1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ TRANG
TƢ TƢỞNG CẢI CÁCH HỒ QUÝ LY VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
CỦA NÓ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà Nội – 2015
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ TRANG
TƢ TƢỞNG CẢI CÁCH HỒ QUÝ LY VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
CỦA NÓ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bình Yên
Hà Nội – 2015
3
M ĐẦU
1. Lý do chọn đềi
Lịch sử Việt Nam lịch sử đấu tranh giành, giữ, xây dựng bảo vệ độc
lập dân tộc. tưởng chủ đạo của dân tộc Việt Nam tưởng yêu nước. Sự
hình thành phát triển của tưởng yêu nước Việt Nam đi đôi với shình thành
phát triển của quốc gia dân tộc. Qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, dân tộc
Việt Nam đã chứng minh rằng chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không chỉ là tình
cảm đơn thuần đối với non sông, đất nước mà còn hệ thống tiêu chuẩn để nhận
định đúng - sai, tốt - xấu; kim chỉ nam cho hành động của mọi thành viên, gia
đình, dòng tộc dân tộc trong mọi giai đoạn lịch sử. Lòng yêu nước của dân tộc
Việt Nam bao giờ cũng gắn với hành động đất nước, sự phát triển phồn
vinh của dân tộc; không chỉ thể hiện trong các cuộc chống quân xâm lược, mà còn
thể hiện trong lao động sản xuất xây dựng quê hương; trong việc tìm ra những
phương hướng, những bước đi mới làm cho đất nước phát triển mà đỉnh cao
những tư tưởng, hành động canh tân, cải cách.
tưởng canh tân, cải cách tìm đường phát triển đất nước một vị thết
sức đặc biệt đó cũng một biểu hiện đặc biệt của tinh thần yêu nước Việt
Nam. Trên đường phát triển của dân tộc, mỗi thời kỳ lịch sử đều những
tưởng, những cuộc cải cách do Nhà nước chủ trương hoặc nhân đề xướng như
cải cách của Khúc Hạo ở thế kỷ thứ X, của Hồ Quý Ly cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ
XV, của Lê Thánh Tông vào nửa cuối thế kỷ XV, của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn
Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ… cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đặc biệt là công cuộc
đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng lãnh đạo diễn ra từ những
năm 80 của thế kỷ XX cho đến nay đã tạo ra bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện
chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Trong số những tư tưởng cải cách trước đây, tư
tưởng cải cách của Hồ Quý Ly vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam thời kỳ
4
trung đại, mở đầu cho bước phát triển mới của Nhà nước trung ương tập quyền
sau đó được hoàn thiện dưới triều Lê Thánh Tông.
Tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly xuất hiện vào cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ
XV, đúng vào lúc lịch snước ta đứng trước ba đòi hỏi lớn: Một phải loại bỏ
vai trò của quý tộc Trần đã suy thoái trên đài chính trị tưởng; hai là, mở
đường cho đất nước tiến lên theo một hướng mới hơn, tiến bộ hơn; ba là, xây dựng
lực lượng chống lại âm mưu xâm lược của nhà Minh.
tưởng công cuộc cải cách của Hồ Quý Ly đã tấn công mạnh mẽ vào
toàn bộ cở sở chính trị, kinh tế, hội đang trong khủng hoảng của nhà Trần.
Song, chừng ấy chưa đủ đáp ứng yêu cầu của lịch sử, cải cách thất bại. Nguyên
nhân chỗ: tưởng, cách thức tiến hành cải cách của Hồ Quý Ly những
điểm chưa hợp lý; công cuộc cải cách mới diễn ra trong một khoảng thời gian
ngắn thì đất nước phải chịu cuộc chiến tranh xâm lược do nhà Minh phát động nên
chưa được những thành tựu cần thiết minh chứng cho sự tiến bộ của mình;
những hạn chế của cải cách một trong những nguyên nhân dẫn tới việc triều Hồ
đã không thể tập hợp, huy động được sức mạnh, trí tuệ của toàn dân vào sự nghiệp
chống giặc Minh xâm lược.
Mặc dù tư tưởng cải cách của ôngnhững hạn chế, sai lầm, công cuộc cải
cách do ông lãnh đạo không thành công nhưng chúng vai trò đặc biệt, mở đầu
cho một giai đoạn mới trong đó dân tộc ta không ngừng tìm tòi đổi mới để phát
triển. Nhiều tưởng cải cách do Hồ Quý Ly nêu ra nhưng chưa được thực hiện
trong thời đại của mình thì đã được nhà Lê bản hoàn thành trong thời gian
sau đó không lâu. Những bài học lịch sử quý báu đúc kết từ chính sthành bại
trong cải cách của Hồ Quý Ly ít nhiều còn giúp cho các thế hệ người Việt Nam
hiện nay có thêm những điều kiện để nhận thức, đẩy nhanh công cuộc đổi mới đất
nước đồng thời tránh được những vấp váp, sai lầm mà tiền nhân mắc phải. Do vậy,
5
việc quay lại nghiên cứu tưởng Hồ Quý Ly ý nghĩa luận thực tiễn sâu
sắc, không chỉ nâng cao hiểu biết về tưởng cải cách Hồ Quý Ly cùng như lịch
sử tưởng Việt Nam còn góp phần nâng cao nhận thức về đường lối đổi mới
đất nước của Đảng ta hiện nay, gợi mcho chúng ta con đường phát triển để đưa
đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu. Từ những do đó, tôi chọn đề
tài tƣởng cải cách của Hồ Quý Ly ý nghĩa lịch scủa làm đề tài
luận văn thạc sĩ triết học của mình.
2. Tng quan tình hình nghiên cứu đề tài
tưởng cải cách của Hồ Quý Ly cùng thân thế, sự nghiệp của ông đã
đang là đề tài được nhiều người quan tâm nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau;
vấn đề này được chú trọng hơn trong quá trình đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo
của Đảng ta. Tính từ năm 1945 đến nay đã nhiều công trình nghiên cứu về đề
tài này, tiêu biểu là những công trình sau đây:
“Chính trị Hồ Quý Ly” của Chu Thiên, NXB Đại La, Nội, 1945. Điểm
nổi bật của công trình này là sau khi phân tích tư tưởng và hoạt động chính trị của
Hồ Quý Ly, Chu Thiên đã đi đến kết luận rằng công cuộc cải cách của Hồ Quý Ly
không hiệu quả, không ảnh hưởng trực tiếp lớn lao trong quần chúng;
Hồ Quý Ly là nhà cải cách chính trị không tròn phận sự.
Trong chuyên khảo “Hồ Quý Ly Mạc Đăng Dung” của Lê Văn Hòe, do
Quốc học thư xã Hà Nội xuất bản vào năm 1952, đã khảo cứu những nguyên nhân
đi đến thất bại của Hồ Quý Ly trong cải cách trong kháng chiến chống quân
xâm lược Minh. Tác giả nhận định: “Hồ Quý Ly một nhà chính trị quá ư cấp
tiến, nên hóa chính trị. Thật vậy, bắt dân phải nộp vàng, bạc thật vào kho nhà
vua, phát hành giấy bạc buộc dân tiêu, buộc dân khai tên vào sổ hộ tịch, buộc dân
nêu tên họ diện tích từng thửa ruộng, những việc đó đều là những việc mới mẻ,