
Luận văn thạc sỹ Trang 1 Ngành: Kinh tế TNTN&MT
Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT
MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, khi nhắc đến môi trường chúng ta luôn đi kèm với sự ô
nhiễm bởi các chất hoá học, sinh học… gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con
người, các cơ thể sống khác. Ô nhiễm môi trường được chia thành ba dạng cơ
bản như sau:
Ô nhiễm môi trường đất
Là hậu quả các hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh
thái vượt qua những giới hạn sinh thái của các quần xã trong đất. Với nhịp độ
gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hoá như
hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày
càng bị suy thoái. Riêng chỉ với ở Việt Nam, thực tế suy thoái tài nguyên đất
là rất đáng lo ngại và nghiêm trọng.
Ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý - hoá
học - sinh học của nước, với sự xuất hiện hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm
cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa
dạng sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô
nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.
Ở các đại dương, nguyên nhân chính gây ô nhiễm đó là các sự cố tràn
dầu. Ô nhiễm nước có nguyên nhân từ các loại chất thải và nước thải công
nghiệp được thải ra lưu vực các con sông mà chưa xử lý đúng mức; các loại
phân bón hoá học và thuốc trừ sâu ngấm vào nguồn nước ngầm và nước ao
hồ; nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu dân cư ven sông.

Luận văn thạc sỹ Trang 2 Ngành: Kinh tế TNTN&MT
Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT
Ô nhiễm không khí
Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan
trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra
sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do bụi. Hiện nay, ô nhiễm khí
quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giới chứ không phải riêng của
một quốc gia nào. Môi trường khí quyển đang có nhiều biến đổi rõ rệt và có
ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật.
Những vấn đề nổi cộm trên cho thấy, nhân loại đã bị đặt vào một bài
toán vô cùng khó khăn để khắc phục và làm giảm các tác động của ô nhiễm
tới môi trường sống. Để giải quyết tương đối bài toán này, một công cụ hữu
hiệu nhất là sử dụng Luật Môi trường. Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ Môi trường
được ban hành đầu tiên vào ngày 27 tháng 12 năm 1993. Đến ngày 29 tháng
11 năm 2005, Luật Bảo vệ Môi trường số 52/2005/QH11 đã sửa đổi, bổ sung
Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993. Đến nay đã trải qua 18 năm thi hành và
có bổ sung, sửa đổi, cùng nhiều văn bản hướng dẫn, triển khai, nhưng so với
các nước phát triển, lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam còn khá mới và
chỉ được quan tâm đặc biệt trong khoảng 5 năm trở lại đây do yêu cầu quản lý
môi trường trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Bởi vậy, pháp luật về
bảo vệ môi trường chưa điều chỉnh hết các mối quan hệ trong xã hội, một số
văn bản còn chưa được ban hành hoặc đã ban hành nhưng không sát với thực
tế, thiếu tính khả thi, không thể thi hành được.
II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Sử dụng các mô hình kinh tế để phân tích, đo lường giá trị thiệt hại
nhằm nâng cao hiệu lực của Luật và Chính sách môi trường, phục vụ cho
công tác quản lý vi mô, vĩ mô.

Luận văn thạc sỹ Trang 3 Ngành: Kinh tế TNTN&MT
Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Dựa trên cơ sở kinh tế Phúc lợi, kinh tế Vi mô, kinh tế tài nguyên thiên
nhiên và môi trường, Luật và Chính sách môi trường.
IV. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Các tác động về mặt kinh tế của Luật và Chính
sách môi trường.
Nghiên cứu lý thuyết, sử dụng các công cụ, chỉ tiêu, biện pháp môi
trường để phân tích.

Luận văn thạc sỹ Trang 4 Ngành: Kinh tế TNTN&MT
Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT
Chương I
TỔNG QUAN
Hệ thống pháp luật Việt Nam là tổng thể các quy phạm pháp luật, các
nguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật có mối liên hệ mật thiết và
thống nhất với nhau, được phân định thành các ngành luật, các chế định pháp
luật và được thể hiện trong các văn bản do cơ quan Nhà nước Việt Nam có
thẩm quyền ban hành theo những hình thức, thủ tục nhất định.
Việc gọi tên hệ thống pháp luật có nhiều quan điểm khác nhau, trong
đó, có quan điểm cho rằng, hệ thống pháp luật bao gồm hai bộ phận là công
pháp và tư pháp, quan điểm khác cho rằng cần phải phân biệt hai khái niệm:
Hệ thống pháp luật và hệ thống pháp luật thực định và quan điểm chỉ có một
khái niệm hệ thống pháp luật, không thể phân biệt rõ nét hai khái niệm hệ
thống pháp luật và hệ thống pháp luật thực định. Theo quan điểm này, hệ
thống pháp luật có nội dung rất rộng, bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật
hiện hành và những nguồn khác nữa của pháp luật tồn tại trên thực tế mà dựa
trên cơ sở đó tính hiện thực của pháp luật đựơc bảo đảm và pháp luật phát huy
hiệu lực. Theo quan điểm này hệ thống pháp luật là một khái niệm chung bao
gồm hai mặt cụ thể là: Hệ thống cấu trúc của pháp luật và hệ thống văn bản
pháp luật (hệ thống nguồn của pháp luật).
Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam bao gồm: Hiến pháp do Quốc hội
ban hình và luật (bộ luật) do Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước ký quyết
định ban hành. Có thể kể một số bộ luật như: Luật sở hữu trí tuệ, luật hình
sự, luật trách nhiệm dân sự, luật hợp đồng và luật bảo vệ môi trường.

Luận văn thạc sỹ Trang 5 Ngành: Kinh tế TNTN&MT
Học viên: Mai Thị Quyên Lớp: CH17KT
1.1. LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM
Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, được Quốc hội Việt Nam khoá XI trong
kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực vào
ngày 01 tháng 7 năm 2006, là luật quy định về quyền tác giả, quyền liên quan
đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây
trồng và việc bảo hộ các quyền đó.
1. Quyền sở hữu trí tuệ: quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí
tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả,
quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
2. Quyền tác giả: quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do
mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
3. Quyền liên quan đến quyền tác giả: quyền của tổ chức, cá nhân đối
với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát
sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
4. Quyền sở hữu công nghiệp: quyền của tổ chức, cá nhân đối
với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp
bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh
doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh
không lành mạnh.
5. Quyền đối với giống cây trồng: quyền của tổ chức, cá nhân đối với
giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát
triển hoặc được hưởng quyền sở hữu.
6. Tên thương mại: tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động
kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với
chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực.

