng tài nguyên nước chỉ cho những yêu cầu
của chúng, người ta thay đổi sự cân bằng nước. Kế toán nước xem xét các hợp phần
của cân bằng nước và phân loại chúng theo các sử dụng và hiệu quả của những sử
dụng này.
Dựa trên những khái niệm này, tiếp cận cân bằng nước là rõ ràng. Thông
thường nhiều hợp phần của cân bằng nước là khó xác định hoặc không có sẵn. Ví
dụ, nước ngầm của dòng chảy vào và ra từ một diện tích nói chung là khó đo đạc.
Xác định sử dụng nước hao phí của cây trồng thực sự tại địa phương là không chắc
chắn (đáng ngờ). Dòng chảy tiêu thoát thường không đo đạc, quan trọng hơn có
vùng hiểu biết dòng chảy vào những hệ thống tưới hoặc những hệ thống cấp nước
đô thị. Mặc dù có những hạn chế, kinh nghiệm chỉ ra rằng thậm chí sự xây dựng
tổng số của những cân bằng nước cho sử dụng trong kế toán nước vẫn có thể là
hoàn toàn hữu ích cho các nhà quản lý, nông dân và các nhà khoa học. Những tiếp
cận cân bằng nước có được thành công khi sử dụng nghiên cứu về sử dụng nước và
hiệu quả cho lưu vực (Vd: Owen – Joyce&Raymond 1996; và Hassan&Blutta 1996)
tại mức độ dịch vụ thủy lợi (Vd: Perry 1996b, Kijne 1996, và Helat at al 1984), và
tại mức độ cánh đồng (vd: Mishra et al 1995; Ratheore et al 1996; Brugia et al 1995
17
và juony et al 1996) Binder et al (1997) dùng kỹ thuật cân bằng cho một vùng bằng
kỹ thuật xác định số lượng sử dụng cho đô thị, công nghiệp và cho quá trình tưới
dẫn tới việc dễ dàng nhận ra những sự thay đổi về số lượng và chất lượng nước.
Bảng 2.2: Các hợp phần WA các mức độ cánh đồng, dịch vụ và lưu vực
Cánh đồng Dịch vụ tưới Lưu vực/ nhánh lưu vực
Dòng chảy đến
Lượng nước tưới áp dụng Từ nước mặt Mưa
Mưa Mưa Chuyển dịch – tháo lưu vực
Đóng góp nước dưới đất Nguồn nước dưới đất Dòng chảy ngầm
Dòng chảy mặt thấm qua Nguồn tiêu nước mặt Dòng chảy đến trong sông
vào lưu vực
Thay đổi trữ
Độ ẩm đất thay đổi trong Thay đổi độ ẩm đất Thay đổi độ ẩm đất
vùng dễ hoạt động Thay đổi lượng trữ trong Thay đổi lượng trữ của hồ
hồ Thay đổi lượng trữ của nước
Thay đổi lượng trữ nước ngầm
ngầm
Tiêu hao quá trình
Thoát hơi nước của cây Thoát hơi nước của cây Thoát hơi nước của cây
trồng trồng trồng
Sử dụng nước của đô thị và
công nghiệp
Thủy sản, lâm nghiệp và
những tiêu hao khác không
phải cây trồng
Dành cho môi trường đất
ngập nước
Tiêu hao không quá trình
Bốc hơi từ bề mặt đất bao Thoát hơi nước từ bề Bốc hơi từ nước tự do và từ
18
gồm cả những cây hoang mặt thoáng và bề mặt bề mặt đất, cỏ, giếng ngầm
dại đất, cỏ, giếng ngầm và và từ cây tự nhiên
những cây tự nhiên Thoát hơi nước của cỏ dại Dòng chảy tới vùng nguy
Dòng chảy tới vùng hiểm (nước ngầm nhiễm Dòng chảy đứng hoặc
nguy hiểm (nước ngầm mặn, biển, đại dương) ngang tới khu nhiễm mặn
nhiễm mặn, biển, đại Bốc hơi từ ao hồ/bồn địa Dòng chảy tới vùng nguy
dương) hiểm (nước ngầm nhiễm Nước được hoàn trả nhưng
Bốc hơi từ ao hồ/bồn mặn, biển và đại dương) không thích hợp do thoái hóa
địa, sa mạc về chất lượng Nước được trả lại nhưng
Nước được trả lại nhưng không thích hợp vì chất Thoát hơi nước từ thực vật tự
không thích hợp do chất lượng bị thoái hóa nhiên
lượng bị thoái hóa
Dòng chảy ra
Thấm sâu Vào Sông/Suối với Vào Sông/Suối với trách
những nhiệm vụ như nhiệm như môi trường, thủy Ra biển
môi trường, thủy sản sản Dòng chảy ra bề mặt
Trách nhiệm với hạ lưu Trách nhiệm với hạ lưu
Sử dụng cho đô thị và Dòng chảy ra cho nhiệm vụ
công nghiệp không phải duy trì môi trường
là tưới Dòng chảy ra không cam kết
Dòng chảy ra không
cam kết
Bốc thoát hơi nước của cây trồng có thể được xem xét là tiêu hao quá trình
khi nó không thực tế để tránh thành hai thành phần bốc hơi và thoát hơi, hoặc khi sự
phân chia của các nhóm không được phân tích thêm.
19
2.2. Các định nghĩa và các thành phần trong kế toán nước
2.2.1. Các định nghĩa
Yêu cầu đánh giá cung cấp về lưu vực cho phân tích sâu hơn điều này cung
cấp những giải thích quan trọng làm tăng hiệu quả của nước.
Kế toán nước kết hợp thông tin cân bằng nước với những sử dụng nước được
trình bày ở hình 2.1.
Hình 2.1 Sơ đồ các thành phần nước trong Kế toán nước
Dòng chảy vào phạm vi được phân loại thành các loại sử dụng khác nhau
được mô tả dưới đây.
Tổng dòng chảy vào: là tổng lượng dòng chảy đến phạm vi nghiên cứu từ
mưa, dòng chảy mặt và những nguồn nước dưới đất.
Dòng chảy thực vào: là tổng lượng dòng chảy vào cộng với bất kỳ sự thay
đổi trữ nào ở trong. Nếu nước được chuyển từ kho trữ trong thời gian nghiên cứu,
dòng chảy thực đến là lớn hơn tổng dòng chảy vào, nếu nước được thêm vào khu
trữ, dòng chảy thực đến là nhỏ hơn tổng dòng chảy đến.
Tiêu hao nước: là một sử dụng hay di dời nước từ lưu vực, điều này làm cho
nó không có sẵn nước cho sử dụng thêm nữa. Tiêu hao nước là một khái niệm then
chốt của kế toán nước, nó thường là hiệu quả và được xuất phát từ lợi ích trên đơn
vị của nước được tiêu hao mà chúng ta đang nghiên cứu. Nó cực kỳ quan trọng để
20
phân biệt nước tiêu hao từ nước được tháo cho một dịch vụ hoặc sử dụng, bởi vì
không phải tất cả nước được tháo cho một sử dụng là tiêu hao. Nước là tiêu hao bởi
4 quá trình chung, từ 1 đến 3 được mô tả bởi SecKler (1996) và Keller (1995). Loại
thứ 4 của tiêu hao xuất hiện khi nước được tổ hợp thành 1 sản phẩm, 4 quá trình
chính là:
+ Bay hơi: nước biến thành hơi từ bề mặt đất hoặc bốc hơi từ cây trồng
+ Dòng chảy suy giảm: những dòng nước chuyển thành nước biển, nước
ngầm nhiễm mặn, hoặc địa điểm khác nơi nó không dễ dàng hoặc không kinh tế khi
thu lại để sử dụng lại.
+ Ô nhiễm: chất lượng nước bị giảm giá trị tới một mức nào đó nó không đạt
được tiêu chuẩn cho những sử dụng an toàn.
+ Hợp nhất trong một sản phẩm: do 1 quá trình như sự hợp nhất của nước
tưới thành cây trồng
Tiêu hao quá trình: là tổng số của nước được tháo và tiêu hao thanh sản
phẩm của 1 hàng hóa có chủ định. Trong công nghiệp, nó bao gồm tổng lượng nước
bị hóa hơi do làm lạnh, hoặc biến đổi thành một sản phẩm. Trong nông nghiệp, nó
là nước bay hơi từ cây trồng cộng với tổng nước chuyển đổi thành cây trồng.
Tiêu hao không quá trình: Xuất hiện khi nước tháo là tiêu hao, nhưng không
theo quá trình nó được dự định cho. Ví dụ, nước được tháo cho tưới là tiêu hao bởi
sự bay hơi (quá trình), và do bay hơi từ đất và từ mặt nước tự do (không có quá
trình). Dòng chảy ra từ những hệ thống tưới và các thành phố ven biển chảy ra biển
được xem là tiêu hao không quá trình. Những dòng chảy thấm sâu tới tầng ngậm
nước nhiễm mặn, nếu nước ngầm không dễ dàng hoặc sử dụng không kinh tế. Tiêu
hao không quá trình có thể có sự phân loại thêm nữa như có lợi hoặc không có lợi.
Ví dụ, 1 xã có thể đưa ra giá trị có lợi của cây trồng tiêu thụ nước tưới. Trong
trường hợp này, nước tiêu hao có thể được xem có lợi, nhưng tiêu hao bởi những
cây này không phải là lý do chính để tháo nước.
Nước cam kết: là phần dòng chảy ra cho cam kết sử dụng khác. Ví dụ, quyền
sử dụng nước ở hạ lưu hoặc những nhu cầu có thể đáp ứng đó là tổng chắc chắn của
21
dòng chảy ra là có thực sự từ 1 khu tưới. Hoặc, nước có thể có cam kết sử dụng cho
môi trường chẳng hạn dòng chảy tối thiểu trong sông, suối, hoặc dòng chảy ra biển
để duy trì các giống cá.
Dòng chảy không được cam kết: là nước không phải là tiêu hao cũng không
phải cam kết, và là vì có sẵn cho sử dụng trong lưu vực hoặc để xuất cho lưu vực
khác, nhưng chảy ra vì thiếu kho trữ hoặc vận hành các thiết bị đo đạc. Ví dụ, nước
chảy ra biển nó vượt quá yêu cầu cho các loài cá, môi trường, hoặc các sử dụng có
lợi khác là dòng chảy không cam kết. Với việc trữ thêm dòng chảy không cam kết
có thể có sự chuyển giao thành sử dụng có quá trình chẳng hạn như tưới hoặc những
sử dụng của đô thị.
Một lưu vực đóng: (Seckeler 1992) là một khi ở đó không có dòng chảy ra có
thể sử dụng được trong mùa khô. Một lưu vực mở là 1 khi dòng chảy có thể sử dụng
không cam kết tồn tại.
Trong lưu vực cam kết đầy đủ: nơi mà không có dòng chảy ra không cam kết,
tất cả nước của dòng chảy vào là cam kết với các sử dụng khác nhau. Trong trường
hợp này, những lựa chọn chính cho phân tích tương lai là phân chia lại giữa các sử
dụng, hoặc nước nhập khẩu vào lưu vực.
Nước sẵn có: là dòng chảy thực vào trừ đi tổng lượng nước để dành những
sử dụng nước cam kết và đại diện tổng của nước cho sử dụng của lưu vực, dịch vụ,
hoặc các mức sử dụng. Lượng nước sẵn có bao gồm tiêu hao quá trình và tiêu hao
không quá trình, cộng với lượng nước không cam kết.
Những sử dụng không tiêu hao của nước: là những sử dụng ở đó lợi ích được xuất
phát từ sử dụng có ý định trước không làm tiêu hao nước. Trong những trường hợp
cụ thể, thủy điện có thể được xem là sử dụng không tiêu hao nước, nếu nước được
tháo cho sử dụng khác chẳng hạn như tưới thông qua nhà máy thủy điện. Thường,
một phần chính của những mục đích môi trường trong lưu vực có thể là không tiêu
hao khi dòng chảy ra từ những sử dụng này không chạy ra nhập vào biển.
2.2.2. Các thành phần kế toán nước
Đối với quy mô ứng dụng ở cấp độ khu tưới, các thành phần kế toán nước
được phân như sau:
22
Lượng dòng chảy vào:
- Mưa.
- Dòng chảy mặt được lấy vào khu tưới
- Dòng chảy ngầm tầng nông.
- Dòng chảy từ sông bên ngoài chảy vào lưu vực.
- Dòng chảy tiêu bề mặt.
Sự thay đổi lượng trữ:
- Sự thay đổi độ ẩm của đất.
- Sự thay đổi lượng trữ trong các hồ chứa.
- Sự thay đổi trữ nước ngầm.
Tiêu hao nước định trước:
- Bốc thoát hơi nước từ cây trồng.
Tiêu hao nước không định trước:
- Bốc hơi từ mặt thoáng, bề mặt đất, từ đất hoang hóa...
- Bốc thoát hơi nước từ các loại cây cối khác như cây trong vườn, cây lâu
năm,… (mà không được dự định được tưới).
- Nước dùng trong thủy sản
- Lượng dòng chảy tới các vùng không thể sử dụng được như biển, khu
nước nhiễm mặn.
- Bốc hơi từ ao.
- Chảy đến vùng nước bị suy giảm chất lượng nước mà không thể sử
dụng được nữa.
Lượng dòng chảy ra:
- Dòng chảy ràng buộc cho sử dụng ở hạ lưu.
- Dòng chảy ràng buộc trong khu tưới như dòng chảy cho môi trường,
sinh thái, ngăn mặn...
- Dòng chảy ra không ràng buộc.
23
1. Phương trình cân bằng cơ bản
Dòng chảy vào = Dòng chảy ra + sự thay đổi lượng trữ.
Ta có thể viết phương trình cân bằng nước dưới dạng sau:
Qvào + R + S = Qra +E
Trong đó:
Qvào : Dòng chảy vào.
Qra: Dòng chảy ra.
R: Lượng mưa.
E: Bốc thoát hơi nước.
S: Sự thay đổi trữ trong phạm vi xem xét bao gồm những sự thay đổi trong
nước ngầm, nước mặt hoặc trong tầng chưa bão hòa.
Các số hạng trong kế toán nước của tổng lượng dòng chảy vào và dòng chảy
thực vào được định nghĩa như sau:
GI = Qvào + R
NI = GI + S
Trong đó:
GI: Tổng dòng chảy vào.
NI: Dòng chảy thực vào.
Các số hạng của dòng chảy ra được viết như sau:
NI = Qra+E = PD + NPDb +NPDnb+UO+NUO+C
Trong đó:
PD = Tiêu hao định trước = Ep + Sp
E: Bốc thoát hơi nước
S: Dòng chảy vào vùng như biển, hoặc thấm sâu...
Chỉ số “p” ở dưới chỉ trạng thái định trước.
NPDb = Tiêu hao nước không định trước có lợi = Enpb + Snpb
Chỉ số “npb” ở dưới là không định trước có lợi.
NPDnb = Tiêu hao nước không định trước không có lợi = Enpnb + Snpnb
24
Chỉ số “npnb” ở dưới là không định trước không có lợi.
UO = Dòng chảy ra không ràng buộc có thể sử dụng được.
NUO = Dòng chảy ra không ràng buộc không sử dụng được.
C = Dòng chảy ra ràng buộc.
Sắp xếp lại các số hạng để cho tất cả các số hạng tiêu hao với nhau, ta có:
NI = TD + UO + NUO + C
Trong đó:
TD = Tổng tiêu hao = PD + NPD
TD có thể phân ra thành định trước và không định trước hoặc có lợi hoặc
không có lợi như sau:
NI = Db + Dnb + UO + NUO + C
Db = Ep + Sp + Enpb + Snpb
Dnb = Enpnb + Snpnb
Lượng nước có sẵn được định nghĩa như sau;
AW = NI - C - NUO
Một điều quan trọng khi tách biệt được khái niệm lượng nước có sẵn ở thời điểm
hiện tại và lượng nước có sẵn ở tương lai. Tiềm năng phát triển nước trong tương lai
là nơi mà nền kinh tế và kỹ thuật là có thể đáp ứng được cho những cơ sở hạ tầng
được xây dựng. Lượng nước có sẵn ở trạng thái tiềm năng được phát triển là:
AWpot = NI - C - NUOpot
Chỉ số “pot” nói lên tiềm năng nước có sẵn nếu tất cả công trình khả thi về
mặt kinh tế và kỹ thuật được xây dựng.
Lượng nước có sẵn có thể được định nghĩa chỉ cho nông nghiệp khi trừ đi
các tiêu hao khác.
AWag = NI - C - NUO - (Db của tất cả các sử dụng không phải là tưới)
Với cách định nghĩa này, tưới trở thành hộ sử dụng nước còn lại sau khi tất
cả các nhu cầu có lợi và nhu cầu ràng buộc khác được đáp ứng.
25
2. Các chỉ số trong kế toán nước
Dựa trên những định nghĩa ở trên, các chỉ số trong kế toán nước được định
nghĩa như sau:
a. Các chỉ số dựa trên cơ sở vật lý
Các chỉ số này cung cấp những thông tin về bao nhiêu nước đang bị tiêu hao và sử
dụng nào đang làm tiêu hao nước.
Bảng 2.3: Chỉ số mang tính vật lý trong kế toán nước
Công Định nghĩa Kí hiệu
thức 1. Phân số tiêu hao
Chỉ số tổng lượng chảy vào tiêu hao TD/GI
Chỉ số lượng nước có sẵn tiêu hao TD/AW
Chỉ số tổng dòng chảy thực vào tiêu hao TD/NI
2. Phân số quá trình
Chỉ số tiêu hao định trước so với lượng nước có sẵn PD/AW DF DFGI DFAW DFNI PF PFAW
Chỉ số tiêu hao định trước so với lượng nước có sẵn cho PFAW - ag PD/AWag
Nông nghiệp Chỉ số tiêu hao định trước so với tổng lượng tiêu hao PD/AW PFTD
b. Chỉ số đối với sử dụng nước hữu ích
Sử dụng nước hữu ích chỉ ra tỉ lệ lượng nước tiêu hao hữu ích so với lượng
nước có sẵn, tổng lượng nước tiêu hao, dòng chảy thực đến và tổng dòng chảy thực
đến. Bảng 2.4 định nghĩa về các chỉ số sử dụng nước hữu ích.
Bảng 2.4: Chỉ số sử dụng nước hữu ích
Định nghĩa Kí hiệu
Chỉ số hữu ích của lượng nước sẵn có BE
Chỉ số hữu ích của tổng lượng tiêu hao
Chỉ số hữu ích của dòng chảy thực vào
Chỉ số hữu ích của tổng dòng chảy vào BD BNI BGI Công thức Db/WA Db/TD Db/NI Db/GI
26
c. Phân tích sự tiêu hao nước, sử dụng nước và năng suất nước
Dựa trên các chỉ số kế toán nước, tình trạng sử dụng nước và tiêu hao nước
sẽ được phân tích một cách cụ thể. Từ đó, ta có thể biết được lượng dòng chảy vào
và lượng nước có sẵn bị tiêu hao cho các mục đích sử dụng là bao nhiêu. Dựa trên
kết quả phân tích đó có thể chỉ ra được những cơ hội tiết kiệm nước trong tương lai
một cách hiệu quả nhất.
3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hệ thống
a. Tính toán năng suất nước
Hiệu suất của nước liên quan đến khối lượng sản phẩm, ví dụ như bao nhiêu
kilôgram nông sản được sản xuất ra trên một đơn vị nước nước tiêu hao hoặc giá trị
sản phẩm trên mỗi khối lượng nước.
Bảng 2.5: Chỉ số hiệu suất sử dụng nước
Định nghĩa Kí hiệu Công thức
Hiệu suất của tổng lượng nước vào P/GI PWGI
Hiệu suất của lượng nước có sẵn P/AW PWAW
Hiệu suất của lượng nước có sẵn cho tưới PWAW - Tưới P/AWtưới
Hiệu suất của nước tiêu hao định trước P/PD PWp
Hiệu suất đơn vị nước tưới P/ET PWET
Trong đó P có thể được diễn tả bằng tổng lợi ích thu được qua việc sử dụng
nước sau khi đã trừ đi tổng chi phí (không kể chi phí cho nước) trong việc sản sinh
ra lợi nhuận. Như vậy ở đây P là SGVP là chỉ số về tổng giá trị của sản xuất nông
nghiệp đã được chuẩn hoá. Đối với chỉ số SGVP, sản lượng tương ứng sẽ được tính
toán dựa trên giá cả của địa phương, so sánh với giá của cây trồng chiếm ưu thế
trong vùng và giá cả của thế giới. Sau đó sẽ tính giá trị tương ứng của sản phẩm trên
thế giới. Như vậy SGVP được định nghĩa theo công thức sau:
P= SGVP = [ ]pthế giới
27
Trong đó:
SGVP: là chuẩn tổng giá trị sản lượng chuẩn hoá.
Yi: là năng suất cây trồng i
Pi : là giá thành địa phương của cây trồng i
Pthế giới : là giá thành trên thị trường thế giới của cây trồng cơ sở.
Ai : là diện tích gieo trồng của cây trồng i.
Pb : là giá thành địa phương của cây trồng cơ sở.
b. Phân tích năng suất nước
Phân tích năng suất nước dựa trên cơ sở phân tích các chỉ số năng suất nước
đã được tính toán theo các chỉ số kế toán nước. Từ đó có thể có những chiến lược
gia tăng năng suất nước.
2.2.3 Những vấn đề nghiên cứu Kế toán nước (WA)
Thuật ngữ và khung cảnh được trình bày ở đây là sự phân tích cho sử dụng
chung dưới sự đa dạng của nhiều điều kiện. Khái niệm có ý định là đem lại sự giúp
đỡ cho một số các hoạt động, bao gồm sự nhận dạng những cơ hội tiết kiệm nước và
gia tăng hiệu suất nước, ủng hộ cho quá trình ra quyết định của phân phối nước,
kiểm toán nước chung và những nghiên cứu biểu thị, giải nghĩa và kiểm tra những
can thiệp. Kế toán nước yêu cầu cân bằng nước. Một số sự thay đổi quan trọng
trong những chương trình đo lường nước được đòi hỏi. Sự đo đạc nước tưới thường
được tập trung vào hoàn thiện cân bằng nước, những kiến thức tốt hơn được yêu cầu
về dòng chảy ra tiêu thoát. Xác định tiêu hao không có quá trình của nước là hiếm
khi được thực hiện ở hệ thống tưới và ở mức lưu vực.
