Lý Thái Tổ
Lý Thái Tổ (974 1028) vị Hoàng đế đầu tiên của nhà Lý trong lịch sử Việt
Nam, trị từ năm 1009 đến khi qua đời m 1028. Dưới triều nhà Tiền Lê, ông m
quan đến chức Điện Tiền Chỉ Huy Sứ, một chức quan chỉ huy quân đội bảo v
kinh đô Hoa Lư bấy giờ. Ông được lực lượng của Đào Cam Mộc sư Vạn Hạnh tôn
làm vua sau khi vua Long Đĩnh qua đời. Dưới triều ông, triều đình trung ương
được củng cố,[1] các thế lực phiến quân bị đánh dẹp, kinh đô được dời từ Hoa Lư về
thành Đại La vào tháng 7 m Thuận Thiên thhai (1010), và thành này được đổi tên
thành Thăng Long.
Thân thế
Thái Tổ (chữ Hán: 李太祖) húy Công Uẩn (李公蘊) sinh ngày 12
tháng Hai năm Giáp Tuất[2] (tức 8 tháng 5 năm Mậu Thìn âm lịch, 6 tháng 6 m 974
dương lịch), người hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang (nay Đình
Bảng, thị Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đền thờ) .[3] Mẹ người họ Phạm. Khi lên 3
tuổi, mẹ ông đem ông cho Khánh Văn, trụ trì chùa Cổ Pháp m con nuôi đi tu
từ đó. Đến 7 tuổi, ông được cha nuôi gửi cho một người bạn thiền nổi tiếng
Vạn Hạnh dạy dỗ.
Lớn lên, với sự bảo hộ của sư Vạn Hạnh, ông vào kinh đô Hoa Lư m quan
nhà Tiền Lê, thăng đến chức Tả thân vĐiện tiền Chỉ huy sứ. Theo Đại Việt ský
toàn thư, ông người khoan thứ nhân từ, lượng đế vương. Các sử gia ghi chép
không thống nhất về nguồn gốc thân thế của ông[4][5][6]. Ông đã được sư Vạn
Hạnh ở chùa Lục Tổ khen như sau:
“Đứa này không phải người thường, sau này lớn lên ắt thể giải nguy g
rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ.
—Sư Vạn Hạnh[2]
Thời Tiền Lê
Lý Công Uẩn lớn lên thời Lê Đại Hành, ông theo giúp hoàng tử Lê Long Việt.
Năm 1005, Đại Hành mất, các con tranh giành ngôi vua. Năm 1006,
Long Việt giành được ngôi báu, trở thành vua Lê Trung Tông. Nhưng chỉ được 3 ngày
Trung Tông bị em là Lê Long Đĩnh giết hại giành ngôi. Lúc đó các quan đều sợ hãi bỏ
chạy, chỉ có Lý Công Uẩn đến ôm xác Trung Tông khóc.
Long Đĩnh không những không trị tội khen Lý Công Uẩn là người trung
nghĩa, tiếp tục trọng dụng ông vào chức cho làm Tứ sương quân phó chỉ huy sứ, rồi
sau đó thăng đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ.
Theo "Ngọc phả các vua triều Lê" các di tích cố đô Hoa - Ninh Bình,
Công Uẩn hàng m theo thiền sư Vạn Hạnh vào hầu vua thành Hoa Lư,
Công Uẩn được vua yêu, cho ở lại kinh thành học tập quân sự. Vua lại gả con gái cả
Thị... sinh ra Phật đặc phong cho Công Uẩn m Điện tiền cận vệ
thành Hoa . Dần dần, Công Uẩn thăng lên chức Điện tiền chỉ huy sứ. Chức ấy chỉ
dành cho hoàng tộc hoặc quốc thích mới được trao. Chính nhờ vậy về sau,
Công Uẩn đã đem ngôi vua về cho họ Lý.[7]
Lên ngôi
Các bộ sử cổ của Việt Nam như như Việt sử ợc, Đại Việt sử toàn thư và
Khâm định Việt sthông gm cương mục thống nhất chép rằng tháng 10 m 1009,
vua nhà Tiền Lê Long Đĩnh mất, các con còn nhỏ, quan Điền tiền chỉ huy sứ
Công Uẩn được sự ủng hộ của Chi nội Đào Cam Mộc cùng thiền Vạn Hạnh đã
lên ngôi hoàng đế; các quan trong triều đều nhất trí suy tôn[8][9]; thái hậu nhà Tiền
Lê (vợ Lê Đại Hành) gọi ông vào cung mời lên ngôi vua[10].
Riêng trong sách Đại Việt sử ký tiền biên, sử gia Ngô Thì ghi lại lời nghi
vấn về việc Lý Công Uẩn giết Lê Long Đĩnh để đoạt ngôi[11]:
“Có người nói Khai Minh vương hung hãn bạo ngược,... Thái Tổ rất căm
phẫn trước tội ác giết anh cướp ngôi của Khai Minh Vương, nhân lúc Khai Minh
Vương bệnh tật, sai người vào đầu độc giết đi rồi giấu kín việc đó, nên skhông được
chép, nếu quả như vậy, cũng là đạo Trời hay báo, nên chép phụ vào để làm răn”
—Đại Việt sử ký tiền biên - Ngô Thì Sĩ
Sách Đại Việt Sử Toàn thư cũng chép thái độ của Công Uẩn sau khi
nghe Vạn Hạnh khuyên giành lấy ngai vàng, nhưng không nói tới việc giết Long
Đĩnh:
“Công Uẩn sợ câu nói ấy tiết lộ, bảo người anh em đem Vạn Hạnh giấu ở Tiêu
Sơn. Song từ đấy cũng lấy thế tự phụ, mới nảy lòng ngấp nghé ngôi vua”
—Đại Việt Sử ký Toàn thư[12].
Tuy nhiên, các bộ sử, kể cả Đại Việt sử tiền biên, đều ghi nhận việc trăm
quan của triều đình suy tôn Lý Công Uẩn khi ông lên ngôi ssách không ghi
nhận một cuộc nổi dậy nào của những người nhân danh trung thành với nhà Tiền
để chống lại nhà Lý sau khi triều đại này hình thành.
Tượng đài Thái Tổ (21,18456701°B 106,07636702°Đ) tại trung tâm thành
phố Bắc Ninh
Đại Việt sử lược có ghi chép:[13]
Trong làng vua cây bông gạo bị sét đánh, để dấu vết thành bài văn, trong đó
có những câu:
Phiên âm:
Thụ căn yểu yểu
Mộc biểu thanh thanh
Hòa đao mộc lạc
Thập bát tử thành...
Tạm dịch:
Gốc rễ thăm thẳm
Vỏ cây xanh xanh
Lúa dao cây rụng
Mười tám hạt thành...
Theo phép chiết tự chữ Hán, mấy câu này ẩn ý nhà Lê sẽ mất (cây rụng) và nhà
(thập () + bát () + tử () thành chữ lý ()) sẽ nổi lên. Sư Vạn Hạnh bèn nói
với Lý Công Uẩn rằng: "Gần đây tôi thấy bài sấm văn lạ, biết nhà đương mất
nhà đương lên. Họ Lý lại không ai khoan hòa, nhơn hậu trung thứ nông,
nên rất được lòng dân. Nay tuổi của tôi đã n 70 rồi, chỉ sợ không kịp thấy sự thịnh
trị mà lấy làm giận". Lý Công Uẩn sợ lời nói tiết lộ ra nên bảo Vạn Hạnh vào ẩn Ba
Sơn".
Còn Khâm định Việt sThông giám cương mục, Chính biên, Quyển I thì nêu
ra lời phê về sấm truyền họ Lý sẽ làm vua:
“Bờ cõi BắcNamtuy khác, nhưng vận hội vẫn như nhau: nhà Lê thì
chuyện khoác áo long cổn, nhà Lý thì lời sấm truyền ghi trên thân cây, sao mà giống
chuyện với bên Tống thế! Hay người m sử thấy thế, ép gán gẩm vào với nhau
để cho thần dị câu chuyện, chứ trời kia có ý làm ra như thế đâu?”
—Khâm định Việt sử Thông giám cương mục[14].
Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế tháng 11, ngày Quý Sửu, năm Kỷ Dậu[15] (tức
21 tháng 11 năm 1009), đặt niên hiệu Thuận Thiên (nghĩa “theo ý trời”). Ông
phong cha Hiển Khánh Vương, mẹ Minh Đức Thái hậu, chú Đạo Vương,