Ưu tiên trong quá trình tính kế toán nước là xác định nước bốc hơi và thoát
hơi. Sự không chắc chắn của chúng ta về những kết quả làm tăng khi đang thay đổi
từ mức sử dụng sang mức dịch vụ sang lưu vực. Những kỹ thuật và công nghệ mới
của điều khiển từ xa chỉ ra hứa hẹn trong cải thiện xây dựng của bốc hơi và thoát
hơi cho quá trình bốc hơi theo quá trình và không theo quá trình (Bastiaansen
forthcoming).
28
Sự tương tác giữa kế toán nước ở mức cánh đồng và dịch vụ tưới và mức lưu
vực cần có minh họa tốt hơn. Trong nhóm của những phân tích dịch vụ và cấp lưu
vực, báo cáo về những kết quả trong phạm vi cánh đồng về khung kế toán nước sẽ
trợ giúp cho những nhà nghiên cứu và các nhà thiết kế tới tiếp cận vạch kế hoạch ở
mức độ cánh đồng đó là việc giành được cơ hội tiết kiệm nước và tăng hiệu suất
nước.
Ở mức dịch vụ và lưu vực có đòi hỏi về tài liệu của những tiêu hao nước cho
những sử dụng phi nông nghiệp và sự quay trở lại (hồi quy) của tiêu hao đó. Nó là
những hiểu biết rộng bên trong vùng tưới và trong lưu vực, có những sử dụng quan
trọng khác về nước thông thường. Chúng ta biết sự tháo cho tiêu này, nhưng chúng
ta không có ý nghĩ tiêu hao bao nhiêu. Một số trường hợp nghiên cứu chi tiết sẽ làm
thiếu quan niệm về tiêu hao của nước trong sử dụng này.
Chất lượng nước đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong tiêu hao nước và hiệu
suất nước. Cách thức của kế toán với tiêu hao do ô nhiễm là được đòi hỏi. Đây là
thực tiễn tiến hành ở những lưu vực mới nước gần như được cam kết. Thường trong
những trường hợp này sự phục hồi làm mạnh lên và sự làm yếu đi là lựa chọn
không làm được. Trong khi phục hồi của nước là kế hoạch tiết kiệm mức nước có
thể làm được. Ô nhiễm dẫn tới sự ảnh hưởng của sản phẩm, môi trường và sức khỏe
yêu cầu kế toán rõ hơn, lâu hơn số lượng nước được tạo ra theo % ở đây.
Kế toán tài chính ở cánh đồng được chấp nhận, các quy trình chuẩn cho
những kiểm toán đang thực hiện và đang kiểm toán của kế toán là những hành động
được chấp nhận ở diện rộng. Điều này không đúng trong lĩnh vực nước, có thể có áp
lực tăng lên cho kế toán vì cho sử dụng nước với sự khan hiếm về nước gia tăng.
Một hướng yêu cầu thêm đang tiến hành từ kế toán nước là phân tích về tiêu chuẩn.
Những thủ tục được chấp nhận rộng rãi khi tiến hành kiểm toán nước. Kế toán nước
sẽ trợ giúp cho hiểu biết tốt hơn về kiểu mẫu sử dụng nước hiện tại, tăng cường
truyền thông giữa các nhà chuyên môn và những người không thuộc chuyên môn
ngành nước, tăng cường mối liên hệ cho phân chia nước giữa các sử dụng và nhận
ra giải pháp chung để đạt được sự tiết kiệm nước và tăng hiệu suất nước. Nó được
29
mong chờ rằng trong cả thời gian ngắn của kế hoạch sẽ phát triển thành các thực
tiễn được áp dụng chung và sự trình bày này sẽ giúp có lợi hơn tài nguyên nước của
mình.
Bốc thoát hơi nước của cây trồng có thể được xem xét là tiêu hao quá trình
khi nó là không thực tế để tránh tách thành hai thành phần bốc hơi và thoát hơi,
hoặc khi sự phân chia của các nhóm không được phân tích thêm.
30
Chương 3
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NƯỚC CỦA HỆ THỐNG HỒ NÚI
CỐC BẰNG PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN NƯỚC
3.1. Tổng quan của vùng nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
1. Vị trí địa lý, nhiệm vụ công trình
Hệ thống công trình hồ chứa Núi Cốc nằm ở phía Tây Nam thành phố Thái Nguyên,
cách trung tâm thành phố 15km, có vị trí hành chính như sau :
- Phía Bắc giáp huyện Đại Từ
- Phía Đông và Nam giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phổ Yên
- Phía Tây là dãy núi Tam đảo giáp Tỉnh Vĩnh Phúc.
Khu vực hưởng lợi của công trình bao gồm 4 huyện, thành, và thị xã là:
- Thành phố Thái Nguyên
- Thị xã Sông Công
- Huyện Phú Bình
- Huyện Phổ Yên.
Vị trí địa lý và hành chính của hệ thống được biểu thị ở hình 3.1.
Hệ thống hồ Núi cốc gồm có đập chính Núi Cốc ngăn dòng sông Công, sông
Công là nhánh cấp I đổ vào phía bờ hữu của sông Cầu cửa nhập ở Phù Lôi, cách đập
Thác Huống 54,5km theo đường sông về phía hạ lưu. Hướng chảy của sông Công
đoạn thượng nguồn dòng chính, sông Công chảy theo hướng Bắc - Nam và đến Núi
Hồng thì đổi dòng chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Hướng bên phải của
sông Công là sông Phó Đáy. Hướng bên trái của Sông Công là sông Cầu. Ngăn cách
giữa sông Công và sông Phó Đáy là dãy Tam Đảo có đỉnh cao nhất 1.591m, ngăn
cách giữa sông Công và sông Cầu là những núi thấp hơn, các đỉnh cao chừng 400-
500m.
31
Hình 3.1 : Bản đồ vị trí của hệ thống hồ Núi Cốc
Lưu vực sông Công ở vào khoảng:
- 21020’ 21052 vĩ độ Bắc.
- 105027’ 105054’ kinh độ Đông
Diện tích lưu vực của Hồ Núi Cốc : F = 535 km2
Chiều dài lưu vực là: L = 54Km
Độ dốc sông chính: J%0 = 1.62
Cụm các công trình đầu mối bao gồm :
- 1 đập chính bằng đất đắp chắn ngang sông Công dài 480 m, cao 26 m.
- 7 đập phụ bằng đất đắp có tổng chiều dài 1640 m. - 2 tràn xả lũ có 5 cửa điều tiết: BTràn = 5 x 8 = 40 m2
- 1 cống lấy nước dưới đập chính có khẩu diện 2 170 cm, có đường vòm phục
vụ công việc kiểm tra bảo vệ.
Hệ thống kênh tưới gồm:
- 18 km kênh Chính.
32
- 43 km kênh cấp I
- 504 km kênh các cấp trong đó 300 km kênh cấp II và cấp III còn lại là kênh
nội đồng.
- 2070 công trình xây lắp trên toàn bộ hệ thống kênh các cấp.
Công trình hồ Núi Cốc được khởi công xây dựng năm 1972.
- Năm 1978 bắt đầu đưa công trình vào sử dụng.
- Năm 1980 đào thêm kênh tiếp nguồn cho hệ thống thuỷ nông Sông Cầu, vị
trí đầu kênh tiếp nguồn từ K6+700 trên kênh chính.
- Năm 1983 xây dựng xong hoàn toàn công trình kể cả đầu mối hệ thống kênh tưới.
Theo quyết định số 324 TTg ngày 16/11/1971 của Thủ Tướng Chính phủ phê
duyệt thiết kế hồ chứa nước Núi Cốc và Quyết định bổ sung số 95 QĐ/ KH ngày 25
tháng 11 năm 1980 của bộ thuỷ lợi, hồ núi cốc có nhiệm vụ sau:
Tưới cho diện tích canh tác FCT = 12.000 ha gồm các huyện: Đồng Hỷ, Phổ Yên, Phú Bình,
Thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công.
Năm 2006, do cải tạo, nâng cấp nhiệm vụ cuả công trình được UBND tỉnh
Thái Nguyên phê duyệt tại Quyết định 2812/QĐ - UBND ngày 15 tháng 12 năm
2006: Theo đó hồ Núi Cốc có nhiệm vụ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp
của tỉnh Thái Nguyên gồm: Cấp nước tưới cho 12.000 ha lúa và rau mầu, tạo nguồn
tưới cho 4.500 ha cây công nghiệp các loại.
- Cung cấp nước cho sản xuất công nghiệp thị xã Sông Công QCN =1,51 m3/s.
- Cấp nước cho sinh hoạt gồm: Nhà máy nước Thái Nguyên và nhà máy
nước Tích Lương với tổng công suất là 40.000m3/ng.đêm. Đảm bảo cung cấp nước
sạch phục vụ cho sinh hoạt ở mức 100lít/người/ngày.
- Tiếp nguồn cho hệ thống nông giang sông cầu hàng năm trung bình là 30
triệu m3/năm.
- Từ năm 2009, hồ Núi Cốc còn có nhiệm vụ tận dụng nguồn năng lượng
nước tưới để phát điện cho nhà máy Thuỷ điện Núi Cốc với công xuất 2MW, lưu
lượng đảm bảo cho phát điện 21 m3/s, đầu tháng 8/2009 nhà máy chính thức phát
điện hòa lưới điện quốc gia.
33
Hình 3.2: Nhà máy thủy điện hồ Núi Cốc
- Kết hợp nuôi trồng thuỷ sản trong hồ và cấp nước nuôi, thả cá cho ao hồ
trong khu vực hưởng lợi.
2. Địa hình, Địa chất, khí tượng thủy văn công trình
a. Địa hình
Thái Nguyên là tỉnh trung du, miền núi có nhiều núi cao và rừng rậm thuộc các
huyện : Định Hoá, Phú Lương, Võ Nhai, Đại Từ. Ruộng đất phân tán ở những sườn
đồi, chân núi, ở những bờ khe ven suối và ở các thung lũng hẹp, phân bố từ cao
trình + 25 đến + 100. Tuy thế nhưng cũng có những thung lũng có diện tích ruộng
đất hơn 100 ha như ở Đại Từ, Quảng Cao, Tân Phú Thượng, Phấn Mễ vv... Đặc biệt
ở vùng Võ Nhai đất rộng có nhiều núi đá vôi. Phía nam là vung trung du gồm 3
huyện: Đồng Hỷ, Phổ Yên và Phú Bình có nhiều đồi trọc cây cối thấp và thưa rất ít
khe và suối. Ruộng đất tương đối thấp trung bình từ cao trình +10 đến cao trình
+30. Có nhiều cát nặng năng xuất cây trồng kém nhất là vùng giữa Sông Công và
Sông Cầu.
Vùng lưu vực hồ Núi Cốc có độ dốc tương đối lớn, chiều dài sông chính chiếm
hơn một nửa chiều dài sông Công. Trong lưu vực có nhiều thung lũng, các thung
34
lũng lớn tập trung ở vùng thượng lưu như thung lũng Phú Nghĩa, Đại Từ, Vạn Yên.
Càng về phía hạ lưu núi và thung lũng càng ít, thấp và hẹp hơn.
Xung quanh hồ là các dãy đồi đất liên tiếp có cao trình từ +40 m đến +100m
như khu vực phía bắc hồ giáp với huyện Đại Từ, phía Nam và Đông Nam giáp
huyện Đồng Hỷ và thành phố Thái Nguyên .
Phía tây nam có dãy Tam Đảo với đỉnh cao nhất 1.590 m, các vách núi dựng
đứng và kéo dài theo hướng Tây bắc - Đông nam. Ngoài dãy núi trên còn có dãy
Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy theo hướng Đông bắc - Tây nam đến Võ Nhai
và dãy núi Bắc Sơn cũng chạy theo hướng Tây bắc - Đông nam. Cả ba dãy núi Tam
Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn đều là những dãy núi cao che chắn gió mùa Đông bắc.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình lại không phức tạp
lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, đây là một thuận lợi của Thái Nguyên
cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội nói chung so với các
tỉnh trung du miền núi khác.
- Huyện đại Từ
Huyện được bao bọc bởi các dãy núi, phía tây và tây nam có dãy núi Tam Đảo
với độ cao từ 300-600 m, phía bắc có núi Hồng và núi Chúa, phía nam có núi Thằn
Lằn thấp dần từ bắc xuống nam. Địa hình phức tạp mang đặc trưng của vùng núi,
trung du và đồng bằng. Hướng chủ đạo địa hình của huyện theo hướng Tây bắc-
Đông nam, chia thành các loại địa hình sau:
+ Cụm 1 là địa hình dãy Tam Đảo chạy theo hướng tây bắc - đông nam, song
song với hướng gió mùa đông nam. Phía Bắc của dãy núi Tam đảo có các ngọn núi
cao 300-600m. Đỉnh cao nhất là đèo Khế có độ cao 1.591m. Phía nam dãy Tam Đảo
có các ngọn núi thấp có độ cao 300-500m
+ Cụm 2 nằm ở phía đông và đông bắc của huyện có các ngọn núi thấp với độ
cao 150-300m thuộc phần cuối của cánh cung sông Gâm. Phía đông nam có các
ngọn núi cao hơn 400m thuộc cánh cung Ngân Sơn.
+ Cụm 3 là vùng thung lũng hẹp song song với dãy Tam Đảo, chịu ảnh hưởng
của gió mùa đông nam và dòng địa hình ở phía đông dãy tam đảo nên có lượng mưa
lớn đạt 1900 mm/năm.
35
- Huyện Phổ Yên
Phổ Yên có địa hình xen kẽ phức tạp giữa địa hình của vùng đồng bằng và các
đồi, núi thoải lượn sóng nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Độ cao trung bình
so với mực nước biển toàn huyện là +13,8, nơi có địa hình cao nhất là +596. Địa hình
Phổ Yên vừa mang tính chất miền núi, vừa mang tính chất miền trung du, được phân
thành hai vùng chủ yếu:
+ Dạng địa hình vùng đồng bằng: Gồm các xã, thị trấn nằm ở phía Đông của
huyện như: Bãi Bông, Ba Hàng, Nam Tiến, Tân Hương, Thuận Thành, Trung
Thành, Tân Phú, Đông Cao, Tiên Phong, Tiên Phong, Hồng Tiến, Đắc Sơn, Vạn
Phái. Ở vùng này địa hình còn một số nét mang dáng dấp của vùng trung du do các
đồi sót xen kẽ, nhưng nhìn chung bằng phẳng. Điều kiện địa hình thuận lợi cùng với
sự phát triển của cơ sở hạng tầng đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ sự phát triển
kinh tế xã hội của vùng.
+ Dạng địa hình vùng đồi núi thấp: Gồm các xã, thị trấn phía Tây của huyện
như: Phúc Tân, Phúc Thuận, Bắc Sơn, Minh Đức, Thành Công. Vùng này mang
tính chất điển hình trung du, địa hình chủ yếu là những dãy đồi đỉnh tròn bát úp,
càng về phía Nam thì độ cao giảm dần và địa hình càng dốc thoải. Địa hình phức
tạp dẫn đến phát triển kinh tế và phân bố dân cư không đồng đều giữa các vùng và
tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng.
- Thị xã Sông Công
Địa hình của thị xã Sông Công được chia thành 2 khu vực: vùng đồi thấp,
đồng bằng và vùng đồi núi. Tổng quỹ đất của thị xã Sông Công là 8.364 ha, trong
đó diện tích đất trồng cho nông nghiệp là 4426,25ha , chiếm 52,92% tổng diện tích
đất của thị xã. Đất nông nghiệp của thị xã chủ yếu bao gồm đất trồng lúa, trồng cây
trên cạn, đất vườn.
- Thành phố Thái Nguyên:
Địa hình núi thấp có diện tích chiếm tỷ lệ lớn, hầu như chiếm trọn vùng đông
bắc của tỉnh. Địa hình núi thấp được cấu tạo bởi 5 loại đá chính: đá vôi, đá trầm tích
biến chất, đá bazơ và siêu bazơ, đá trầm tích phun trào và đá xâm nhập axit. Địa
36
hình nhân tác ở thành phố Thái Nguyên chỉ có một kiểu là các hồ chứa nhân tạo,
các hồ lớn như hồ Núi Cốc, Cây Si.
Như vậy, mặc dù nằm trong vùng trung du miền núi nhưng địa hình thành phố
Thái Nguyên không phức tạp so với các huyện, thị khác trong tỉnh và các tỉnh khác
trong vùng. Đây cũng là một trong những thuận lợi cho việc canh tác nông - lâm
nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội nói chung và công tác thu gom, xử lí rác thải nói
riêng so với nhiều địa phương khác trong vùng trung du miền núi Bắc Bộ.
- Huyện Phú Bình
Địa hình của Phú Bình thuộc nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng và nhóm
cảnh quan hình thái địa hình gò đồi.
+ Nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng kiểu đồng bằng aluvi, rìa đồng bằng
Bắc bộ với độ cao địa hình 10-15m. Kiểu địa hình đồng bằng xen lẫn đồi núi thoải
dạng bậc thềm cổ có diện tích lớn hơn, độ cao địa hình từ 20-30m và phân bố dọc
theo sông Cầu.
+ Nhóm cảnh quan hình thái địa hình gò đồi thuộc cảnh quan gò đồi thấp,
trung bình dạng bát úp với độ cao tuyệt đối từ 50-70m.
Địa hình của huyện có chiều hướng dốc dần từ Đông bắc xuống Đông nam,
với độ dốc 0,04% và độ cao trung bình 1,1 m/km dài. Độ cao trung bình so với mực
nước biển là 14m, thấp nhất là 10 m thuộc xã Dương Thành; đỉnh cao nhất là đèo
Bóp thuộc xã Tân Thành có chiều cao +250.
Tóm lại: Địa hình vùng nghiên cứu mang hai hình thái rõ nét của vùng trung
du và miền núi.
Vùng địa hình miền núi mang sắc thái núi cao, rừng rậm, ruộng đất phân tán, có
nhiều khe vực hẹp và dốc, cao độ phổ biến từ + 50 đến +100 .
Địa hình dạng trung du phổ biến là các đồi thấp, ít phức tạp, có nhiều cây thấp
và thưa rất ít khe và suối. Ruộng đất tương đối thấp trung bình từ cao trình +10 đến
cao trình +30, xen kẽ là dạng địa hình có độ cao thấp hơn từ +10 đến +15, mang đặc
trưng của địa hình vùng đồng bằng, là vùng phát triển các cây lương thực.
37
b. Địa chất
Địa chất vùng hồ và đầu mối Núi cốc thuộc vào thời đại hạ cố sinh P ZI. Cấu tạo
tuổi Jura với những nham thạch thường gặp là sa thạch, alorôlit, gravilit điệp thạch
vv...
Theo tài liệu khảo sát được của Viện thiết kế Thuỷ lợi Thủy điện từ năm 1962 -
63, 1968- 69 và đến nay, Đội địa chất 2 cũng xác nhận trầm tích vùng này thuộc
tuổi jura gồm sa thạch, alorolit, điệp thạch vv... Sự hình thành các loại trầm tích
này là do trầm tích cơ học, các kết cấu của nham thạch bị biến chất vỡ vụn khe nứt
phát triển lote. Trong toàn vùng chưa thấy xuất hiện uốn nếp và đứt gãy rõ rệt. San trang có hướng D8-TN (2800 - 5000) hướng dốc độ về phía nam (1900 - 2100), góc dốc 30 - 600.
Các diện mạo chung về địa chất thuỷ văn khu công trình :
+ Nước ngầm trong khu vực tuyến Núi cốc: Nước ngầm nằm trong các tầng
khác nhau. Nước ngầm nằm trong khe nứt của đá gốc kèm phong hoá thay đổi rõ rệt
theo mùa. Nước ngầm nằm trong lớp pha tàn tích thường xuất hiện ở chân đồi, dưới
các thung lũng và dọc các khe suối. Nước ngầm ở những tầng cuội sỏi xung tích
thêm sông là loại nước phong phú nhất tạo thành một guồng nước ngầm thống nhất
có hướng nghiêng đổ ra bờ sông chếch về phía hạ lưu sâu từ 2 4m. Nước ngầm
thường xuyên cung cấp nước cho sông trong mùa kiệt, về mùa lũ khi nước sông
dâng lên, nước sông dâng lên nâng cao mực nước ngầm.
+ Tính chất hoá học của nước: Nước sông là loại nước hyđrô carbônat, độ
kháng hoá 5,5mg/l tính acid tương đối yếu (PH = 6,5 6,7). Nước ở thềm cuội sỏi
xung tích có liên quan trực tiếp với nước sông nên có tính chất giống như nước
sông. Nước trong lớp pha tàn tích là loại elorvaeulfat. Tính acid khá cao (PH = 5,2)
có tính xâm thực HCO5, CO2, đôi khi có xâm thực CaSO4, xâm thực xi măng
pocland và chống sulfat.
Nước trong đá gốc là loại hydrocarbonat có tính acid cao (PH = 5,5) một số
trường hợp lại có tính bazơ yếu. Riêng hai hố khoan NC4 và NC12 ở những độ sâu
23m nước có tính bazơ mạnh (PH = 11). Hàm lượng CO 2 xâm thực thấp.
38
+ Tính ngấm của nham thạch trong vùng hồ :
Phần trên do nêu nham thạch trong lòng hồ là sa thạch, alorôlit, có khe nứt có
chất nhét bằng đất sét đất thịt nên thấm nước ít. Thỉnh thoảng có lớp gravilit có khả
năng thấm nước nhiều nhưng không đáng kể, lớp kẹp này mỏng nằm xen kép với
những nham thạch khác.
Tầng phủ trong lòng hồ tương đối dày trong đó có lớp đất thịt pha sét dày 3 5
m có hệ số thấm K = A.10-3 A.10-5 cm/s, bên trên là tầng đất thịt pha cát dày từ 1 -
2m có hệ số thấm K = A.10-3 A.10-5 cm/s tạo thành một màng phủ ngăn nước tốt.
Chung quanh Hồ là những ngọn đồi có lớp phủ bằng đất thịt pha sét lẫn cuội sỏi, hệ
số thấm K = A.10- 4 A.10-6 cm/s. Nói chung những tầng phủ của thềm cống, sườn
đồi đều có khả năng giữ nước. Riêng ở vùng tuyến có thể mất nước từ nền đập từ
thượng lưu về hạ lưu dốc theo lớp mềm yếu và tầng cuội sỏi ở bên dưới.
c. Khí tượng thủy văn công trình
- Nhiệt độ: Trạm Tân cương quan trắc nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước từ năm 1961. Kết quả quan trắc cho thấy, nhiệt độ không khí đo được lớn nhất là 340, nhỏ nhất là 50 và bình quân là 2107. Nhiệt độ nước đo được lớn nhất là 3408, nhỏ nhất là 1205 và bình quân là 240.
Nhiệt độ không khí và nước quan trắc ở trạm Tân cương, phân bố hàng tháng
theo bảng 3.1.
Bảng 3.1: Nhiệt độ trạm Tân Cương
Đối
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
tượng
Loại
T.bình
13,6 15,8 18,7 22,7 25,4 27,0 27,2 27,0 25,5 23,2 19,6
Không
Max
24,0 28,8 27,6 30,5 33,5 34,0 32,9 32,0 30,4 28,6 29,6
khí
Min
3,0
8,7
6,9
14,2 18,5 20,9 23,3 23,5 20,0 17,4 11,1
T.bình
17,5 18,5 20,6 23,6 27,4 28,0 28,8 28,7 27,5 25,4 22,3
Nước
Max
24,8 26,8 28,8 32,2 33,4 32,4 34,0 34,8 31,6 30,0
20,
Min
12,5 13,0 13,5 18,0 20,0 23,6 25,4 19,4 24,1 20,2 17,0
Đơn vị : oC
39
- Độ ẩm : Trạm Thái nguyên có độ ẩm đo được từ năm 1959. Độ ẩm tương đối
trung bình năm là 24,5%. Độ ẩm tương đối cao nhất là 100% có thể rơi vào các
tháng trong năm. Độ ẩm tương đối nhỏ nhất là 16% xuất hiện tháng 12/1962. Độ ẩm
tương đội bình quân là 82%. Độ ẩm tương đối và tuyệt đối phân bố theo các tháng,
trình bày ở bảng 3.2 .
Bảng 3.2: Độ ẩm trạm Thái nguyên.
Đơn vị: %
Đối Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 tượng
Độ ẩm T.bình 13,9 16,5 20,4 26,0 28,7 31,3 32,2 32,1 29,7 25,1 20,4 tuyệt năm đối
Độ ẩm T.bình 84 77 82 86 86 81 82 84 85 82 80 Cao tương 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100 nhất đối
Thấp 22 30 30 27 26 28 40 38 37 32 16 nhất
- Gió: Về chế độ gió của vùng nghiên cứu gồm mùa đông gió thường thổi tập trung
theo hai hướng: Hướng Đông Bắc hay Bắc và hướng Đông hay Đông Nam. Trong
nửa đầu mùa Đông, các hướng Đông Bắc và Bắc có trội hơn một chút, nhưng từ
tháng hai trở đi, các hướng Đông Nam và Nam. Riêng hai hướng này chiếm tần suất
60 – 70%. Chỉ thỉnh thoảng mới xuất hiện các hướng Bắc và Tây. Trên địa hình
bằng phẳng của vùng đồng bằng có tốc độ gió khá lớn, trung bình đạt tới 2,5 m/s,
vùng trung du giảm xuống còn 1 - 1,5 m/s.
Tốc độ gió mạnh nhất thường xảy ra vào mùa hạ, khi có giông bão. Tốc độ
gió bão có thể đạt tới 30 – 35 m/s trong đất liền. Mùa đông khi có gió mùa tràn
về, gió giật có thể đạt tới 20 m/s. Một số đặc trưng về gió vùng nghiên cứu thống
kê bảng 3.3.
40
Bảng 3.3: Một số đặc trưng của gió
Thái Đặc trưng Hà Nội Phủ Liễu Nguyên
ĐB ( 24 ) ĐB ( 29 ) Đ ( 28 ) Hướng gió thịnh hành tháng I và tần suất (% ) ĐN ( 23 ) ĐN ( 28 ) ĐB ( 25 )
N ( 36 ) Hướng gió thịnh hành tháng VII và tần suất (%) ĐN ( 45 ) ĐN ( 45 ) ĐN ( 27) Tốc độ trung bình ( m/s ) 1,9 2,4 3,8 Tốc độ gió cực đại ( m/s ) 24 34 50
- Mưa: Chế độ mưa lưu vực Sông Công phụ thuộc vào gió mùa và địa hình. Về mùa
nóng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông nam thường có mưa rào, lưu vực Sông
Công nằm song song với dãy núi Tam Đảo nên lượng mưa hàng năm khá lớn.
Lượng mưa trong lưu vực phân bố tầng dẫn từ thượng nguồn về hạ du. Lượng mưa
toàn lưu vực hàng năm thay đổi từ 1.350 mm đến 2.500 mm.
Trong lưu vực có 5 trạm đo mưa mới thành lập từ năm 1961 là: Diêm Mạc,
Minh Tiến,Yên Lãng, Ký Phú. Riêng trạm Đại Từ có từ năm 1959. Ngoài ra còn có
trạm Phú Bình đo từ năm 1961 nhưng đến 1963 thì bỏ. Trạm Núi Hồng và trạm Tân
Cương chỉ đo mấy tháng mùa mưa.
Lượng mưa tháng của trạm Diêm Mạc và Minh Tiến đo từ năm 1960 được tương
quan với mưa tháng. Chợ Chu có tài liệu có tài liệu từ năm 1916 – 1943.
Lượng mưa tháng của trạm Diêm Mạc và Minh Tiến đo từ năm 1960 được tương
quan với mưa tháng. Chợ Chu có tài liệu có tài liệu từ năm 1916 - 1943 và sau năm
1959. Lượng mưa tháng của trạm Yên Lãng, Đại Từ, Ký Phú đo từ năm 1960 được
tương quan với mưa tháng. Thái nguyên có tài liệu từ năm 1915 – 1925, 1931-1944
và sau năm 1950. Tương quan mưa tháng cũng không được chặt chẽ lắm nhưng vẫn
tốt hơn tương quan mưa năm giữa các trạm.
41
Trung
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
bình
Mưa
12,3 18,4 24,6 129,7 120,8 238,8 523,3 395,7 207,1 154,1 200,1 5,3 169,2
(mm)
Bảng 3.4 : Lượng mưa thực đo của trạm Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên có nhiều sông lớn chảy qua, phía Tây có Sông Công bắt
nguồn từ Núi Hồng huyện Định Hoá chảy qua Đại Từ, Đồng Hỷ, Phổ Yên và gặp Sông Cầu tại Đa Phúc dài 95 km, có lưu vực 951 km2. Phía Đông có Sông Cầu bắt
nguồn từ Bắc Kạn chảy theo hướng bắc nam. Có diện tích lưu vực đền ngã ba Sông Cầu và Sông Thương là 6836 km2 , dài 275 km.
Ngoài ra trong nội địa vùng Thái Nguyên còn có những sông và suối khác như
sông Rong ở vùng núi Võ Nhai chảy qua các xã Phú Thượng, Tràng Xá, Dân Tiến
và đổ về Sông Thương. Sông Chợ Chu, Thần Xa, Giang Tiên, Mỏ Bạch, Bình
Nham ở Ký Phú, suối Mi ruôn nẫn ở Phúc Xuân, Ngòi Nà ở Thành Công là những
nhánh của Sông Công.
Sông Công là phụ lưu lớn nhất trong số 26 phụ lưu nhập vào sông Cầu, chạy dọc
theo chân núi Tam Đảo dòng sông bị ngăn lại ở huyện Đại Từ tạo thành hồ Núi
Cốc. Sông Công có chiều dài từ thượng nguồn đến hồ Núi Cốc dài 54 km và đến cửa nhập lưu với sông Cầu là 95 km, có tổng diện tích lưu vực là 951 km2, tính đến đập Núi Cốc là 535 km2. Độ cao bình quân lưu vực là 224 m, độ dốc bình quân lưu
vực là 27,3%0, mật độ lưới sông trên lưu vực là 0,53, độ dốc bình quân lòng sông là
1,62%.
Dòng chảy chính từ đầu nguồn đến trạm thuỷ văn Núi Hồng chảy theo hướng
Bắc – Nam, sau đó đỏi hướng Tây Bắc - Đông Nam ở đoạn cửa ra sông Công. Hiện
trạng tài nguyên nước nước mặt, Lưu vực Sông Công nằm ở miền giầu nước,
moduyn dòng chảy năm trung bình năm từ 20 30 l/s/km2. Sông này dài 96 km.
Diện tích lưu vực 951 km, cao trung bình 224 m, độ dốc trung bình 27,3%, mật độ sông suối 1,20 km/km. Tổng lượng nước 0,794 km3 ứng với lưu lượng trung bình
42
năm 25m3/s. Mùa lũ chiếm 74,7% lượng nước cả năm; tháng 8 có lượng dòng chảy
lớn nhất chiếm 19,30% lượng nước cả năm; tháng cạn kiệt nhất chiếm 1,8% lượng
nước cả năm. Đối với lưu vực sông Công vấn đề cần quan tâm là sự phân bố lượng
nước không đều trong năm. Chế độ thuỷ văn trên lưu vực được chia làm 2 mùa rõ
rệt là mùa cạn và mùa lũ.
Cũng như các sông suối phía Bắc, mùa lũ trên lưu vực sông Công bắt đầu từ
tháng VI và kết thúc vào tháng X, kéo dài 5 tháng. Có những năm lũ xuất hiện ngay
từ tháng V, số các trận lũ xảy ra liên tiếp nhiều nhất vào các tháng VI, VII, VIII và
IX, lũ lớn nhất thường xảy ra vào các tháng VII, VIII. Lưu lượng đỉnh lũ đạt giá trị
lớn nhất vào các năm 1965, 1979, 1971.
Mùa lũ cũng là mùa trùng với mùa mưa bão và thường xảy ra những trận mưa
lớn tới trên 100 mm/ngày. Do đó lũ lớn thường xảy ra cùng lúc trên các sông suối
trong lưu vực vào các tháng VII, VIII. Vào mùa lũ do ảnh hưởng của mưa bão lớn,
nên lũ thường tập trung nhanh và rút nhanh. Những con lũ thường là lũ đơn và cho
dòng chảy lớn nhất. Số lượng trận lũ xảy ra trong năm hoàn toàn phụ thuộc vào
mưa, năm lũ nhiều thường từ 10 – 11 trận, năm ít cũng phải 3 – 4 trận. Tổng lượng
dòng chảy của các tháng mùa lũ chiếm từ 60% đến trên 87%, tháng VIII là tháng có
lượng dòng chảy lớn nhất, chiếm trên 20% lượng dòng chảy trong năm.
Do đặc điểm lưu vực và chế độ mưa nên dòng chảy trên Sông Công mang đặc
tính của sông miền núi rõ rệt nhất là dòng chảt lũ, dòng chảy lũ có lượng lớn,
moduyn dòng chảy mùa lũ có trị số từ 50 60 l/s/km2. Dòng chảy lũ trên Sông Công
khá ác liệt trên nhiều phụ lưu nhỏ, tính chất lũ thể hiện rõ rệt. Đường quá trình lũ
thường nhọn, thời gian lũ lên nhanh ( 724h ) và xuống cũng nhanh, thường gấp 2 3 lần lũ lên. Cường xuất lũ lên trung bình 50m3/s trong một giờ, trị số lớn nhất đạt
600 700m3/s. Xét về đặc trưng mực nước trong hồ Núi Cốc cho thấy cường xuất
khi lũ thường khoảng 160/cm/giờ, biên độ mực nước giao động từ 6 6,5 m. Thời
gian lũ tồn tại trong hồ khoảng 1 3 ngày, nhưng chân lũ thường kéo dài tới 5 7
ngày. Trong thực tế quan trắc cho thấy đỉnh lũ thường xuất hiện chậm hơn đỉnh
mưa từ 12 24 giờ. Lượng lũ trung bình hồ chứa khoảng 30.106 m3.
43
Chất lượng nước sông Công là sông lớn thứ hai trong lưu vực, chảy qua địa
phận Thái Nguyên và nhập lưu với sông Cầu tại Đa Phúc, nước sông cũng bị ô
nhiễm hữu cơ, dầu mỡ, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Đây là khu vực chịu ảnh
hưởng bởi hoạt động của các thuyền du lịch trên hồ Núi Cốc, tàu thuyền khai thác
cát trên sông, nước thải của tình trạng khai thác khoáng sản và của KCN Sông
Công. Khu vực đầu nguồn mới ở mức độ nhẹ do nước thải của sinh hoạt, chăn nuôi,
nhưng đoạn cuối do bị ảnh hưởng của nước thải khu công nghiệp Sông Công nên
nguồn nước bị ô nhiễm cục bộ, có đoạn không đạt nước loại A.
- Tình hình khai thác và sử dụng tài nguyên nước ở tỉnh Thái Nguyên: Nhìn chung
việc khai thác và sử dụng nguồn nước trong vùng là khá tốt, hiện tại toàn tỉnh có
898 hồ, đập các loại trữ nước phục vụ cho tưới cây nông nghiệp và công nghiệp,
247 trạm bơm với 632 máy có công suất 1000 8000 m3/giờ và khoảng 2.707 km
kênh các cấp đã được kiên cố hóa 1264 km đảm bảo cấp nước cho 29.855 ha lúa 2
vụ và cây vụ đông.
Nguồn nước cấp cho sinh hoạt cũng được khai thác triệt để từ nguồn nước mặt,
nước ngầm để phục vụ cho các đô thị và sinh hoạt nông thôn, khu công nghiệp hàng
năm từ 20 30 triệu m3/năm.
Hiện tại trong vùng đã có 137 hệ thống cấp nước tập trung 270.000 giếng đào,
79.000 giếng khoan được xây dựng để phục vụ cấp nước sinh hoạt cho 62% vùng
dân cư nông thôn.
- Bốc hơi : Trong lưu vực có trạm đo bốc hơi Đại Từ đo bằng piche từ
tháng3/1961 đến tháng 3/1966 nhưng tài liệu không được đầy đủ, kết quả đo đạc
không được tốt lắm, nên tương quan bốc hơi tháng của Đại Từ và Thái Nguyên
nhận được không tốt.
Trạm Thái Nguyên đo lượng bốc hơi bằng piche từ tháng 1/1959 và từ năm 1961
đo bằng rru 5000.
Về bốc hơi mặt nước của Hồ Núi cốc được tính theo tài liệu đo bằng rru 5000
của trạm Thái Nguyên theo kết quả bảng 3.5.
44
Bảng 3-5 : Bốc hơi hàng năm của trạm Thái Nguyên
Tháng
5
6
7
8
9
10
11
12
1
2
3
4
Zmm
Piche 106,8 92,8
91,5
82,5
82,0
92,5
86,5 78,2 84,5 67,5 66,0 70,1
Zrru
130,7 117,0 115,7 106,8 106,4 116,5 81,2 74,5 74,5 63,8 64,8 61,8
Đơn vị : mm
2. Tình hình sử dụng tài nguyên đất
a. Tài nguyên đất
Tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích là 352.621,5 ha, cơ cấu và sử dụng đất đai của
tỉnh bao gồm các loại như ở bảng 3.6:
Bảng 3.6: Cơ cấu sử dụng đất
TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN
Đơn vị : ha
352.621,50 100,00%
I. Đất nông nghiệp
78,08% 28,20% 16,94% 11,26% 48,69% 26,14% 14,44% 8,11%
1,15%
1 Đất sản xuất nông nghiệp a Đất trồng cây hàng năm b Đất trồng cây lâu năm 2 Đất lâm nghiệp có rừng a Rừng sản xuất b Rừng phòng hộ c Rừng đặc dụng 3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 4 Đất làm muối 5 Đất nông nghiệp khác 275.310,11 99.440,69 59.738,54 39.702,15 171.688,31 92.181,57 50.902,61 28.604,13 4.044,25 - 136,86 - 0,04%
II. Đất phi nông nghiệp
1 Đất ở 2 Đất chuyên dùng 42.324,09 10.597,87 20.416,61 12,00% 3,01% 5,79%
II. Đất chưa sử dụng
- Đất bằng chưa sử dụng - Đất đồi núi chưa sử dụng - Núi đá không có rừng cây 34.987,30 1.841,21 22.747,26 10.398,83 9,92% 0,52% 6,45% 2,95%
Ghi chú : Nguồn niên giám thống kê năm 2009
45
Đất đồi núi chiếm 48,4% diện tích tự nhiên, có độ cao trên 200m, hình thành
do sự phong hóa trên các đá mácma, đá biến chất và trầm tích. Đất đồi núi thích hợp
cho việc phát triển lâm nghiệp, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng kinh
doanh nhưng cũng thích hợp để trồng các cây ăn quả, một phần cây lương thực cho
nhân dân vùng cao.
Đất đồi chiếm 31,4% diện tích tự nhiên chủ yếu hình thành trên cát kết, bột
kết, phiến sét và một phần phù sa cổ kiến tạo. Đây là vùng đất xen giữa nông và lâm
nghiệp. Đất đồi tại một số vùng như Đại Từ, Phú Lương... ở từ độ cao 150 m đến
200 m có độ dốc từ 50 đến 200 phù hợp đối với cây công nghiệp và cây ăn quả lâu
năm, đặc biệt là cây chè là một cây đặc sản có giá trị kinh tế cao của tỉnh Thái
Nguyên. .
Đất ruộng chiếm 12,4% diện tích đất tự nhiên, trong đó một phần phân bố dọc theo
các con suối, rải rác, không tập trung, chịu sự tác động lớn của chế độ thủy văn
khắc nghiệt (lũ đột ngột, hạn hán...) khó khăn cho việc canh tác.
b. Thảm thực vật
Trước năm 1980 rừng khu vực hồ Núi cốc có kiểu “ rừng kín thường xanh “ với
các quần xã thực vật ưu hợp, tiền sinh của kiểu rừng này bao phủ. Là hệ sinh thái
rừng nhiệt đới tự nhiên rất đa dạng, phong phú về chủng loại, có giá trị cao về kinh
tế và phòng hộ.
Giai đoạn năm 2000 đến nay kiểu rừng mô tả ở trên đã bị phá huỷ hoàn toàn do
khai thác lạm dụng để lấy gỗ và lấy đất sản xuất nông nghiệp. Những vùng khoanh
nuôi bảo vệ chặt chẽ đang dần được hồi phục. Đến nay rừng tại vùng dự án có
những loài sau ;
- Rừng có nguồn gốc tự nhiên:
Rừng có nguồn gốc tự nhiên gồm các loại sau:
+ Đất rừng loại IA : Bao gồm các trảng cỏ có ít cây bụi (ưu hợp cỏ, chè vè + ít cây
bụi sau khi khai thác và trồng trọt) phân bố tại các đỉnh đồi thấp và quanh các bãi
chăn thả gia súc gần các làng bản và nương rẫy bỏ hoang vùng đất cằn cỗi tại các xã
Phúc Xuân, Phúc Trìu Thành phố Thái Nguyên (31,7 ha). Vùng 6 xã Lục Ba, Kỳ
Phú, Mỹ Yên, Vạn Thọ, Vạn Yên, Tân Thái huyện đại Từ (287,4 ha)
46
Loại Trảng cỏ này có độ che phủ cao, nên có khả năng bảo vệ đất tốt, nhưng
không có tầng cây gỗ lớn nên giá trị kinh tế sinh thái cảnh quan thấp.
Loại Trảng cỏ này có độ che phủ cao, nên có khả năng bảo vệ đất tốt, nhưng
không có tầng cây gỗ lớn nên giá trị kinh tế sinh thái cảnh quan thấp.
+ Đất rừng loại IB : Bao gồm các trảng cây bụi xen cỏ, lác đác có gốc cây lớn còn
sót lại (ưu hợp Thẩu tấu, Thành ngạnh, Ba soi, Bồ cu vẽ + nhiều cây bụi sau khai
thác và trồng trọt khác). Tổng diện tích khoảng 664 ha, phân bố tại Phúc Xuân,
Phúc Trìu Thành Phố Thái Nguyên (4,5 ha), nằm rải rác trong 6 xã Lục Ba, Kỳ Phú,
Mỹ Yên, Vạn Thọ, Vạn Yên, Tân Thái huyện đại Từ (472,78 ha) và ở xã Phúc Tân
huyện Phổ Yên 186,8 ha.
Loại IB thường có trên sườn đỉnh các đồi núi thấp đã bị làm nương bỏ lại và
quanh các làng bản đang bị chặt phá lấy củi đun thường xuyên.
Loại rừng này có giá trị kinh tế thấp, nếu khoanh nuôi và bảo vệ tốt sẽ rất
nhanh tái sinh thành rừng non thứ sinh vì thành phần cây gỗ tương đối phong phú.
- Đất rừng loại IC : Bao gồm các trảng cây bụi xen tre nứa nhỏ, lác đác có cây lớn
còn sót lại và đã có những cây gỗ tái sinh, nhưng số lượng không nhiều, chưa khép
tán. Loại đất rừng này có tổng diện tích khoảng 203,39 ha, phân bố rải rác ở các đồi
thấp chủ yếu quanh chân núi Tam Đảo hay ven các con suối, ven các hồ nước, chủ
yếu thuộc địa phận của 6 xã huyện Đại Từ.
- Đặc điểm thực vật của loại này là ngoài các loài Tre, Giang, Nứa phân bố khắp
trên các diện tích, còn gặp một số loại cây gỗ mọc rải rác trong quần xã như Ba soi,
Thẩu tấu (2loài ), Bưởi bung, Sảng nhung, Sẻn gai, Dẻ (3 loài), Re (7-8 loài), Sồi (2
loài), Nghát, Trẩu, Dền, Cò ke, Bưởi bung, Sắn thuyền, Thằn mát và một số cây
khác. Mật độ các loài cây gỗ thấp, khoảng 200 – 300 cây/ha, có sức sống tương đối
khá. Tre nứa ở trạng thái nhỏ, khá dầy đặc, gây nhiều cản trở cho phát triển cây gỗ.
- Loại này giá trị phòng hộ và giá trị kinh tế sinh thái, cảnh quan thấp mặc dù thực
bì dày, cây có sức sống khá và thành phần cây gỗ tương đối phong phú.
- Rừng phục hồi IIA : (ưu hợp Dẻ gai,+ Kháo + Lim + Trám + Ngát, + Dền + Bứa +
Máu chó sau khai thác). Tổng diện tích nhóm thực vật này khoảng 339,3 ha, phân
47
bố ở các xã Tân Thái, Mỹ Yên, Vạn Thọ, Ký Phú, Lục Ba của huyện Đại Từ (253,5
ha). Xã Phúc Tân huyện Phổ Yên (31ha), còn lại nằm trên địa bàn thành phố Thái
Nguyên 54,8ha.
- Đặc điểm thực vật nhóm này là loại hình rừng non thứ sinh, mang nhiều nét của
rừng thứ sinh thường gặp ở vùng núi thấp của tỉnh Bắc Thái cũ và các phụ cận.
Nhóm thực vật này có cấu trúc thẳng đứng, quần xã thực vật chia làm 2 tầng rõ rệt.
Tầng trên là quần thể cây cao khoảng 7-10 m, tán giao nhau tạo thành vòm liên tục,
sự phân hoá chiều cao trong quần thụ không rõ rệt lắm, song sự phân hoá về đường
kính khá mạnh. Mật độ cây trong quần thụ đạt tới 3500- 400 cây/ha, thành phần loài
cũng rất phong phú, có khoảng 60 loài cây gỗ, nhiều nhất là loài thuộc họ Lauraceae
(12loài), họ Moraceae (7loài), họ Fagaceae (5 loài). Ở đây gặp cả những loài ưa
sáng tạm cư điển hình như Màng Tang, Ba Soi, Ba Bét, Bùng Bục và những loài
cây định cư có tầm vóc lớn, có đời sống dài như Lim xanh. Tại đây còn gặp nhiều
loài gỗ quý khác như Giổi, Chai, Sến mật, Đinh thối, Kè đuôi giông, Xoan nhừ, Chò
nâu, Re lá nhỏ vv.
Đây là kiểu rừng có giá trị phòng hộ tốt và có ý nghĩa khoa học cao, là mẫu
để lựa chọn các loài để phục hồi lại rừng nhiệt đới đã mất do khai thác quá mức.
Cần được khoanh nuôi bảo vệ và có biện pháp tra dặm vào các chỗ trống các loại
cây bản địa.
- Rừng có nguồn gốc nhân tạo: Thường là rừng trồng Keo lá Tràm và Keo
tai tượng. Đây là 2 loại rừng trồng có kết cấu tầng rừng khá giống nhau và các đặc
điểm sinh học khá đồng nhất. Tổng diện tích 2 loài rừng trồng này khoảng 2684 ha,
thành phố Thái Nguyên (2 xã) có khoảng 755,62 ha, vùng 6 xã huyện Đại Từ chiếm
1147,58 ha, huyện Phổ Yên (1 xã) khoảng 780,78 ha.
Rừng keo phát triển tương đối tốt, cao từ 10 – 15 m, đường kính đạt 20 – 25 cm,
khép tán, có sức sống tương đối tốt. Hai loại rừng keo này thường phân bố tại các vị
trí chân, sườn, đỉnh đồi trong khu vực dự án. Chúng sinh trưởng tương đối đồng đều
về chất lượng, mật độ khoảng 800 – 1000 cây/ha. Dưới tán rừng Keo trồng là các
loài thực vật tự nhiên gồm các loại cây cây gỗ tự nhiên tái sinh, tuy nhiều loài
48
nhưng số lượng cá thể không lớn, khoảng 2000 cây/ha, phân bố không đều tạo
thành các đám quần thụ, có chiều cao trung bình 3-4 m tạo thành tầng cây gỗ thứ 2
dưới tán rừng Keo trồng.
+ Rừng trồng Bạch Đàn trắng có tổng diện tích khoảng 1000ha, phân bố ở
các vị trí chân, sườn đồi. Tập trung nhiều ở phía Đông - Bắc, Đông và Tây Nam của
hồ Núi Cốc. Trong đó vùng 6 xã của huyện Đại Từ chiếm khoảng 600 ha, huyện
Phổ Yên khoảng 200 ha, 2 xã của thành phố Thái Nguyên khoảng 200 ha.
+ Đặc điểm thực vật của rừng trồng Bạch Đàn trắng là có tầng cây cao, mật
độ không đồng đều khoảng 600-800 cây/ha. Tầng cây tái sinh dưới tán Bạch đàn
trắng gồm chủ yếu là Bạch đàn tái sinh chồi và một số loài lá rộng còn có gốc mẹ
sót lại như Cà lồ, Dẻ gai ấn độ, Sồi hồng, Dẻ cau, Re hương, Re gừng, Vải thiều
rừng, Trám, Gội tẻ, Trâm tía, lác đác có các loài quý như Lim xanh, Táu mặt quỷ,
Lát hoa, Lát xoan.
Rừng Bạch đàn có độ khép kín thấp, đất đai chưa được cải thiện nhiều, tầng
cây bụi phát triển không đều nên giá trị phòng hộ kém.
Đánh giá về hiện trạng tài nguyên rừng thảm phủ rừng : Do hậu quả của việc khai
thác rừng quá mức trong những năm trước đây nên thảm phủ rừng bị giảm sút
nghiêm trọng. Một số rừng có nguồn gốc tự nhiên được khoanh nuôi, bảo vệ đang
phát triển nhưng tỷ lệ diện tích rừng có ý nghĩa để phòng hộ lại có diện tích rất nhỏ.
Trong các kiểu rừng khoanh nuôi, chỉ có kiểu rừng phục hồi IIA là có giá trị tốt để
phòng hộ. Nhưng diện tích của kiểu rừng này mới được khoảng 339,3 ha, còn lại
các diện tích rừng phục hồi khác chủ yếu là các trảng cỏ và cây bụi ý nghĩa phòng
hộ và kinh tế đều thấp.
Các loại rừng trồng là cây Keo và Bạch đàn thì rừng Keo tai tượng và Keo lá
tràm là 2 loại cho giá trị phòng hộ tốt. Nhưng tuổi thọ thấp, chỉ khoảng 10 năm là
cây Keo bước vào tuổi rỗng ruột, cây dễ đổ, phải khai thác. Mặt khác do đặc điẻm
của cây Keo là rừng đơn loài do đó kết cấu rừng chỉ có một tầng nên tính ổn định
trong phòng hộ không cao. Như vậy hiện tại thảm thực vật rừng phòng hộ có diện
tích đạt thấp và độ che phủ không cao, ảnh hưởng lớn đến việc giữ nước của hồ.
49
3.1.2. Tình hình dân sinh - kinh tế - xã hội
1. Thành phố Thái Nguyên
Tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố Thái Nguyên là 177,15 km2, dân
số 244.160 người, trong đó tỉ lệ Nam/Nữ là xấp xỉ bằng 1.
Thành phố Thái Nguyên là đô thị loại II, trung tâm chính trị, kinh tế, văn
hóa, giáo dục, KHKT, y tế, du lịch, dịch vụ của tỉnh Thái Nguyên, trung tâm của
vùng trung du, miền núi Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 80km.
Thành phố Thái Nguyên có khu du lịch Hồ Núi Cốc nổi tiếng với nhiều danh
lam thắng cảnh đẹp, có Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam mới được tổ chức
SIDA Thụy Điển tài trợ sửa chữa, nâng cấp, là nơi lưu giữ hầu hết các di sản mang
đậm bản sắc của các dân tộc Việt Nam, làng nghề chè Tân Cương nổi tiếng, đền thờ
Đội Cấn và 91 di tích lịch sử văn hoá khác.
Thành phố Thái Nguyên có 26 đơn vị hành chính (phường, xã), trong đó có
18 phường và 8 xã, với số dân hơn 290 nghìn người. Trên địa bàn thành phố có
đông đảo đội ngũ sinh viên, học sinh tốt nghiệp các trường Đại học, Cao đẳng,
Trung học chuyên nghiệp. Đây là nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng nhu cầu
phục vụ sự nghiệp phát triển của thành phố, của tỉnh và cả nước.
- Cấp điện: nguồn cung cấp điện cho thành phố Thái Nguyên hiện nay là
nguồn điện lưới quốc gia với hệ thống đường dây cao thế 110kV và 220kV
thông qua đường hạ thế xuống 35kV - 12kV - 6kV/380V/220V, tỉ lệ cung cấp
điện là 95%.
- Cấp nước: thành phố hiện có hai nhà máy nước là nhà máy nước Thái Nguyên và nhà máy nước Tích Lương với tổng công suất là 40.000m3/ng.đêm, đảm
bảo cung cấp nước sạch phục vụ cho sinh hoạt ở mức 100lít/người/ngày.
- Giao thông: Tổng diện tích đất dành để xây dựng đường giao thông trên địa
bàn là 1.305ha, chiếm 22% tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố.
- Thông tin liên lạc: Thành phố có 1 tổng đài điện tử và nhiều tổng đài
khu vực.
50
2. Thị xã Sông Công
Thị xã Sông Công có tổng diện tích đất tự nhiên là 83,68 km2, dân số là
49.447 người, trong đó Nam 25.730 người, Nữ 23.717 người. Thị xã Sông Công có
9 đơn vị hành chính, gồm 4 xã và 5 phường.
3. Huyện Phổ Yên
Huyện Phổ Yên có tổng diện tích đất tự nhiên là 256,77 km2, dân số 141.203
người, trong đó Nam là 70.621 người, Nữ là 70.582 người. Phổ Yên là huyện trung
du của tỉnh Thái Nguyên, có 18 đơn vị hành chính, gồm 15 xã và 3 thị trấn.
Phổ Yên giáp thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công về phía bắc, giáp
huyện Phú Bình về phía đông, huyện Đại Từ về phía tây, tỉnh Vĩnh Phúc về phía
Tây nam, tỉnh Bắc Giang về phía Đông nam và thành phố Hà Nội về phía nam.
Sản xuất nông, lâm nghiệp, đã có sự chuyển biến rõ rệt trong chuyển dịch cơ
cấu theo hướng sản xuất hàng hoá và tập trung vào các loại cây trồng và vật nuôi
mũi nhọn có giá trị kinh tế cao như phát triển cây chè, cây ăn quả, chăn nuôi lợn
ngoại, bò sữa.
Chương trình phát triển Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp đã có bước đột
phá trong việc thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp vào địa bàn.
Chương trình xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm được tiến hành
bằng biện pháp đầu tư vốn, khoa học kỹ thuật trợ giá giống cây con, hỗ trợ lãi suất
vay vốn cho các hộ chính sách và tập trung chỉ đạo giúp đỡ các hộ nghèo phát triển
sản xuất.
4. Huyện Phú Bình
Huyện Phú Bình có tổng diện tích đất tự nhiên là 249,45 km2, dân số là
145.596 người, trong đó Nam 71.843 người, Nữ 73.753 người. Phú Bình là huyện
trung du của tỉnh Thái Nguyên, có 21 đơn vị hành chính, gồm 20 xã và 1 thị trấn.
Phú Bình giáp huyện Đồng Hỷ về phía Bắc; giáp thành phố Thái Nguyên và
huyện Phổ Yên về phía Tây, phía Đông và Nam giáp tỉnh Bắc Giang (các huyện
Hiệp Hòa, Tân Yên và Yên Thế).
51
3.2. Đánh giá hiệu quả quản lý hệ thống thủy nông hồ Núi Cốc
Theo báo cáo đánh giá hàng năm năm 2009 của Công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên khai thác thuỷ lợi Thái Nguyên tiền thân là Công ty khai thác thuỷ
lợi Thái Nguyên, hầu hết các hạng mục công trình thủy lợi được xây dựng và đưa
vào sử dụng đã nhiều năm nên đều đã bị xuống cấp. Mặc dù trong những năm qua
một số tuyến kênh và công trình đầu mối được kiên cố hoá, các công trình khác
chưa được đầu tư đồng bộ nên hiệu quả tưới còn thấp so với thiết kế. Hồ chứa được
xây dựng từ những năm 80 của thế kỷ trước hầu hết mái thượng, hạ lưu đập chính
đều là mái đất hoặc có mái thượng lưu được lát đá khan và cống lấy nước dưới đập
được xây dựng theo kiểu cống bậc thang, thân cống được lắp ghép bằng ống cống
bê tông cốt thép. Đường quản lý và ứng cứu các công trình hầu hết đều là đường thi
công trước đây, hiện còn bằng đất và bị lấn chiếm nhiều gây rất nhiều khó khăn
nhất là vào mùa mưa bão. Các Trạm quản lý khai thác ở huyện thường xa công trình
do vậy gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình quản lý công trình cũng như điều
phối nước phục vụ sản xuất.
- Chính quyền ở một số cơ sở chưa thực sự quan tâm đến công tác quản lý,
khai thác công trình thuỷ lợi. Vẫn còn tư tưởng bao cấp về quản lý và tu sửa công
trình thủy lợi ở Chính quyền cơ sở và trong mỗi người dân nhất là việc nạo vét duy
tu kênh cấp 2,3 và kênh nội đồng. Các đơn vị quản lý công trình cơ sở tổ đội thủy
nông, HTX dịch vụ nước chưa thực sự được chính quyền địa phương quan tâm,
chưa có tổ chức chặt chẽ, cơ chế tài chính cho họat động chưa hợp lý nên người lao
động không gắn bó với công việc.
- Tổ chức tổ, đội thuỷ nông chưa đầy đủ, các tổ đội hoạt động chưa có chiều
sâu nên hiệu quả chưa cao.
- Ý thức của người dân trong việc bảo vệ hành lang công trình chưa cao, hiện
tượng vi phạm hành lang công trình vẫn xảy ra ở một số địa phương nhất là các đơn
vị khai thác du lịch lòng hồ Núi Cốc.
- Một số đơn vị sử dụng nước chưa chấp hành quy định mức thu dịch vụ
tưới, tiêu, tiền nước theo Nghị định số 115/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 của
Chính Phủ sửa đổi, bổ xung một số điều của NĐ số 143/2003/NĐ-CP và Thông tư
52
số 11/2009/TT-BTC ngày 21/1/2009 V/v hướng dẫn đặt hàng, giao kế hoạch đối với
các đơn vị làm nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thuỷ lợi.
1. Công tác Quản lý, vận hành hồ Núi Cốc
Bước vào năm 2009 mùa mưa đến sớm và kết thúc sớm hơn so với mọi năm
gây nhiều khó khăn, các đơn vị chức năng có liên quan đã nỗ lực quản lý điều hành
đảm bảo an toàn công trình an toàn tuyệt đối toàn bộ các công trình, không để xẩy
ra bất kỳ sự cố đáng tiếc nào.
Do có sự chủ động vận hành, điều tiết có chỉ đạo sát sao và kỹ thuật cao các
công trình đều phát huy tối đa hiệu quả, trữ và điều tiết nước phục vụ sản xuất nông
nghiệp tốt, kịp thời.
Trong năm 2009 trên địa bàn toàn không để hạn hán xảy ra dù chỉ diện tích
nhỏ, các yêu cầu dùng nước khác cũng được đáp ứng kịp thời và đầy đủ.
Hồ chứa nước đã được xây dựng phương án phòng chống lụt bão, triển khai
tập dượt, tổ chức thường trực quản lý bảo vệ trong năm và được đặc biệt quan tâm
chỉ đạo trong mùa mưa lũ; kiểm tra công trình, đánh giá số, chất lượng vật tư PCLB
và đề xuất phương án sửa chữa công trình, bổ sung, thay thế vật tư phòng chống lụt
bão để đảm bảo sẵn sàng xử lý ngay từ giờ đầu các tình huống sự cố công trình có
thể xảy ra.
Thường xuyên kiểm tra ngăn chặn và phát hiện các vụ vi phạm hành lang bảo
vệ công trình nhất là hành lang lòng hồ, đập đất, hành lang bảo vệ kênh mương. Đã
phối hợp với chính quyền cơ sở ngăn chặn nhiều vụ có dấu hiệu vi phạm và kết hợp
với thanh tra ngành giải quyết được nhiều vụ vi phạm còn tồn đọng, điển hình là vụ
vi phạm của Công ty cổ phần khách sạn du lịch công đoàn hồ Núi Cốc.
Thực hiện việc thanh lý hợp đồng sử dụng nước năm 2008 và triển khai ký kết
hợp đồng sử dụng nước năm 2009 đến các đơn vị có liên quan như: Công ty cổ
phần khách sạn du lịch hồ Núi Cốc, các hộ gia đình có nhu cầu lấy nước để chăn
nuôi thủy sản hoặc trực tiếp chăn nuôi thủy sản trong những hồ nhỏ do Công ty
quản lý.
53
2. Tổ chức sản xuất, kinh doanh.
Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, chủ động trong việc thực hiện các
dự án: đến năm 2009 công ty đã thực hiện các dự án kiên cố, sửa chữa, nâng cấp các
công trình thuỷ lợi bằng các nguồn vốn khác nhau. Giá trị khối lượng hoàn thành
trong năm. Các dự án sửa chữa, nâng cấp nhằm đảm bảo an toàn hồ đập hơn 75 tỷ
đồng, công tác sửa chữa thường xuyên năm 2009 đã tập trung để xử lý trượt sạt cục
bộ mái ngoài kênh dẫn (đoạn từ K12+670 đến K17+460). Để đảm bảo an toàn kênh
dẫn, đáp ứng yêu cầu dẫn nước, cấp nước liên tục, nhất là khi có hạn hán xảy ra.
Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, có thể tiến tới hoàn toàn chủ động trong công
tác quản lý vận hành, khai thác có hiệu quả và an toàn tuyệt đối công trình việc sửa
chữa, nâng cấp các công trình thuỷ lợi đặc biệt là đối với các hồ chứa để chủ động
đảm bảo an toàn hồ đập trong những năm tới cũng như lâu dài là vấn đề cấp bách.
Cần mạnh dạn chủ động xây dựng kế hoạch, tự ứng trước kinh phí lập các dự án
đầu tư: Sửa chữa, nâng cấp hồ chứa. Để có nguồn vốn đầu tư thực hiện các dự án
sửa chữa, nâng cấp công trình theo kế hoạch, cần tận dụng triệt để các kinh phí đầu
tư cho nông nghiệp của UBND tỉnh và các Bộ, Ngành liện quan đề nghị được đầu
tư và đã được chấp thuận đầu tư nhiều dự án.
Ngoài kết quả đạt được trong việc chủ động lập kế hoạch lập các dự án đầu tư,
liên hệ nguồn vốn đầu tư, thực hiện tốt công tác quản lý dự án đầu tư, cần thưc hiện
tốt nhiệm vụ từ khâu lập kế hoạch, lập hồ sơ thiết kế, trình duyệt và tổ chức thi
công, tổ chức giám sát, nghiệm thu quyết toán các công trình sửa chữa thường
xuyên (chống xuống cấp). Do nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp hạn chế, để đáp
ứng cho duy tu, sửa chữa thường xuyên, cần chủ động liên hệ tìm nhiều nguồn vốn
khác nhau để giữ cấp công trình không để công trình xuống cấp. Năm 2009 đã thực
hiện tốt công tác duy tu sửa chữa bằng các nguồn vồn khác:
Các Hợp đồng tư vấn thiết kế, xây dựng, giám sát thi công các công trình được
triển khai và thực hiện đảm bảo đúng các quy định về xây dựng cơ bản, góp phần
tạo thêm việc làm cho đội xây dựng, giám sát thi công cho các trạm và nhiều
CBCNV khác. Từ đó nâng cao thu nhập cho đơn vị quản lý và vận hành, nộp ngân
sách nhà nước.
54
Tổ chức tốt công tác tích nước, trữ nước công trình hồ Núi Cốc. Hoàn thành
tốt nhiệm vụ cung cấp cho các nhu cầu dùng nước của tỉnh Thái Nguyên ngoài ra
còn cấp nước cho hệ thống thuỷ nông Sông Cầu.
Năm 2009, Công ty Cổ phần thuỷ điện hồ Núi Cốc công suất 2MW được
thành lập nhằm quản lý vận hành nhà máy thủy điện hồ Núi Cốc mang lại một
3. Những tồn tại.
nguồn thu đáng kể.
Tuy đã đạt được những thành tích trên song năm 2009, cũng còn một số tồn tại
đó là:
Công tác giải quyết, giải tỏa những vi phạm hành lang bảo vệ công trình có
lúc, có nơi chưa kịp thời và chưa dứt điểm.
Việc thu tiền nước của Công ty cổ phần khách sạn du lịch hồ Núi Cốc còn gặp
nhiều khó khăn.
Công tác phối hợp điều hành dẫn nước phục vụ sản xuất và kết hợp dẫn nước
với công tác thi công sửa chữa thường xuyên và các dự án sửa chữa, nâng cấp khác
còn chưa thật sự nhịp nhàng.
4. Biện pháp khắc phục
Làm tốt công tác quản lý, vận hành đảm bảo an toàn công trình trong mọi tình
huống trước diễn biến phức tạp và thất thường của thời tiết. Điều tiết, khai thác tốt
các công trình thực hiện hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu đã đạt được.
Chủ động xây dựng các phương án phòng chống lụt bão cho công trình, một
cách cụ thể. Đảm bảo tuyệt đối an toàn cho công trình không để bất ngờ khi lũ bão
xảy ra. Quản lý bảo dưỡng tốt thiết bị cơ khí, thiết bị điện.
Tích nước, trữ đủ, đảm bảo an toàn, đảm bảo qui trình và điều tiết nguồn nước
của hồ chứa một cách hợp lý, tiết kiệm để đảm bảo phục vụ nhu cầu của sản xuất
nông nghiệp và các yêu cầu dùng nước khác.
Làm tốt công tác tham mưu với các cấp và ngành trong lĩnh vực quản lý, khai
thác công trình thuỷ lợi, tháo gỡ khó khăn vướng mắc, củng cố và duy trì sự hoạt
55
động các tổ chức thủy nông cơ sở nhằm quản lý, bảo vệ và khai thác có hiệu quả hệ
thống các công trình thủy lợi đã xây dựng trên từng địa bàn.
Tăng cường kiểm tra, ngăn chặn kịp thời các hành vi lấn chiếm hành lang bảo
vệ công trình, hạn chế tối đa vụ việc phát sinh, phối hợp chặt chẽ với chính quyền
cơ sở để giải quyết các vụ việc còn tồn đọng.
Tiếp tục thực hiện cơ chế đặt hàng dịch vụ tưới tiêu do vậy công tác phục vụ
tưới, tiêu là nhiệm vụ chiến lược, phải chuẩn bị tốt, sẵn sàng lực lượng, kỹ thuật và
các phương tiện nhằm đảm bảo an toàn công trình để chủ động phục vụ sản xuất
nông nghiệp của hệ thống các công trình thuỷ lợi, yêu cầu phải có những bước đổi
mới trong công tác quản lý để đáp ứng được yêu cầu trên.
Tiếp tục thực hiện kế hoach lập dự án đâù tư sửa chữa, nâng cấp các công
trình đã xuống cấp. Kiến nghị UBND tỉnh và các bộ ngành đầu tư kinh phí thực
hiện dự án.
Sử dụng tốt nguồn vốn cấp bù Thuỷ lợi phí của Nhà nước để đảm bảo chủ
động giữ cấp công trình cũng như duy trì các hoạt động khác nhằm hoàn thành tốt
nhiệm vụ.
Thực hiện tốt cơ chế tài chính theo quy định của pháp lụât hiện hành.
Thực hiện tốt công tác sửa chữa chống xuống cấp các hạng mục công trình
theo kế hoạch, đảm bảo chất lượng xây dựng sửa chữa và thanh quyết toán đúng
quy định;
Triển khai thực hiện các dự án sửa chữa, nâng cấp các công trình được giao
theo đúng tiến độ kế hoạch đã đề ra; Quản lý các chi phí nguồn vốn đầu tư theo
đúng quy định hiện hành của Nhà nước;
Hoàn thành, đảm bảo chất lượng lập hồ sơ thiết kế xây dựng, gia cố, sửa chữa
các công trình theo đúng thời hạn đã ký với chủ đầu tư.
Thực hiện việc thanh lý và ký kết hợp đồng dùng nước với các khách hàng.
5. Những đề xuất kiến nghị.
Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các ngành, các đơn vị dùng nước cùng Công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác thuỷ lợi Thái Nguyên thống nhất mức
56
thu dịch vụ tưới, tiêu, tiền nước theo Nghị định số 115/2008/NĐ-CP ngày
14/11/2008 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của NĐ số 143/2003/NĐ-
CP và Thông tư số 11/2009/TT-BTC ngày 21/1/2009 V/v hướng dẫn đặt hàng, giao
kế hoạch đối với các đơn vị làm nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thuỷ lợi. Đề
nghị các huyện thành, thị xã thuộc vùng dự án quan tâm chỉ đạo củng cố và xây
dựng các tổ đội thuỷ nông, để công tác bảo vệ, duy tu sửa chữa, nạo vét kênh
mương cấp II, III và kênh mươmg nội đồng được thực hiện thương xuyên, kịp thời.
Công trình nào cũng có tổ đội thuỷ nông hoạt động có hiệu quả đáp ứng yêu cầu
dẫn và điều tiết nước tới mặt ruộng được nhanh chóng và đảm bảo.
- Xử lý kịp thời và dứt điểm đối với những hành vi vi phạm hành lang bảo vệ
công trình thuỷ lợi trên địa bàn.
Đề nghị được tăng nguồn vốn sửa chữa thường xuyên chống xuống cấp và giữ
cấp công trình hợp lý để chủ động sửa chữa nâng cấp công trình thủy lợi trong
phạm vi trực tiếp quản lý đồng bộ và chủ động hơn nhằm nâng cao chất lượng nước
phục vụ nông nghiệp của công trình và các nhu cầu dùng nước khác.
Đề nghị UBND tỉnh và các Bộ, Ngành quan tâm cấp vốn thực hiện các dự án
sửa chữa, nâng cấp công trình thuỷ đầu mối hồ chứa, đập dâng và hệ thống kênh
mương, công trình trên kênh để đảm bảo an toàn công trình và nâng cao hiêu quả
phục vụ tưới tiêu và các nhu cầu dùng nước ngày càng tăng. Từ đó góp phần phát
triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, ổn định an ninh, trật tự xã hội.
Tóm lại: Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thủy lợi Hồ Núi Cốc,
các khó khăn, thách thức và các đề xuất khắc phục của cơ quan quản lý mới chỉ căn
cứ theo những nhiệm vụ định trước đề ra, việc đánh giá các chỉ tiêu kỹ thuật về hiệu
quả sử dụng tài nguyên nước của công trình, tình trạng đáp ứng yêu cầu sử dụng
nước trực tiếp hoặc gián tiếp của các đối tượng trong hệ thống chưa được đề cập và
định lượng đầy đủ. Ngoài ra, việc sử dụng nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí của
chính phủ đã không thực sự chỉ ra lợi ích khách quan của hệ thống đem lại, những
lợi ích về xã hội, môi trường mới được chỉ ra mà chưa có những thông số đánh giá
phù hợp, ... Để góp phần hỗ trợ ban quan lý hệ thống xem xét và đánh giá đầy đủ
57
hơn hiện trạng phục vụ của hệ thống với các nhu cầu hiện tại và đánh giá hiệu quả
tổng hợp của tài nguyên nước trong hệ thống để có thể đề xuất các giải pháp thích
hợp nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống, luận văn sẽ tiến hành áp dụng phương
pháp kế toán nước cho hệ thống cho mục đích nêu trên.
3.3. Các thành phần kế toán nước cho hệ thống - năm 2009
3.3.1 Tình hình sử dụng đất trong khu vực Hồ Núi Cốc
Theo thống kê, tình hình sử dụng đất của khu vực thuộc hệ thống thuỷ nông
Hồ Núi Cốc năm 2009 như bảng 3.7.
Bảng 3.7: Hiện trạng sử dụng đất vùng dự án hồ Núi Cốc
DT đất DT đất DT tự DT đất DT đất LN chưa sử phi NN TT Tên huyện nhiên (ha) NN (ha) (ha) dụng (ha) (ha)
1 TP.Thái Nguyên 17.707,52 8.401,42 1.046,62 7.899,9 359,58
2 TX Sông Công 8.364 4.456,14 1.780,47 2.047,31 111,54
3 Huyện Đại Từ 57.790,04 16.601,04 28.021,0 3.583,6 4.285,25
4 Huyện Phú Bình 24.936,11 13.622,79 6.218 1.420 111,20
5 Huyện Phổ Yên 25.667,63 20.191,97 7.367,75 5.166,57 309,09
Tổng cộng 134.465,53 63.273,36 44.361,84 21.653,67 5.176,66
Kết quả thống kê tình hình sử dụng đất năm 2009 của hệ thống thủy nông hồ
Núi Cốc cho thấy: diện tích đất nông nghiệp chiếm tỉ lệ cao nhất là 47,1%, tiếp đến
là diện tích đất lâm nghiệp là 33,0%, các diện tích đất phi nông nghiệp là 16,1% và
diện tích đất chưa sử dụng tuy còn tới hơn 5.176 ha, nhưng chỉ chiếm 3,8% tổng
diện tích tự nhiên.
3.3.2 Cơ cấu các loại cây trồng trong khu vực Hồ Núi Cốc
1. Thời vụ và diện tích các loại cây trồng chính
Cơ cấu các loại cây trồng chính trong hệ thống thuỷ nông Hồ Núi Cốc giai
đoạn nghiên cứu (từ tháng 12 năm 2008 đến tháng 01 năm 2010) như sau:
58
Bảng 3.8: Cơ cấu các loại cây trồng chính hệ thống thuỷ nông Hồ Núi Cốc
Diện tích Thời gian gieo Số ngày cây trồng TT Vụ trồng (ngày) (ha)
Vụ Đông Xuân
-Lúa 1 6458,8 XII/2008-V/2009 180
-Ngô 2 1999,7 I/2009-IV/2009 110
-Lạc 3 249,0 II/2009-V/2009 120
- Đậu tương 2257,8 II/2009-IV/2009 4 100
Vụ Mùa
-Lúa 1 9277,5 VI/2009-IX/2009 110
-Ngô 2 1618,6 VI/2009-IX/2009 110
-Lạc 3 112,9 VI/2009-IX/2009 105
4 - Đậu tương 2775,0 VI/2009-IX/2009 95
Vụ Đông
-Ngô 1 1632,8 IX/2009-I/2010 100
-Lạc 2 95,0 IX/2009-I/2010 95
3 - Đậu tương 2778,7 IX/2009-XII/2009 90
Cây khác
Cây công nghiệp 4500 cả năm 365 (chè, cam…)
2. Hệ số cây trồng Kc
Hệ số cây trồng Kc lấy theo FAO và theo Tiêu chuẩn ngành 14TCN 174-
2006 - Quy trình tưới tiêu nước cho cây lương thực và thực phẩm được trình bày ở
bảng 3. 9. Hệ số Kc được lấy theo vụ chiêm, vụ mùa và vụ đông, và cho từng loại
cây trồng chính, với từng thời kỳ sinh trưởng của cây trồng để tính toán lượng tiêu
hao nước do bốc và thoát hơi nước.
59
Bảng 3.9: Hệ số cây trồng Kc
Thời kỳ sinh trưởng
Cây trồng Bắt đầu Phát triển Giữa vụ Cuối vụ Thu hoạch
Vụ chiêm
1,03 1,13 Lúa 1,23 1,12 1,12
Ngô 0,4 0,7 1,05 1,0 0,9
Lạc 0,4 0,8 1,1 0,85 0,6
Đậu tương 0,4 0,8 1,15 0,8 0,5
Vụ mùa
1,14 1,27 Lúa 1,26 1,17 1,17
Ngô 0,4 0,7 1,05 1,0 0,9
Lạc 0,4 0,8 1,1 0,85 0,6
Đậu tương 0,4 0,8 1,15 0,8 0,5
Vụ Đông
Ngô 0,4 0,7 1,05 1,0 0,9
Lạc 0,4 0,8 1,1 0,85 0,6
Đậu tương 0,4 0,8 1,15 0,8 0,5
3.3.3. Xác định lượng nhu cầu nước cho các loại cây trồng
1. Tính toán nhu cầu nước
Nhu cầu nước cho cây trồng của hệ thống thủy nông Hồ Núi Cốc được xác
định dựa trên kết quả chạy chương trình Cropwat tính nhu cầu nước cho cây trồng
cạn và cây lúa nước trong năm 2009, thông qua việc xác định lượng nước bốc hơi
tiềm năng trên lưu vực, kết quả tính toán được biểu thị ở bảng 3. 10.
60
Bảng 3.10: Tính toán lượng bốc hơi tiềm năng trên lưu vực
Tốc độ Độ ẩm trung Nắng Mưa ET0 Tháng gió Nhiệt độ trung bình (0C) bình (%) (giờ) (mm) (mm/ngày) (m/s)
1,9 12,3 27 77 1 13,6 1,53
2,2 18,4 89 82 2 15,8 2,24
2,1 24,6 41 86 3 18,7 2,32
2,3 129,7 55 86 4 22,7 2,47
2,6 120,8 117 81 5 25,4 3,42
2,2 238,8 146 82 6 27 4,24
1,8 523,3 205 84 7 27,2 4,55
2 395,7 132 85 8 27 3,51
1,5 207,1 150 84 9 25,5 3,53
1,6 154,1 123 82 10 23,2 2,90
1,3 200,1 102 80 11 19,6 2,24
1,4 5,3 75 79 12 18,2 1,70
988 1262 22,9 2030,2 Tổng 263,9
T. bình 82,33 105,17 1,91 169,2 21,99
2. Tính nhu cầu nước của cây trồng vùng dự án
Nhu cầu nước cho cây trồng cạn (CWR) hoặc bốc thoát hơi nước cây trồng
ETc được tính như sau:
CWR = ETc = ETox Kc ; (mm/ ngày)
Trong đó CWR: Nhu cầu nước cho cây trồng (mm/ ngày)
ETc: Bốc thoát hơi nước từ cây trồng (mm/ ngày)
ETo: Bốc thoát hơi nước tiềm năng (mm/ ngày)
Kc: Hệ số cây trồng
Đối với cây lúa nước: nhu cầu nước bao gồm lượng nước dùng cho quá trình
làm đất (LPW) và lượng nước cho cây trồng (CUW)
61
Lượng nước yêu cầu cho quá trình làm đất (LPW): Lượng nước này được
tính toán như sau:
LPW = (LS + SW) + Ep + P
Trong đó LPW: Lượng nước yêu cầu cho quá trình làm đất (mm/ ngày)
LS: Lượng nước làm ẩm đất (mm/ ngày)
LS = 10mm/20 ngày cho lúa đông xuân. LS = 0.5 mm/ ngày.
SW: Lượng nước làm bão hòa đất (mm/ ngày)
SW = 50mm/ 20 ngày. SW = 2.5 mm/ ngày.
Ep: Lượng nước bốc hơi từ mặt nước tự do (mm/ ngày).
Ep = ETo x 1.1
P: Tổn thất thấm sâu (mm/ ngày).
Đối với cây lúa tổn thấm ở trong vùng được lấy như sau:
P = 16 mm/8 ngày hoặc 2 mm/ ngày.
Do hạn chế về số liệu thấm sâu trong khu vực, nên hệ số P được chọn gần
đúng P = 2mm/ngày để tính toán lượng nước thấm sâu cho khu vực nghiên cứu (dựa
trên sự tham khảo một số tài liệu tính toán nhu cầu nước trước đây).
Lượng nước tiêu thụ cho cây lúa tại mặt ruộng (CUW): Lượng nước tiêu thụ
cho cây lúa tại mặt ruộng được tính toán như sau:
CUW = CWR + P ( Đối với các giai đoạn sinh trưởng của lúa)
CUW = LPW ( Đối với giai đoạn làm đất lấy bằng 10 cm).
Trong đó:
CUW: Lượng nước tiêu thụ tại mặt ruộng (mm/ ngày).
CWR: Lượng nước yêu cầu cho cây lúa (mm/ ngày).
LPW: Nhu cầu nước cho giai đoạn làm đất (mm/ ngày).
P: Lượng tổn thất thấm sâu (mm/ ngày).
Tỷ lệ diện tích ươm mạ lấy bằng 10% diện tích cấy lúa.
62
Bảng 3.11. Nhu cầu nước của các loại cây trồng năm 2009
Các loại Diện tích được Nhu cầu nước cây trồng ETc(mm/ngày) cây trồng tưới (ha) được tưới (m3/vụ)
Vụ đông 35825486 xuân
2,3 Cây lúa 6458,8 26739432
1,78 Cây ngô 1999,7 3915481
1,89 Lạc 249,0 564730
2,04 Đậu tương 2257,8 4605842
Vụ mùa 54324239
4,12 Cây lúa 9277,5 42045630
2,5 Cây ngô 1618,6 4451166
2,65 Lạc 112,9 314217
2,85 Đậu tương 2775,0 7513226
0,0 Vụ đông 29613351
1,37 Ngô 1632,8 2236922
1,68 Lạc 95,0 151618
1,56 Đậu tương 2778,7 3901311
Cây khác 23323500
Cây Công 4500,0 1,42 23323500 nghiệp
Cộng 143086575
3.3.4 Tính toán nhu cầu dùng nước cho nuôi trồng thủy sản
Hồ Núi Cốc có nhiệm vụ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh
Thái Nguyên gồm: Cấp nước tưới cho 12.000 ha lúa và rau mầu, tạo nguồn tưới cho
4.500 ha cây công nghiệp các loại, bên cạnh đó còn tạo ra mặt nước của hồ rộng
2500 ha để nuôi thuỷ sản. Bên cạnh đó diện tích ao, hồ, đầm ... thuộc hệ thống dùng
nuôi thủy sản chiếm khoảng 5% diện tích mặt hồ.
63
Diện tích nuôi nuôi thủy sản (Sntts) trong hệ thống được tính là:
Sntts = 2.500 ha + 5%*2.500 ha = 2.625ha
Nhu cầu nước cho NTTS được xác định là lượng nước cần được cấp bù cho
lượng nước bốc hơi mặt thoáng trên diện tích NTTS là 2.625ha trong thời kỳ tính
toán. Kết quả xác định nhu cầu nước phục vụ nuôi thủy sản của khu vực hồ Núi Cốc
được trình bày ở bảng 3.12.
Bảng 3.12. Bảng nhu cầu nước cho nuôi trồng thủy sản
Diện tích Lượng nước Tháng ET0 KC ETC (mm/ ngày) NTTS (ha) bốc hơi (m3)
1,68 I 1,53 1,1 2625 16.125.243,75
2,46 II 2,24 1,1 2625 23.608.200,00
2,55 III 2,32 1,1 2625 24.451.350,00
2,72 IV 2,47 1,1 2625 26.032.256,25
3,76 V 3,42 1,1 2625 36.044.662,50
4,66 VI 4,24 1,1 2625 44.686.950,00
5,01 VII 4,55 1,1 2625 47.954.156,25
3,86 VIII 3,51 1,1 2625 36.993.206,25
3,88 IX 3,53 1,1 2625 37.203.993,75
3,19 X 2,90 1,1 2625 30.564.187,50
2,46 XI 2,24 1,1 2625 23.608.200,00
1,87 XII 1,70 1,1 2625 17.916.937,50
Cộng 365.189.343,75
3.3.5 Tính toán nhu cầu dùng nước cho chăn nuôi
Nhu cầu nước cho chăn nuôi thuộc hệ thống thủy nông hồ Núi Cốc được xác
định dựa vào chỉ tiêu dùng nước của các loại vật nuôi như sau: đối với trâu, bò: nhu
cầu sử dụng nước là 35l/ngày.con; Lợn: 25l/ngày.con; Gia cầm: 2l/ngày.con. Kết
quả xác định nhu cầu cung cấp nước cho chăn nuôi năm 2009 của khu vực được
trình bày ở bảng 3.13.
64
Bảng 3.13. Bảng nhu cầu nước cho chăn nuôi
Nhu cầu nước Tiêu chuẩn cấp TT Đối tượng Số lượng (con) nước (m3)
1 Trâu, bò 54.554 35 l/ngày/con 696.927
2 Lợn 231.007 25 /ngày/con 2.107.939
3 Gia cầm 2.730.000 2 l/ngày/con 1.992.900
4 Cộng 4.797.766
Ghi chú: Tiêu chuẩn cấp nước được tham khảo theo Quy hoạch cấp nước SH năm 2005.
Nhu cầu dùng nước cho chăn nuôi thuộc hệ thống hồ Núi Cốc năm 2009 là 4.797.766 m3. Nhu cầu này được cung cấp cho yêu cầu nước uống và vệ sinh
chuồng trại.
3.3.6 Tính toán nhu cầu dùng nước cho Sinh Hoạt
Hệ thống cấp nước sinh hoạt cho vùng dự án với tổng công suất là
40.000m3/ng.đêm. Đảm bảo cung cấp nước sạch phục vụ cho sinh hoạt ở mức
100lit/người/ngày.
Tức là Q=q*T*k = 365*40.000*1,2= 17.520.000 m3
trong đó: K =1,2 là tính thêm phần tổn thất trong quá trình cấp nước,
T: là thời gian tính toán 1 năm.
Nhu cầu dùng nước phục vụ sinh hoạt của vùng dự án của năm 2009 là
17.520.000 m3
3.3.7. Tính toán nhu cầu dùng nước cho Thủy điện
Từ năm 2009, hồ Núi Cốc còn có nhiệm vụ tận dụng nguồn năng lượng nước
tưới để phát điện cho nhà máy Thuỷ điện Núi Cốc với công xuất 2MW, lưu lượng đảm bảo cho phát điện q = 21 m3/s, đầu tháng 8/2009 nhà máy chính thức phát điện
hòa lưới điện quốc gia
Như vậy trong năm 2009 lượng nước cần cho nhà máy thủy điện là:
Qtđ = q*T =21*(31+30+31+30+31)*24*60*60 = 277.603.200 m3
65
Trong đó: q: lưu lượng đảm bảo cho phát điện,
T: là thời gian tính toán (từ tháng 8)
Lượng nước cấp cho thủy điện được cấp từ Hồ Núi Cốc từ tháng 8
đến hết tháng 12 năm 2009 là 277.603.200 m3.
3.3.8. Tính toán nhu cầu dùng nước cho Du lịch
Hồ Núi Cốc còn phục vụ tạo cảnh quan môi trường phục vụ du lịch, hàng
ngày có từ 6000 – 6500 khách đến thăm quan nghỉ mát tại vùng hồ. Nên hồ Núi Cốc
luôn giữ một lượng nước trong hồ nhằm mục đích phục vụ du lịch, tại cao trình là
+47,30m, và tạo ra 2500ha mặt thoáng lòng hồ. Lượng nước trữ đó được tính toán
nội suy theo cao trình của dung tích mực nước dâng bình thường và siêu cao ta có
m3.
Q = 15,99.106
Bảng 3.14. Bảng thông số kỹ thuật cơ bản của Hồ Núi Cốc
STT Hạng mục
Đơn vị Ký hiệu Thiết kế (106 .m3) Hồ Chứa
1 Cao trình mực nước siêu cao M MNSC 48,25
2 Cao trình mực nước dâng bình thường M MNDBT 46,20
3 Cao trình mục nước chết 34,0 MNC
4 Dung tích siêu cao 210
5 Dung hồ ứng với MNDBT 175,5
6 Dung tích hữu ích 168,0 M 106 m3 106 m3 106 m3
3.3.9. Tính toán nhu cầu dùng nước cho Công Nghiệp
Theo báo cáo cuối năm 2009 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên khai thác thuỷ lợi Thái Nguyên, Hồ Núi Cốc đã cung cấp nước cho sản xuất
công nghiệp thị xã Sông Công với lưu lượng Qcn=1,51 m3/s.
vậy trong 1 năm lượng nước cấp cho công nghiệp là:
Q= Qcn*T = =1,51*365*24*60*60 = 47.619.360 m3
T : thời gian 1 năm
Nhu cầu dùng nước cho công nghiệp được cấp từ hệ thống tưới Hồ Núi Cốc
năm 2009 là 47.619.360 m3.
66
3.3.10. Tính toán nhu cầu dùng nước cho các cam kết khác
Theo kết quả điều tra và báo cáo kế hoạch thực hiện năm 2009 của Hồ Núi
Cốc, ngoài các như cầu sử dụng nước trình bày trên, hệ thống còn có các nhiệm vụ
cấp nước ngoài hệ thống phụ trách như sau:
- Tiếp nguồn cho hệ thống nông giang sông Cầu hàng năm trung bình là
30.106 m3/năm.
- Cấp nước cho tỉnh Bắc Giang 718.310 m3
- Tiêu úng Cống Táo diện tích 1555ha, ước tính khoảng 2.200.000 m3
- Trong mùa lũ hồ còn trữ nước để giảm lũ cho hạ lưu sông Cầu 23.106 m3
- Lượng trữ được xác định trong năm 2009 bằng lượng nước làm thay đổi độ
ẩm của nước + lương nước dữ trữ trong kênh, ao hồ + Trong mùa lũ hồ còn trữ
nước để giảm lũ cho hạ lưu sông Cầu = 14.308.658 + 913.588+ 23.000.000 =
38.222.245m3
3.3.11. Tính lượng bốc hơi mặt thoáng
Hệ thống thủy nông Hồ Núi Cốc có:
18 km kênh Chính, mặt cắt trung bình hình thang là bxh=5x2;m=1, mực
nước trong kênh duy trì Hmn=1,5m;
43 km kênh cấp I, mặt cắt trung bình hình thang là bxh=3x1,5;m=1, mực
nước trong kênh duy trì Hmn=1,10m;
504 km kênh các cấp trong đó 300 km kênh cấp II và cấp III còn lại là kênh
nội đồng, mặt cắt trung bình hình thang là bxh=1.0x1,0; m=1, mực nước trong kênh
duy trì Hmn=0.60m
Kênh nội đồng dài 204Km, mặt cắt trung bình hình thang là bxh=0.5x0.6;
m=1, mực nước trong kênh duy trì Hmn=0.4m
2070 công trình xây lắp trên toàn bộ hệ thống kênh các cấp, tổn thất tính toán
tại các công trình trên kênh được tính ước lượng khoảng 0.15m3.
67
Bảng 3.15. Bảng tính toán diện tích mặt thoáng kênh
Chiều Qui mô bình Mực nước S mặt Lượng TT Hình thức dài (m) quân (bxh) m trong kênh S mặt thoáng (m2) cắt ướt trữ(m3)
1 Kênh chính 18.000 5.0*2.0; m=1 144.000 9,75 175.50 1,5
2 Kênh cấp I 43.000 3.0*1.50; m=1 223.600 4,51 193.93 1,1
3 Kênh cấp II; III 300.000 1.0*1.0; m=1 660.000 0,96 288.00 0,6
4 Kênh nội đồng 204.000 0.50*0.6; m=0 102.000 0,36 73.44 0,4
Công trình trên 2.070 vị trí, tổng tổn thất là 5 2.070*0,15 = 310.5m3 kênh
Ước tính chiếm khoảng 25% diện 282.400 182.717,5 6 Ao, sông tích mặt thoáng kênh mương
7 Tổng 1.412.00 913.587,5
Như vậy, một lượng nước của hồ chứa được giữ trữ trên kênh và lượng nước
này được tính theo bảng 3.15
Lượng bốc hơi phụ thuộc vào yếu tố ET0 và KC. (Hệ số KC được lấy theo tiêu
chuẩn của FAO và bằng 1,1 đối với vùng có tốc độ gió nhẹ và bằng 1,15 đối với
vùng có tốc độ gió lớn).
Lượng bốc hơi từ mặt nước được tính như sau:
ETC = ET0 * KC (mm/ ngày/ha).
Diện tich mặt thoáng = diện tích mặt nước ao hồ, kênh mương + diện tích lòng hồ
S = 141,2+2.500 = 2.641,20ha.
Ta có bảng tính lượng bốc hơi từ mặt nước như sau:
68
Bảng 3.16. Lượng nước bốc hơi mặt thoáng trên lưu vực
Diện tích mặt Lượng nước bốc ETC Tháng ET0 KC thoáng (ha) hơi (m3) (mm/ ngày)
1,68 2.641,2 16195838,40 1,53 I 1,1
2,46 2.641,2 23715334,80 2,24 II 1,1
2,55 2.641,2 24582969,00 2,32 III 1,1
2,72 2.641,2 26221833,60 2,47 IV 1,1
3,76 2.641,2 36247828,80 3,42 V 1,1
4,66 2.641,2 44924170,80 4,24 VI 1,1
5,0 2.641,2 48201900,00 4,55 VII 1,1
3,86 2.641,2 37211866,80 VIII 3,51 1,1
3,83 2.641,2 36922655,40 3,53 IX 1,1
3,19 2.641,2 30752812,20 2,9 X 1,1
2,46 2.641,2 23715334,80 2,24 XI 1,1
1,87 2.641,2 18027510,60 XII 1,7 1,1
366.720.055,20 Cộng
Vậy lượng nước bốc hơi mặt thoáng và tổn thất tại các công trình trong quá
trình vận hành là: 366.720.055,20 + 310,5 = 366.720.365,70 m3.
3.3.12. Tính lượng nước bốc hơi trên diện tích đất phi nông nghiệp
Diện tich đất phi nông nghiệp gồm diện tích diện tích đất chưa sử dụng +
diện tích tích phi nông nghiệp khác theo bảng 3.7.
Diện tích đất phi nông nghiệp khác = 21.653,67ha.
Đất chưa sử dụng = 5.176,66 ha
Tổng diện tích đất phi nông nghiệp = 26.830,33ha
Lượng bốc hơi trên các diện tích đất chưa sử dụng và đất phi nông nghiệp
khác được xác định như sau
ETc=ET0 x Kc
69
Thực tế là trên các diện tích đất chưa sử dụng, đất phi nông nghiệp khác có
cỏ hoang mọc nên bốc hơi trên các diện tích này được xem như bốc hơi trên cây
trồng cạn tương tự, ở đây lấy là cây cỏ để xác định lượng bốc hơi. Kết quả tính toán
lượng bốc hơi trên đất phi nông nghiệp như bảng 3.17 sau.
Bảng 3.17. lượng bốc hơi trên đất phi nông nghiệp
Diện tích đất phi Lượng nước bốc hơi ETc(mm/ngày) nông ng.hiệp (ha) (m3)
26830,33 1,135 1.113.995.321
Tổng lượng nước bốc hơi trên toàn bộ diện tích đất phi nông nghiệp năm
2009 được xác định bằng 1.113.995.321m3.
3.3.13 Lượng nước thất thoát do thẩm lậu, ngấm dưới đất và qua các công trình
Thất thoát nguồn nước tại hồ gồm các thất thoát do thẩm lậu qua đập chính,
đập phụ, do bốc hơi tăng, bồi lắng, lấn chiếm lòng hồ. Qua đánh giá các chỉ tiêu này
cho thấy thất thoát qua các đập tại hồ Núi Cốc tương đối ổn định, lượng thấm nhỏ. Tổng cộng toàn hồ tổn thất do thấm là q = 32,6 m3 /ngày đêm.
Q ttngam = q*T (m3) = 32,6*365 = 11.899 m3
Trong đó: q: lưu lượng thấm
T: là thời gian tính toán 1 năm.
Tổng lượng nước thẩm thấu thất thoát do thấm của hồ là 11.899 m3/năm
Tổng lượng nước thất thoát qua hồ chứa được coi là lượng nước thấm xuống
tầng sâu và chảy vào hệ thống tiêu thoát tự nhiên, do không có tài liệu quan trắc về
lượng nước được khai thác cho những hoạt động sử dụng nước trong hệ thống nên
có thể tạm thời xem lượng nước này chảy ra khỏi phạm vi nghiên cứu của hệ thống.
3.3.14 Lượng nước cần để sử dụng cho xử lý chất thải công nghiệp và du lịch
Trong công nghiệp, lượng nước cần dùng để xử lý các chất thải công nghiệp
nhằm bảo vệ môi trường sinh thái hoặc tái sản xuất… ước tính bằng khoảng 40%
lượng nước cấp cho công nghiệp.
70
Trong du lịch, lượng nước cung cấp phục vụ cho nhu cầu khách du lịch như
tắm rửa, xử lý xả thải,…du lịch sinh thái vùng hồ trong một năm ước tính bình quân
đón khách khoảng 150 ngày với định mức bình quân là 35l/người-ngày. Hồ Núi
Cốc còn phục vụ tạo cảnh quan môi trường phục vụ du lịch, hàng ngày có bình quân
khoảng 6.500 khách đến thăm quan nghỉ mát tại vùng hồ. Tổng lượng nước cần
dùng để sử dụng cho xử lý xả thải công nghiệp và du lịch năm 2009 được tính ở
bảng 3.18.
Bảng 3.18 Lượng nước cần để sử dụng cho xử lý xả thải CN&DL
Trong Công nghiêp (m3) 40%*47.619.360 19.047.744 m3
Trong du lịch (m3) 0,035*6.500*150 34.125 m3
Tổng 19.081.869 m3
3.3.15 Tính toán lượng nước để thay đổi độ ẩm của đất
Khi Hồ Núi Cốc cấp nước cho vùng được hưởng lợi, một lượng nước mất đi
do khi nước chuyển đến thấm vào đất một lượng nhất định để đất bão hòa nước và
trong các vụ mùa phục vụ cho làm ẩm đất và đổ ải. Theo điều tra thống kê sơ bộ của
công ty quản lý hồ lượng nước này có thể ước tính bằng 10% nhu cầu nước của cây
trồng vùng dự án hay lượng nước cần thay đổi độ ẩm của đất hàng năm được ước
tính là khoảng 14.308.658m3.
3.3.16 Thành phần kế toán nước Hồ Núi Cốc
1. Tổng lượng nước mưa rơi trên lưu vực
Dựa vào tài liệu thủy văn bảng 3.4 lượng mưa bình quân tháng và trung bình
năm ta tính toán được lượng nước mưa hàng năm có trong lưu vực.
Qlưu vực = F*Xbqlv*10m3
Wmưa = Qlưu vực *C = F*Xbqlv*10*C
Trong đó:
Xbqlv: Lượng mưa bình quân trên lưu vực (mm)
Q : lượng mưa trên lưu vực (m3)
71
C = 0,45 : hệ số dòng chảy trên lưu vực vùng dự án
F : diện tích lưu vực (ha); F=535 km2 = 535*10.000 (ha)
Lưu vực hồ Núi Cốc có độ dốc tương đối lớn, chiều dài sông chính chiếm
hơn một nửa chiều dài sông Công. Trong lưu vực có nhiều thung lũng, các thung
lũng lớn tập trung ở vùng thượng lưu như thung lũng Phú Nghĩa, Đại Từ, Vạn
Yên. Càng về phía hạ lu núi và thung lũng càng ít, thấp và hẹp hơn. Hệ số dòng
chảy là C = 0.45
Vậy lượng mưa trên lưu vực hồ thu được là:
Wmưa TL = Qlưu vực *C = F*Xbqlv*10*C
Wmưa = 535.104*169,2*10*0,45 = 4.073.490.000 (m3)
Tương tự với vùng hạ lưu hồ Núi Cốc với diện tích là 268931,06ha
Lượng mưa trên vùng nghiên cứu (hạ lưu hồ) là
W mưa HL = F*Xbqlv*10 = 204764109,1 m3
W = Wmưa TL + W mưa HL = 4.073.490.000 + 204.764.109,1 = 4.278.254.109 m3
2. Dòng chảy thực vào:
Dòng chảy thực vào là tổng lượng dòng chảy vào cộng với bất kỳ sự tăng
(giảm) lượng trữ, Do mực nước cuối thời đoạn cao hơn mực nước đầu thời đoạn nên
lượng nước này mang giá trị âm (-)
Ở đây lượng trữ âm nên dòng chảy thực vào nhỏ hơn dòng chảy vào và bằng
Tổng lượng nước chảy vào - lượng nước làm thay đổi độ ẩm của nước +
thấm ngầm dưới đất + lương nước dữ trữ trong kênh, ao hồ + Trong mùa lũ hồ còn
trữ nước để giảm lũ cho hạ lưu sông Cầu.
= 4.278.254.109 - 14.308.658 - 913.588 - 23.000.000 = 4.240.031.864 m3
3. Tiêu hao:
Các thành phần tiêu hao nước xem các mục tính toán lượng bốc thoát hơi
nước ở trên
4. Dòng chảy ra:
* Lượng nước thoát ra khỏi lưu vực có thể sử dụng được: là
72
* Lượng nước cấp cho tiếp nguồn hệ thống nông giang sông Cầu để đảm bảo
tưới: 30.000.000 m3.
* Cho nhu cầu cấp nước tỉnh Bắc giang: 718.310 m3
* Cho nhu cầu tiêu úng Cống Táo diện tích 1.555ha: 2.200.000
* Lượng nước ra khỏi hồ không sử dụng được, trong mùa lũ khi mực nước
vượt cao trình thiết kế hồ, lượng nước này chảy qua các công trình tràn sự cố, cống
xả, và trong quá trình vận hành có xả cát lòng hồ được: 1.832.867.854 m3.
* lượng nước cho Công nghiệp 47.619.360m3
* lượng nước cho Sinh hoạt 17.520.000m3
* lượng nước cho Thủy điện 277.603.200m3
5. Lượng nước có sẵn trong lưu vực:
Là lượng dòng chảy thực vào khi đã trừ đi lượng nước ràng buộc và lượng
nước không ràng buộc không thể sử dụng được (hay chính là tổng lượng tiêu hao
với lượng nước không ràng buộc có thể sử dụng được). Theo cách này, lượng nước
có sẵn trong vùng được xác định bằng 1.993.801.271m3.
6. Lượng nước có sẵn cho nông nghiệp trong hệ thống :
Được xác định bằng lượng nước có sẵn trong hệ thống trừ đi tất cả các tiêu
hao có lợi của các sử dụng không tưới khác và được xác định bằng:
= 1.993.801.271 – 365189344 – 4.797.766 – 15.990.000 = 1.607.824.161m3
. Bảng 3.19. Thành phần kế toán nước Hồ Núi Cốc
Các Diện tích Lượng STT Thành phần thành (ha) nước(m3) phần
I Tổng lượng nước chảy vào 4278254109
Mưa hình thành dòng chảy mặt về Có 535*10000 4073490000 hồ (thượng lưu hồ)
Mưa trên vùng dự án (hạ lưu hồ) Có 268931 204764109
Thay đổi dự trữ
Thay đổi độ ẩm đất Có 14308658
73
Lượng nước dữ trữ trên kênh Có 913588
Trong mùa lũ hồ trữ nước để giảm Có 23000000 lũ cho hạ lưu sông Cầu
Dòng chảy thực vào II 4240031864
Tiêu hao III 2009779372
1 Tiêu hao định trước 119763075
Bốc thoát hơi nước từ cây trồng Có 119763075 được tưới
2 Không định trước 1890016297
Có lợi a 409300610
Bốc thoát hơi nước từ cây cối khác Có 23323500
Tiêu hao nước dùng cho thủy sản Có 365189344
Tiêu hao nước dùng cho chăn nuôi Có 4797766
Du lịch Có 15990000
Không có lợi b 1480715687
Bốc thoát hơi nước từ đất hoang Có 1113995321 hóa
Bốc hơi tự do Có 366720366
IV Dòng chảy ra 2230252492
Dòng chảy ràng buộc
phục vụ tiếp nguồn hệ thống nông Có 30000000 giang sông Cầu
nhu cầu cấp nước tỉnh Bắc giang Có 718310
nhu cầu cấp nước cho nhà máy Có 2630000 nước Tích Lương
nhu cầu tiêu úng Cống Táo diện Có 1555 2200000 tích 1555ha
Công nghiệp Có 47619360
Sinh hoạt Có 17520000
Thủy điện Có 277603200
74
Dòng chảy ra không sử dụng
được
Lượng ra ngoài do thấm Có 11899
Không ràng buộc không sử dụng
được đảm bảo môi trường (lượng Có 19081869 nước dùng để xử lý thải công
nghiệp, và du lịch)
Không ràng buộc không sử dụng
được, lượng nước chảy qua các
công trình tràn và cống xả, khi Có 1832867854 vượt cao trình thiết kế hồ và trong
quá trình vận hành có xả cát lòng
hồ
Lượng nước có sẵn trong lưu vực Có 1993789372 V
Lượng nước có sẵn cho nông Có 1607824161 VI nghiệp
Biểu diễn bảng 3.19 thành phần kế toán nước Hồ Núi Cốc theo hình 2.1 ta
được biểu đồ kế toán nước hình 3.3.
Hình 3.3. Biểu đồ kế toán nước hệ thống thủy nông Hồ Núi Cốc
75
3.3.17. Xác định các chỉ số kế toán nước Hồ Núi Cốc
1. Các chỉ số dựa trên cơ sở vật lý:
Từ kết quả tính toán các thành phần kế toán nước, có thể tính toán các chỉ số
đánh giá về mặt kỹ thuật của hệ thống thủy nông Hồ Núi Cốc như sau:
Chỉ số tiêu hao (DF) là phần dòng chảy vào mà bị tiêu hao bởi sử dụng định
trước và sử dụng không định trước (TD), và có thể xác định bằng 3 chỉ số sau:
1. Chỉ số tổng lượng dòng chảy vào tiêu hao: DFGI = TD/GI
2. Chỉ số lượng dòng chảy thực vào tiêu hao: DFNI = TD/NI
3. Chỉ số lượng nước có sẵn tiêu hao: DFAW = TD/AW
Chỉ số tiêu hao quá trình (định trước - PF) diễn tả mối quan hệ giữa tiêu
hao định trước và tổng lượng tiêu hao hoặc lượng nước có sẵn, và được xác định
như sau:
4. Chỉ số tiêu hao định trước so với tổng lượng tiêu hao (PFTD): PFTD =
PD/TD.
5. Chỉ số tiêu hao định trước so với lượng nước có sẵn (PFAW): PFAW =
PD/AW.
6. Chỉ số tiêu hao định trước so với lượng nước có sẵn cho nông nghiệp
(PFAW-ag):
PFAW-ag = PD/AWag
Trong đó:
- TD: Tổng lượng nước tiêu hao.
- GI, NI: Tổng lượng dòng chảy vào, lượng dòng chảy thực vào.
- AW: Lượng nước có sẵn.
- PD: Lượng nước tiêu hao định trước.
- ET: Bốc thoát hơi nước của cây trồng.
- Db: Lượng nước tiêu hao có lợi.
- AWag: Lượng nước có sẵn cho nông nghiệp:
AWag = NI - C - NUO - (Db của tất cả các loại hình sử dụng không tưới)
76
Ở đây: C là lượng nước ràng buộc; NUO là lượng dòng chảy ra không thể sử dụng.
Các chỉ số trên được tính toán cụ thể như bảng sau:
Bảng 3-20. Các chỉ số tiêu hao của hệ thống thuỷ nông Hồ Núi Cốc
Kí TT Định nghĩa Công thức Tỷ số Giá trị hiệu
A. Chỉ số tiêu hao DF
2009779372/ Chỉ số tổng lượng chảy 1 DFGI TD/GI 0,470 vào tiêu hao 4278254109
2009779372/ Chỉ số lượng dòng chảy 2 DFNI TD/NI 0,474 thực vào tiêu hao 4240031864
2009779372/ Chỉ số lượng nước có DF - 3 TD/AW 1,008 sẵn tiêu hao. AW 1993789372
B. Chỉ số quá trình PF
Chỉ số tiêu hao định 119763075/ PF trước so với tổng lượng 4 PD/TD 0,060 TD 2009779372 tiêu hao
Chỉ số tiêu hao định 119763075/ PF trước so với lượng nước 5 PD/AW 0,060 AW 1993789372 có sẵn 1993789372709301782
Chỉ số tiêu hao định PF - 119763075/ trước so với lượng nước AW- 6 PD/AWag 0,074 1607824161 có sẵn cho nông nghiệp ag
2. Chỉ số đối với sử dụng nước hữu ích
Sử dụng nước hữu ích chỉ ra tỉ lệ lượng nước tiêu hao hữu ích so với
lượng nước có sẵn, tổng lượng nước tiêu hao, dòng chảy thực đến và tổng dòng
chảy thực đến.
77
Bảng 3-21: Chỉ số sử dụng nước hữu ích hệ thống thuỷ nông Hồ Núi Cốc
Kí Công TT Định nghĩa Tỷ số Giá trị hiệu thức
Chỉ số hữu ích của (2009779372-1480715687)/ BE Db/AW 1 0,265 lượng nước sẵn có 1607824161
Chỉ số hữu ích của (2009779372-1480715687)/ tổng lượng tiêu 2 BD Db/TD 0,263 2009779372 hao
Chỉ số hữu ích của (2009779372-1480715687)/ dòng chảy thực 3 BNI Db/NI 0,125 4240031864 vào
Chỉ số hữu ích của (2009779372-1480715687)/ tổng dòng chảy 4 BGI Db/GI 0,124 4278254109 vào
Chỉ số hữu ích của lượng nước sẵn có = (tổng lượng nước tiêu hao - lượng
nước tiêu hao không có lợi)/lượng nước sẵn có trong lưu vực
Chỉ số hữu ích của tổng lượng tiêu hao = (tổng lượng nước tiêu hao - lượng
nước tiêu hao không có lợi)/tổng lượng nước tiêu hao
Chỉ số hữu ích của dòng chảy thực vào = (tổng lượng nước tiêu hao - lượng
nước tiêu hao không có lợi)/tổng lượng dòng chảy thực vào
Chỉ số hữu ích của dòng chảy vào = (tổng lượng nước tiêu hao - lượng nước
tiêu hao không có lợi)/tổng lượng dòng chảy vào
3. Chỉ số của hiệu suất sử dụng nước
Hiệu suất nước (Water Productivity: WP) có thể liên quan tới khối lượng sản
xuất về vật chất hoặc giá trị kinh tế của sản phẩm cho một đơn vị thể tích nước.
Hiệu suất nước có thể được xác định dựa vào tổng dòng chảy vào hoặc dòng chảy
thực vào, lượng nước tiêu hao, lượng nước tiêu hao định trước hoặc lượng nước có
78
sẵn. Hiệu suất nước có một cơ sở rộng hơn hiệu quả sử dụng nước, nó liên kết sản
lượng với sự tiêu hao định trước. Ở đây, nó được xác định dưới dạng dòng chảy
thực vào, lượng nước tiêu hao và lượng nước tiêu hao định trước:
1. Hiệu suất của tổng lượng nước vào: PWinflow = P/NI
2. Hiệu suất của lượng nước tiêu hao: PWdepleted = P/D
3. Hiệu suất của nước tiêu hao định trước: PWprocess = P/PD
4. Hiệu suất của nước có sẵn: PWavailable = P/AW
Trong đó: P được diễn tả bằng tổng lợi ích thu được qua việc sử dụng nước
sau khi đã trừ đi tổng chi phí (không kể chi phí cho nước) trong việc sản sinh ra lợi
nhuận. Đối với việc sử dụng cho một mục đích, P có thể là sản lượng hoặc tổng giá
trị kinh tế của sản phẩm.
1 (lợi ích - chi phí).
P = ∑n
Để tính hiệu suất nước ta tính tổng giá trị của sản xuất nông nghiệp đã được
chuẩn hoá SGVP theo phương pháp đã được đưa ra ở trên và kết quả thể hiện trong
bảng 3.22:
Bảng 3.22: Tổng giá trị của sản xuất nông nghiệp SGVP năm 2009
( tỷ giá năm 2009 1US$ =18.479NVĐ)
Sản lượng đơn Diện tích Giá thành (p) SGVP (US$) Vụ vị (tấn/ha) (ha) (US$/tấn)
Vụ Đông Xuân
2009
-Lúa
-Ngô
4,89 6458,80 401 12.664.996,33
-Lạc
3,87 1999,74 216 1.671.618,64
- Đậu tương
1,57 249,00 885 345.972,06
1,43 2257,77 974 3.144.660,99
Vụ Mùa 2009
9277,50
-Lúa
1618,61
-Ngô
4,97 401 18.484.988,48
112,93
-Lạc
3,82 216 1.336.238,14
1,41 885 141.301,21
79
- Đậu tương
2774,97
1,40 974 3.774.089,15
Vụ Đông
1632,79
-Ngô
95,00
-Lạc
216 705.783,89 2,00
2778,71
- Đậu tương
885 62.231,33 0,74
974 2.458.743,82 0,91
Cây khác
Cây công nghiệp
4500,00
(Chè..)
9,88 1312,4 58.349.304,00
Cộng
103.139.928,03
(Nguồn lấy từ niên giám thống kê năm 2009 tỉnh Thái Nguyên)
Bảng 3.23: Chỉ số hiệu suất nước của hệ thống thủy nông Hồ Núi Cốc
Giá TT Đinh nghĩa Kí hiệu Định nghĩa Đơn vị Tỷ số trị
Hiệu suất của 103139928/
1 tổng lượng SGVP/GI US $/m3 0,024 PWGI 4278254109 nước vào
Hiệu suất của 103139928/
2 lượng nước có PWaw SGVP/AW US $/m3 0,052 1993789372 sẵn
Hiệu suất của 103139928/
SGVP/AW- lượng nước có US $/m3 0,064 3 PWaw-tưới tưới sẵn cho tưới 1607824161
nông nghiệp
Hiệu suất của 103139928/
4 nước tiêu hao SGVP/PD US $/m3 0,861 PWp 119763075 định trước
103139928/ Hiệu suất đơn SGVP/ET US $/m3 0,721 5 (119763075+ PWET vị nước tưới 23323500)
80
3.4. Nhận xét, đánh giá và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng
tổng hợp tài nguyên nước bền vững cho hệ thống thủy nông hồ Núi Cốc
3.4.1. Phân tích kết quả chỉ số kế toán nước hệ thống thủy nông hồ Núi Cốc
1. Phân tích các chỉ số dựa trên cơ sở vật lý:
Theo bảng 3.20 chỉ số tổng lượng dòng chảy vào tiêu hao: Chỉ số này cho
biết có bao nhiêu % lượng nước cấp vào hệ thống bị tiêu hao, ở hệ thống thủy nông
Hồ Núi Cốc chỉ số này là 0,47, điều này cho thấy chỉ có khoảng 47% lượng nước
cấp vào bị tiêu hao, còn lại sẽ chảy ra khỏi lưu vực sang lưu vực khác. Tuy nhiên
lượng dòng chảy ra ràng buộc có thể sử dụng được chỉ chiếm một phần nhỏ so với
tổng lượng dòng chảy vào (khoảng 9% lượng dòng chảy vào). Phần lớn lượng nước
thoát ra khỏi lưu vực (khoảng 91% lượng nước cấp vào hệ thống) không được sử
dụng. Điều này cho thấy tiềm năng tài nguyên nước của vùng Hồ Núi Cốc là rất dồi
dào, lượng nước tiêu hao của hệ thống hay lượng nước sử dụng trong năm 2009 chỉ
chiếm khoảng 10% tiềm năng nguồn nước đến từ mưa và dòng chảy mặt của hồ.
Chỉ số lượng nước có sẵn tiêu hao (DF AW ) bằng 1,008, cho thấy toàn bộ
lượng nước có sẵn trong hệ thống đều bị tiêu hao, thậm chí lượng nước dùng cho
các nhu cầu dùng nước còn lớn hơn lượng nước có sẵn của hệ thống, có thể giải
thích điều này do trong quá trình tưới, lượng nước còn dư chảy tràn từ các khu tưới
cao sẽ tràn xuống các khu tưới có vị trí thấp hơn. Hay nước tưới đã được hồi quy
vào các hệ thống tiêu và được quay vòng cho sử dụng tưới phía cuối của hệ thống.
Như vậy, có thể nói nhu cầu nước tiêu hao cho tưới là lớn hơn lượng nước có sẵn,
cần có biện pháp công trình (tăng qui mô, cải tạo hệ thống chuyền tải nước kênh
mương..) hoặc biện pháp quản lý vận hành để khai thác hết lượng nước có sẵn này.
Tuy nhiên, để đánh giá sự tiêu hao nước trong các tiểu vùng, chúng ta cần xem xét
tiêu hao định trước và không định trước.
2. Phân tích các chỉ số sử dụng nước hữu ích
Theo đó lượng nước tiêu hao có lợi (gồm cả tiêu hao định trước) so lới lượng
chảy vào và thực vào khoảng 0,263 và 0,125. Như vậy cần khắc phục trong hiệu
quả quản lý sử dụng đất, và công trình thủy nông.
81
3. Phân tích chỉ số của hiệu suất sử dụng nước
Theo tài liệu báo cáo của tổ chức nông lương thế giới đánh giá hiệu suất tưới của
một số hệ thống thuỷ nông trên thế giới, số liệu được chúng ta xem xét các chỉ số
trong các bảng dưới đây
82
Bảng 3.24: Chỉ số hiệu suất nước ở lưu vực Bhakra của Ấn Độ
Đơn vị Giá trị
1. SGVP Triệu US$ 2,146
2. Chỉ số
Hiệu suất của tổng lượng nước vào 0.12
Hiệu suất của lượng nước có sẵn cho tưới 0.15
Hiệu suất đơn vị nước tưới US$/m3 US$/m3 US$/m3 0.17
Bảng 3.25: Chỉ số hiệu suất nước ở tiểu lưu vực Christian của Pakistan
Giá trị Đơn vị
414 Triệu US$ 1. SGVP
2. Chỉ số
Hiệu suất của tổng lượng nước vào 0.06
Hiệu suất của lượng nước có sẵn cho tưới 0.06
Hiệu suất đơn vị nước tưới 0.07 US$/m3 US$/m3 US$/m3
Bảng 3.26: Chỉ số hiệu suất nước ở tiểu lưu vực Kirindi Oya của SriLanka
Giá trị Đơn vị
145 Triệu US$ 1. SGVP
2. Chỉ số
0.03 Hiệu suất của tổng lượng nước vào
0.06 Hiệu suất của lượng nước có sẵn cho tưới
0.15 US$/m3 US$/m3 US$/m3 Hiệu suất đơn vị nước tưới
Bảng 3.27: Chỉ số hiệu suất nước lưu vực sông Nile của Ai Cập
Giá trị Đơn vị
6,450 Triệu US$ 1. SGVP
2. Chỉ số
0.12 Hiệu suất của tổng lượng nước vào
0.15 Hiệu suất của lượng nước có sẵn cho tưới
0.19 US$/m3 US$/m3 US$/m3 Hiệu suất đơn vị nước tưới
83
Bảng 3.28: Chỉ số hiệu suất nước ở Muda của Malaysia
Đơn vị Giá trị
Triệu US$ 196 1. SGVP
2. Chỉ số
Hiệu suất đơn vị nước tưới US$/m3 0.1
Bảng 3.29: Chỉ số hiệu suất nước ở Alasehir của Thổ Nhĩ Kỳ
Đơn vị Giá trị
1. SGVP Triệu US$ 114
2. Chỉ số
Hiệu suất đơn vị nước tưới US$/m3 0.46
Bảng 3.30: Chỉ số hiệu suất nước ở lưu vực sông Hương của Việt Nam
Đơn vị Giá trị
1. SGVP Triệu US$ 44.1
2. Chỉ số
US$/m3 0.005 Hiệu suất của tổng lượng nước vào
US$/m3 0.021 Hiệu suất của lượng nước co sẵn cho tưới
Qua bảng 3.23 cho thấy hiệu suất của tổng lượng dòng chảy vào lưu vực là
US$/m3 0.215 Hiệu suất đơn vị nước tưới
0,024. Hiệu suất của tổng lượng dòng chảy vào lưu vực hồ Núi Cốc tương đương
với 1 số vùng trên thế giới như ở Kirindi Oya (SriLanka), lưu vực Christian
(Pakistan), đặc biệt so với lưu vực sông Hương (Việt nam) chỉ số hiệu suất này cao
hơn gần 5 lần; tuy nhiên so với 1 số vùng khác thì hiệu suất này thấp hơn nhiều, ở
Alasehir (Thổ Nhĩ Kỳ ) hiệu suất này đạt 0,46. Hiệu suất của tổng lượng dòng chảy
vào mới chỉ kể đến hiệu ích do tưới cho nông nghiệp đem lại, trong khi đó trong
vùng có nhiều đối tượng sử dụng nước mà chưa kể hiệu ích như công nghiệp, nuôi
trồng thuỷ sản, sinh hoạt vv...Do đó chỉ số trên chưa thực sự phản ánh đầy đủ hiệu
84
ích việc cấp nước đem lại. Để đánh giá đầy đủ hiệu ích của tưới cấn phải tính đến
sản lượng và giá trị từ tất cả các đối tượng sử dụng nước trong hệ thống như công
nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi vv....
Trong các chỉ số trên, chỉ số hiệu suất đơn vị nước tưới (PWET ) được xem
là chỉ số quan trọng, nó cho biết có bao nước bốc thoát hơi tạo ra giá trị sản phẩm
(tiền), chỉ số này ở lưu vực Hồ Núi Cốc là 0,721(US$/m3) giá trị này tương
đương với khu vực Alasehir của Thổ Nhĩ Kỳ (0,46 US$/m3), cao hơn 4 lần so với
khu vực Bhakra của Ấn Độ, cao hơn 3 lần so với lưu vực Sông Hương (Việt
Nam). Tuy nhiên so với 1 số khu vực khác trong nước và trên thế giới chỉ số PW ET
ở lưu vực cũng cao hơn nhiều. Cụ thể: chỉ số này cao hơn lưu vực cao hơn so với
hệ thống thuỷ nông ở lưu vực Christian của Pakistan hay lưu vực Kirindi Oya của
SriLanka từ 4 - 9 lần. Điều này có thể lý giải bởi trong khu vực Hồ Núi Cốc, hệ số
quay vòng đất là cao hơn so với các vùng khác (trồng 3 vụ/năm), không chỉ thuần
cấp nước tưới cho nông nghiệp, hệ thống còn cấp nước cho nhà máy thủy điện,
cấp nước cho các nhà máy nước sạch, công nghiệp, bên cạnh đó còn bán nước cho
các tỉnh bên cạnh...
Chỉ số chỉ số hiệu suất đơn vị nước tưới (PWET ) rất cao, trong khi chỉ số
hiệu suất lượng nước có sẵn cho nông nghiệp (PWaw-tưới ) lại thấp (0,064US$/m3)
cho thấy rằng, có nhiều nước có sẵn cho nông nghiệp chỉ một phần nhỏ phục vụ cho
tưới cây trồng. Trong phân tích năng suất nước cho nông nghiệp, chỉ số PWaw-tưới có
ý nghĩa hơn chỉ số năng suất tổng lượng dòng chảy vào PWGI bởi vì ngoài nông
nghiệp, lượng dòng chảy vào còn bị tiêu hao bởi các loại hình sử dụng phi nông
nghiệp có lợi khác và còn được phân cho các sử dụng ràng buộc khác. Thực tế, trên
hệ thống thủy nông Hồ Núi Cốc, nước cấp cho nông nghiệp không chỉ đến với cây
trồng mà nó còn đến với sử dụng cho công nghiệp, dân sinh, nuôi trồng thủy sản,
chăn nuôi. Ngoài ra, lượng nước có sẵn cho nông nghiệp vẫn còn bị tiêu hao khá lớn
bởi các hộ dùng nước không có lợi hoặc lợi ích thấp như bốc hơi từ đất hoang hóa
(hoặc bỏ trống), từ mặt nước tự do và từ thấm sâu. Do đó, tiềm năng cho nâng cao
năng suất nước ở đây có thể tập trung vào việc giảm lượng nước tiêu hao không có
lợi này.
85
Tiêu hao định trước là tiêu hao cho các mục đích tưới đã được định sẵn khi
thiết kế hệ thống, ở đây là diện tích lúa và hoa màu. Tiêu hao không định trước là
các tiêu hao mà khi thiết kế hoặc khi xây dựng kế hoạch tưới chưa được đề cập đến
ở đây là các tiêu hao nước trong quá trình sinh hoạt, nuôi trồng thuỷ sản, cấp nước
cho công nghiệp vv...Ở đây lượng nước tiêu hao định trước so với tổng lượng tiêu
hao lưu vực 6%. Lượng tiêu hao không định trước chiếm khoảng 94% tổng lượng
tiêu hao. Như vậy, có thể dễ dàng nhận ra nhiệm vụ cấp nước cho nông nghiệp của
hệ thống chỉ còn chiếm một tỉ trọng rất nhỏ so với các yêu cầu dùng nước khác của
hệ thống.
Tuy nhiên, lượng tiêu hao không định trước có lợi chiếm khoảng 20%, còn
lại khoảng 74% là các tiêu hao không có lợi . Điều này chỉ ra rằng có thể nâng cao
hiệu ích tưới của hệ thống bằng cách giảm bớt lượng tiêu hao không có lợi như
giảm bớt lượng diện tích đất hoang hoá (phi nông nghiệp), gia cố, sửa chữa, xây
mới các công trình thủy lợi (mặt đập, tràn, cống..), hạn chế tổn thất do thất thoát, rò
rỉ và thấm, tăng cường xen canh gối vụ, tăng cường hệ số quay vòng đất vv..
Qua bảng 3.21 cho chúng ta thấy các chỉ số hữu ích là 0,265. Điều này chứng
tỏ hiệu quả tưới của Hồ vẫn chưa cao, lượng nước sử dụng có mục đích chiếm mức
nhỏ trên tổng lượng tiêu hao, hay lượng nước tiêu hao không có lợi chiếm với tỷ lệ
gần 64% lượng nước tiêu hao có lợi và định trước.
Bên cạnh đó, cơ hội cho tiết kiệm nước để nâng cao năng suất nước trong
nông nghiệp có thể bằng cách chuyển đổi cơ cấu cây trồng (chuyển từ những cây có
giá trị thấp sang những cây có giá trị kinh tế cao) hoặc chuyển từ trồng lúa (hiệu quả
thấp) sang sản phẩm thế mạnh cây công nghiệp (chè), nuôi trồng thủy sản, chăn
nuôi hoặc kết hợp giữa các loại hình này.
1. Tất cả lượng nước có sẵn trong vùng đều bị tiêu hao, không có lượng nước
không ràng buộc có thể sử dụng được. Tuy nhiên còn một lượng nước rất lớn (43%
lượng nước cấp vào) thoát ra khỏi lưu vực mà không sử dụng được. Điều này cho
thấy việc quản lý nước trong hệ thống chưa chặt chẽ, nếu trong quá trình quản lý
86
khai thác có biện pháp để hạn chế dòng chảy ra không sử dụng được này thì sẽ tận
dụng được hiệu quả lượng nước cấp vào hệ thống.
2. Nước cấp vào hệ thống thủy nông Hồ Núi Cốc không chỉ cấp cho nông
nghiệp mà còn cấp cho các đối tượng sử dụng nước khác như sinh hoạt, nuôi trồng
thuỷ sản, công nghiệp, thủy điện, sinh hoạt, vv....do đó nếu đánh giá hiệu quả tưới
của hệ thống mà chỉ xét đến các đối tượng sử dụng nước là nông nghiệp thì sẽ
không đầy đủ khi đánh giá hệ thống
3. Chỉ số hiệu suất đơn vị nước tưới (PWET) của hệ thống thủy nông Hồ Núi
Cốc là khá cao so với một số nơi trên thế giới trong khi chỉ số hiệu suất lượng nước
có sẵn cho nông nghiệp (PWaw-tưới ) lại thấp cho thấy rằng vẫn còn nhiều nước có
sẵn cho nông nghiệp không đến được cây trồng vì nó đã được sử dụng cho các mục
đích khác trong vùng (cả có lợi và không có lợi).
3.4.2 Nhận xét, đánh giá về hiệu quả tưới hệ thống thuỷ nông Hồ Núi Cốc
3.4.3 Đề xuất các giải pháp và kiến nghị áp dụng phương pháp Kế toán nước cho
hệ thống thủy nông hồ Núi Cốc
Áp dụng phương pháp kế toán nước cho hệ thống thuỷ nông có thể đưa ra
những đề xuất để tăng hiệu quả và hiệu suất nước, tiết kiệm nước và những chính
sách quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nước của hệ thống.
87
1. Đề xuất nâng cao hiệu quả của hệ thống thuỷ nông hồ Núi Cốc
a. Tăng hiệu suất nước và tiết kiệm nước của hệ thống
Tăng hiệu suất nước, đồng nghĩa với việc sử dụng hiệu quả lượng nước có
sẵn trong hệ thống, điều này có thể được giải quyết bằng các biện pháp:
- Cần phải giảm lượng tiêu hao không có lợi bằng cách chuyển diện tích đất
hoang hóa và mặt nước tự do sang hình thức sử dụng có lợi (như chuyển sang nuôi
trồng thủy sản, trồng cây công nghiệp, cây ngắn ngày hiệu quả kinh tế cao), khai
thác các diện tích đất chưa sử dụng, tăng mức độ sử dụng đất bằng cách gối và xen
vụ vào khoảng thời gian chờ giữa thời đoạn gieo trồng sớm và muộn, giữa lúa và
cây hoa màu.
- Xem xét để chuyển những diện tích đang được trồng lúa mà có hiệu quả
thấp sang các mục đích sử dụng có giá trị cao hơn như những chân ruộng trũng có
thể chuyển sang nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi hoặc kết hợp theo mô hình lúa +
thủy sản +chăn nuôi v.v., những khu ruộng cao có thể chuyển sang trồng hoa màu
hoặc cây ăn quả (vừa tiết kiệm nước, vừa gia tăng giá trị và giảm chi phí cho việc
lấy nước vào ruộng). Tuy nhiên, để có những đề xuất cụ thể cần phải có những điều
tra, khảo sát và nghiên cứu sâu rộng hơn về vấn đề này.
b. Vấn đề quản lý và những chính sách quản lý nước của hệ thống thuỷ nông hồ Núi
Cốc
- Những chính sách quản lý nước của hệ thống thuỷ nông và công tác quản lý
nước của hệ thống là một vấn đề hết sức phức tạp, nhạy cảm. Một chính sách quản
lý tốt không chỉ thoả mãn các mục tiêu kinh tế, môi trường, chính sách đó còn đáp
ứng tốt lợi ích của người nông dân và các đối tượng dùng nước khác trong hệ thống,
những lợi ích này luôn biến động và nhiều trường hợp là trái ngược hoặc xung đột
với nhau. Thông qua việc áp dụng phương pháp kế toán nước trong một năm của hệ
thống thuỷ nông hồ Núi Cốc có thể thảo luận một số chính sách quản lý và công tác
quản lý của hệ thống như sau:
- Ở hệ thống thuỷ nông hồ Núi Cốc nước cấp cho hệ thống không phải chỉ
được dùng cho nông nghiệp (trồng trọt) mà nó còn được sử dụng với lượng tiêu hao
88
đáng kể vào nhiều mục đích khác như thủy điện, thủy sản, công nghiệp, sinh hoạt
(đô thị và nông thôn), giao thông, chăn nuôi và trồng cây ăn quả, v.v. Sự đa dạng về
loại hình sử dụng của các đối tượng dùng nước này có thể dẫn tới những vấn đề nảy
sinh và sự tương tác giữa các ngành, các đối tượng dùng nước với nhau. Đối với
những giai đoạn ít nước (thường là vụ chiêm), xung đột về nước giữa các ngành là
khó tránh khỏi, đặc biệt là vấn đề thiếu nước nghiêm trọng cho môi trường. Khi mà
trong vùng hệ thống dân số càng gia tăng, đô thị phát triển, công nghiệp phát triển,
dẫn đến nhu cầu nước gia tăng, nguy cơ thiếu nước không chỉ cho môi trường mà
còn cho cả các ngành khác nữa (nhất là nông nghiệp) bởi vì nông nghiệp là đối
tượng phục vụ sau khi thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt và công nghiệp. Thậm chí, ngay
trong ngành nông nghiệp trong vùng nghiên cứu, việc phân chia nước cho cây trồng
và nước cho thủy sản, giao thông, các cam kết duy trì dòng nước ở hạ lưu cũng có
những nguy cơ xung đột và mâu thuẫn.
- Đối với hệ thống nghiên cứu, mặc dù nhu cầu nước cho công nghiệp và
sinh hoạt nhỏ hơn nhiều so với nông nghiệp nhưng vấn đề mà nó mang đến không
phải là cạnh tranh về lượng nước mà chính là chất lượng nước, giá trị của nước.
Điều đó cho thấy rằng, quyền quan trọng không phải là quyền cho việc phân phối
nước mà là quyền cho việc quản lý nguồn nước.
Hiện nay, quyền sử dụng tài nguyên nước trong vùng nghiên cứu vẫn chưa
được xác định một cách rõ ràng, đặc biệt đối với các loại hình sử dụng phi nông
nghiệp (như thủy điện, công nghiệp, sinh hoạt, thủy sản, làm vườn, v.v.).
Tóm lại, những vấn đề trên đòi hỏi phải có cơ chế và chính sách phù hợp hơn
cho cả phía những nhà quản lý và phía những người hưởng lợi và không hưởng lợi
trong hệ thống và ngoài hệ thống. Để có cơ sở khoa học về cơ chế, chính sách phù
hợp cho hệ thống cần tiến hành xây dựng các kịch bản dùng nước của hệ thống,
thông qua việc tính toán xác định các chỉ số kế toán nước, hiệu suất nước là căn cứ
trong nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách trong quản lý sử dụng và phân phối
nước của hệ thống.
89
c. Những đề xuất về chính sách quản lý nước trên hệ thống thuỷ nông hồ Núi Cốc
1. Cần phải có những nghiên cứu đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện hơn
nữa về hiệu quả mà nước cấp vào hệ thống mang lại (ngoài lúa và màu theo cách
đánh giá truyền thống). Đồng thời cần phải có những nghiên cứu mang tính định
lượng để xem thực sự nước được phân chia cụ thể thế nào đến các đối tượng dùng
nước và đánh giá được các tương tác giữa các đối tượng dùng nước.
2. Một khía cạnh rất quan trọng, đó là, cần phải thiết lập nên những cơ chế và
chính sách tham gia trong quá trình ra quyết định có tính liên ngành và kể đến tất cả
những bên có liên quan (phía người quản lý vận hành và phía người hưởng lợi,
không hưởng lợi cũng như các ngành có liên quan khác như môi trường) để đảm
bảo quyền lợi cho cả phía cấp nước và phía sử dụng nước cũng như phía chịu ảnh
hưởng bởi những tác động tiêu cực từ các hoạt động có liên quan tới nguồn nước
trong vùng. Bên cạnh đó, cũng cần có những cơ chế thỏa hiệp giữa các đối tượng
dùng nước khác nhau cũng như giữa các đối tượng dùng nước với các cơ quan quản
lý. Đồng thời, cần xây dựng những chế tài cho những hoạt động sử dụng nước (nhất
là từ các khu công nghiệp, đô thị và làng nghề) mà gây ra nguy hại (quá mức quy
định) đối với các đối tượng dùng nước khác.
2. Đề xuất các biện pháp tiết kiệm nước và tăng hiệu suất nước của hệ thống
a. Tăng hiệu suất trên mỗi đơn vị nước được sử dụng
Các biện pháp làm tăng hiệu suất cây trồng trên mỗi đơn vị nước được sử dụng gồm:
- Thay đổi giống cây trồng : thay đổi giống cây trồng mới, có thể làm tăng
sản lượng cho mỗi đơn vị nước được sử dụng hoặc giảm đơn vị nước sử dụng
nhưng sản lượng vẫn giữ nguyên hoặc tăng thêm.
- Thay đổi cây trồng: thay thế loại cây trồng sử dụng nhiều nước bằng loại
cây trồng sử dụng ít nước hơn hoặc chuyển sang loại cây trồng có giá trị kinh tế
cao, hoặc năng suất cao hơn trên mỗi đơn vị nước được sử dụng.
- Tưới đầy đủ, tưới bổ sung hoặc tưới chính xác: quản lý tưới tốt hơn bằng
việc tưới đầy đủ, chính xác và đáp ứng đúng nhu cầu nước của cây trồng nhằm đạt
90
được năng suất cao hơn, sử dụng các chiến lược tưới làm tăng kết quả mỗi đơn vị
nước được sử dụng, cải tiến phương pháp tưới phù hợp với từng loại cây trồng.
- Cải thiện các đầu tư không cần nước: cùng với các chiến lược tưới làm
tăng sản lượng trên một đơn vị nước được sử dụng, các biện pháp nông học như
làm đất và bón phân đúng yêu cầu có thể làm tăng hiệu quả trên đơn vị nước
được sử dụng.
b. Giảm sự tiêu hao nước không hữu ích
Có thể làm giảm sự bốc hơi nước không hữu ích bằng cách:
- Áp dụng các công nghệ tưới tiên tiến: như tưới nhỏ giọt, kỹ thuật tưới vẫn
đảm bảo cung cấp nhu cầu nước của cây trồng nhưng làm giảm tiêu hao nước do
quá trình bốc hơi trên cánh đồng rất lớn, hoặc có thể áp dụng các biện pháp nông
học như che phủ đất bằng phủ rơm, ni long… cũng có thể dịch chuyển thời vụ cây
trồng vào thời kỳ mà nhu cầu bốc hơi giảm.
- Giảm lượng bốc hơi từ đất hoang: bằng cách giảm diện tích hoang hóa, cải
tạo đất, giảm lớp phủ thực vật ít hoặc không hữu ích, tìm kiếm nhưng loại cây mang
lại lợi ích kinh tế phù hợp cho những diện tích đất hoang hóa, kiểm soát cỏ dại.
- Giảm dòng chảy tiêu hao do thẩm thấu qua công trình thủy nông, và thấm
sâu: đưa ra các biện pháp nhằm can thiệp vào quá trình thấm sâu không thể hồi
phục được và dòng chảy trên bề mặt (như cải tạo nâng cấp lại các bề mặt và các
đoạn tiếp nối các công trình thủy nông, khơi thông dòng chảy..).
- Dẫn nước bị ô nhiễm vào vùng xử lý: để bảo vệ nguồn nước sạch trong hệ
thống, các vùng nước bị ô nhiễm cần phải được dẫn trực tiếp đến các khu, các vùng
trũng để xử lý.
c. Phân phối lại nước giữa các đối tượng sử dụng nước
Nguyên tắc của sự phân phối lại nước là từ các sử dụng có giá trị thấp cho các sử
dụng có giá trị cao. Phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của cùng dự
án. Nói chung, sự phân phối lại không đưa đến bất kỳ sự tiết kiệm nước trực tiếp
nào, nhưng làm tăng đáng kể hiệu suất kinh tế của sử dụng nước.
91
- Cần thu hẹp dòng chảy ra không cam kết:
Ở hệ thống thuỷ nông hồ Núi Cốc lượng dòng chảy ra không cam kết không
sử dụng được (lượng rò rỉ thoát ra khỏi hệ thống) là rất lớn (khoảng 43% lượng
nước cấp vào), do đó tăng cường các biện pháp hạn chế lượng dòng chảy ra này sẽ
làm tăng hiệu suất nước của hệ thống. Có thể chỉ ra 1 số biện pháp sau đây:
- Xây dựng quy trình vận hành hệ thống phù hợp, tu bố nâng cấp các công
trình trong hệ thống (tràn, cống lấy nước..) đảm bảo giảm lượng thất thoát
- dựng kế hoạch tưới và bố trí lịch thời vụ hợp lý để tận dụng lượng nước
bơm, lượng mưa
- Giám sát chặt chặt chẽ lượng nước thoát ra khỏi các tiểu vùng bằng các
biện pháp như xây dựng công trình điều tiết tại các cửa thoát nước ra khỏi các tiểu
vùng và tái sử dụng nước hồi quy bằng bơm hoặc bằng tự chảy để làm tăng diện
tích tưới.
- Bổ sung thêm hệ thống dự trữ nước như tăng cường các tầng chứa nước
ngầm, các bể chứa nước hay các ao đầm, kênh mương,.. trong hệ thống để có thêm
lượng nước tưới trong các thời kỳ khô hạn.
- Có biện pháp quản lý tốt để nâng cao trách nhiệm của công nhân vận hành
hệ thống (công nhân thuỷ nông) để đảm bảo tránh thất thoát, lãng phí nước.
3. Kiến nghị áp dụng
Phương pháp kế toán nước ngày càng được áp dụng rộng rãi trong quản lý
tổng hợp tài nguyên nước ở các phạm vi vĩ mô, hệ thống và vi mô nhờ những khái
niệm mới về các thành phần của kế toán nước. Các khái niệm này cho biết quá trình
tiêu hao nước trong hệ thống, đặc biệt là những tiêu hao nước có lợi, không có lợi,
tình trạng sử dụng nước và ảnh hưởng của các can thiệp trong quản lý của hệ thống
đối với tài nguyên nước. Nhờ thế, có thể chỉ ra các hiệu quả về mặt kỹ thuật của hệ
thống, hiệu ích và hiệu suất nước của hệ thống, đây là những căn cứ khoa học để
nâng cao hiệu quả của hệ thống.
Các thành phần của kế toán nước được xây dựng dựa trên nhu cầu sử dụng
nước trong hệ thống ngày càng đa dạng, các thành phần này không chỉ đề cập đến
92
vai trò của tài nguyên nước đối với các loại sản phẩm thu được nhờ tiêu hao nước
trong hệ thống mà còn được xem như hệ thống kế toán sinh học, môi trường và
năng lượng … cho lưu vực hay hệ thống thuỷ lợi.
Phương pháp kế toán nước cho phép nâng cao hiệu quả sử dụng nước của hệ
thống nhờ đưa ra các kịch bản khan hiếm nước bằng các giải pháp tiết kiệm nước
tưới, giảm sự tiêu hao nước không có lợi và thu hẹp dòng chảy ra không cam kết.
Áp dụng phương pháp kế toán nước trong hệ thống không chỉ nhằm nâng cao
hiệu ích sử dụng của mỗi đơn vị nước tiêu hao trong hệ thống mà còn đề cập đến
các quyền sử dụng nước của các vùng lân cận ngoài hệ thống. Nhờ thế, phương
pháp có thể giúp các nhà quản lý và lập kế hoạch, ra chính sách thích hợp nhằm
tránh xung đột giữa các đối tượng sử dụng nước trong và ngoài hệ thống.
Kết quả nghiên cứu hiệu quả tổng hợp của hệ thống thuỷ nông bằng phương
pháp kế toán nước còn giúp cho việc so sánh hiệu quả của các hệ thống với nhau.
Nhờ thế, việc trao đổi và học hỏi kinh nghiệm quản lý điều hành hệ thống sẽ được
tốt hơn và dễ dàng hơn.
4. Những khó khăn khi áp dụng phương pháp kế toán nước
- Về mặt nhận thức: do phải nghiên cứu và xác định lại các khái niệm và
thành phần kế toán nước của hệ thống nên dễ tạo ra tư tưởng ngại mất thời gian và
công sức, do đó không thể áp dụng ngay được nếu không có những hướng dẫn và sự
chỉ đạo thống nhất và cần thiết.
- Các số liệu quan trắc, tính toán để định lượng các thành phần nước đến,
nước có sẵn, nước tiêu hao và chảy ra khỏi hệ thống không dễ dàng thực hiện, đặc
biệt là mức độ chính xác và độ tin cậy của các thành phần này là rất tương đối và
nhiều khi chỉ là những giả thiết. Đây là rào cản khiến nhiều ý kiến trái ngược phản
biện và cản trở việc áp dụng phương pháp. Vì thế, cần phối hợp các thành quả
nghiên cứu sẵn có nhằm tăng cường độ chính xác và tin cậy cho hệ thống.
- Phạm vi nghiên cứu của hệ thống và chọn thời gian tính toán cũng là những
vấn đề cần được cân nhắc kỹ. Đối với hệ thống khi ranh giới được chỉ ra từ các định
chế hành chính thì việc xác định dòng chảy vào ra hệ thống là rất phức tạp. Trong
93
nghiên cứu áp dụng có thể phân mùa, vụ để tính toán, điều này cho phép tăng cường
kinh nghiệm cho những áp dụng theo diện rộng và trong khoảng thời gian kéo dài.
- Để có được một đánh giá hiệu suất sử dụng nước của hệ thống tương đối
chính xác thì khi xác định các thành phần trong kế toán nước đòi hỏi càng chi tiết
càng tốt, nhất là các nhu cầu nước cho các loài thuỷ sinh, dự trữ nước ngầm…,
trong quá trình áp dụng nếu thiếu số liệu nghiên cứu có thể tham khảo kết quả của
các hệ thống, các vùng hoặc của các nước khác, mặc dù độ chính xác của số liệu
không cao nhưng kết quả áp dụng sẽ giúp ích cho các nhà quản lý, lập chính sách có
thể điều khiển hệ thống một cách toàn diện và phù hợp với thực tiễn.
94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận:
Nghiên cứu các chỉ số kế toán nước trong năm 2009 tại hệ thống thuỷ nông
hồ Núi Cốc có thể rút ra các kết luận sau:
1. Khu vực nghiên cứu có nhu cầu sử dụng nước chỉ chiếm gần 10% so với tài
nguyên nước đến gồm mưa và dòng chảy mặt (năm 2009). Như vậy, việc phát triển
kinh tế, xã hội luôn có thể nhận được sự cấp nước đầy đủ.
2. Tại các tiểu vùng trong hệ thống thuỷ nông hồ Núi Cốc tất cả lượng nước có sẵn
trong vùng đều bị tiêu hao, không có lượng nước không ràng buộc có thể sử dụng
được. Tuy nhiên còn một lượng nước rất lớn (từ 43% lượng nước cấp vào) thoát ra
khỏi lưu vực mà không sử dụng được. Điều này cho thấy việc quản lý nước trong hệ
thống chưa chặt chẽ, khai thác lượng nước vào còn hạn chế, nếu trong quá trình
quản lý khai thác có biện pháp để hạn chế dòng chảy ra không sử dụng được này thì
sẽ tận dụng được hiệu quả lượng nước cấp vào hệ thống
3. Nước cấp vào hệ thống thuỷ nông hồ Núi Cốc không chỉ cấp cho nông nghiệp mà
còn cấp cho các đối tượng sử dụng nước khác như thủy điện, sinh hoạt, nuôi trồng
thuỷ sản, công nghiệp,v.v.... Do đó nếu đánh giá hiệu quả tưới của hệ thống mà chỉ
xét đến các đối tượng sử dụng nước là nông nghiệp thì sẽ không đầy đủ khi đánh giá
hệ thống.
4. Chỉ số hiệu suất đơn vị nước tưới (PWET) của hệ thống thuỷ nông hồ Núi Cốc là
khá cao so với một số nơi trên thế giới trong khi chỉ số hiệu suất lượng nước có sẵn
cho nông nghiệp (PWaw-tưới ) lại thấp cho thấy rằng vẫn còn nhiều nước có sẵn cho
nông nghiệp không đến được cây trồng vì nó đã được sử dụng cho các mục đích
khác trong vùng (cả có lợi và không có lợi).
95
Kiến nghị
Trong nghiên cứu này một số các yếu tố chưa được đề cập đến như các yếu
tố về đất đai, thổ nhưỡng, thủy văn, công trình đầu mối, thủy nông v.v.. nên kết quả
tính toán chưa phản ánh thực sự đầy đủ các thành phần kế toán nước trong hệ thống,
đề nghị các nghiên cứu khác tiếp theo cần đề cập đầy đủ hơn các yếu tố này.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong hệ thống thuỷ nông hồ Núi Cốc,
cần áp dụng các nhóm biện pháp như đã nêu tại mục 3.4.3, chương III.
Đề nghị áp dụng phương pháp kế toán nước trong hệ thống thuỷ nông hồ Núi
Cốc nói riêng và các hệ thống thuỷ nông nói chung để đánh giá hiệu quả tưới của hệ
thống thuỷ nông.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Nguyễn Tuấn Anh và Tống Đức Khang. Các phương pháp tính toán quy hoạch
hệ thống thuỷ lợi. Nhà xuất bản Nông nghiệp, tháng 4 năm 2004.
2. Bùi Hiếu. Giáo trình cao học ngành thuỷ nông, Chương 5 : Đánh giá hiệu quả hệ
thống tưới tiêu; Trường Đại học thuỷ lợi; năm 2006.
3. Nguyễn Trọng Hà. Bài giảng dành cho Cao học: Kế toán nước, năm 2005.
4. Bùi Hiếu, Trần Quốc Lập. Báo cáo khoa học: Công trình thuỷ lợi phục vụ phát
triển các ngành kinh tế khác nông nghiệp của các tỉnh vung trung du miền núi phía
Bắc Việt Nam. Trường Đại học Thuỷ lợi; Năm 2005.
5. Đinh Thanh Mừng. Phương pháp kế toán nước một ứng dụng cho lưu vực sông
Hương miền Trung Việt Nam; Tập san Khoa học và Môi trường; Đại học thuỷ lợi
tháng 9,2005.
6. Nguyễn Thế Quảng và Đoàn Doãn Tuấn. Phương pháp phân tích hiệu quả hoạt
động của hệ thống thuỷ nông. Đặc san KHCN Thuỷ lợi; Viện Khoa học Thuỷ lợi; số
2, tháng 7 năm 2005.
7. Phạm Văn Thú. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng nước trong hệ thống thuỷ
nông Bắc Hưng Hải theo quan điểm kế toán nước. Luận văn thạc sỹ , năm 2008.
8. Thái Thị Khánh Chi. Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý
khai thác hệ thống thuỷ nông Bắc Đuống-Bắc Ninh. Luận văn thạc sỹ , năm 2011.
9. Dương Thị Kim Thư. Nghiên cứu hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông
Nam Thạch Hãn bằng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả. Luận văn thạc sỹ ,
năm 2006
10. Nguyễn Thị Diên. Nghiên cứu đánh giá hiện trạng các công trình cấp nước và
cơ sở khoa học của một số giải pháp cải tạo, nâng cao hiệu quả cấp nước cho hệ
thống thuỷ lợi Nam Thái Bình nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu. Luận văn thạc
sỹ , năm 2011.
11. Nguyễn Thanh Tuyền. Nâng cao hiệu quả công trình thuỷ lợi đập dâng Liễn
Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc. Luận văn thạc sỹ , năm 2011.
Tiếng Anh
12. Bos, M.G.et al.(1994), Methodologies for assessing performance of irrigation
and drainage; Irrigation and Drainage System 7,231-261.
10. Bos, M.G. et al (1997). Performance indicaters for irrigation and drainage;
Irrigation and Drainage System 11,119-137.
13.Molden,D.J. and Gate, T.K. (1990). Performance measures for evaluation of
irrigation water delivery system. Journal of irrigation and drainage Engineering,
vol 116, No.6, pp.808-823.
14. Molden,D.J. (1997) Accouting for water use and productivity. SWIM Paper 1.
Colombo, Srilanka: International Water Management Institute.
15. Molden,D.J. and Sakthivadivel. R, Perry, C.J, Charlotte de Fraiture and
Kloezen,W.H (1998). Indicators for comparing performance of irrigated
agricultural systems. Research Report 20. Colombo, Srilanka: International Water
Management Institute.
16. Molden,D.J. and Sakthivadivel,R. (1999). Water accounting
To assess use and productivity of water. Water Resources Development,
Vol.15,Nos.1/2, 55-71.
17. Molden,D.J. and Sakthivadivel,R and Habib,Z.(2001). Basin-level use and
productivity of water: Examples from South Asia. Research Report 49. Colombo,
Srilanka: International Water Management Institute.
18. Molden,D.J. and Sakthivadivel,R and Samad, M (2001). Accounting for
Changes in water use and need for Institutional Adaptation. Interectoral
Management of River Basin. Colombo, Srilanka: International Water Management
Institute.
19. Murray-Rust,D.H. and Snellen, W.B (1993). Irrigation System Performance
assessment and diagnosis. Colombo, Srilanka: International Water Management
Institute.
20.Renault, D. et. Al.(2001). Importance of water consumtion by perenial

