Lý thuyết về điểm nhìn ngh
thuật của R. Scholes và R.
Kellogg
Thuật ngữ “đim nhìn(1) đã trở nên quen thuộc trong nghiên cứu văn học nói chung
và nghiên cu tự sự học nói riêng, tuy nhiên tầm quan trọng, v trí và vai trò của nó trong
việc tạo dựng, xác lập mô hình cấu trúc tác phẩm, sự chi phối của đim nhìn trong ngh
thuật kể chuyện đến mc độ nào thì vẫn là một vấn đề còn gây nhiều tranh luận khá gay gắt.
Manh nha tđầu thế kỷ XX, vấn đề điểm nhìn tuy không còn quá quan trọng trong các
cuộc tho luận ở phương Tây(2) hiện nay nhưng li trở thành mt phần hiển nhiên, không
ththiếu của nghiên cứu nghệ thuật kể chuyện. Trong các chuyên luận bàn v kỹ thuật, thủ
pháp kể chuyện, hầu hết các c giđều sử dụng đim nhìn như mt khái niệm công cụ
bản nhm c lập các mô hình truyện kể hoặc ít nhất dành riêng một chương “điểm nhìn”
trong kết cấu của công trình.
Hiểu một cách đơn gin nhất, điểm nhìn chính một “mánh kh” thuộc về kỹ
thuật, một phương tiện để chúng ta thể tiến đến cái đích tham vọng nhất: sức quyến
ca truyện kể. Và dùs dụngch thức nào, phương pháp hay kỹ thuật nào thì mục đích
cuối cùng ca nời sáng tạo cũng chỉ là mê hoặc độc giả, buộc anh ta phi đọc.
Tớc hết cần phải xác định rõ rằng, đim nhìn đim xuất phát của một cấu trúc
nghệ thuật chứ không phải là bản thân cấu trúc đó. Cấu trúc nghệ thuật vốn là hằng số
không đổi của những quan hệ củac yếu tố nghệ thuật được lựa chọn để đưa vào tác
phẩm. Đim nhìn nghthuật chiếu cái nhìn vàoc yếu t được lựa chọn, thêm bt hoặc
nhấn mạnh và ch được suy ra từ cái nhìn tổng thể đối với tác phẩm ngh thuật, theo yêu
cu của người tiếp nhận.
Khi Henry James trong Nghệ thuật văn xuôi (1884) xác lập điểm nhìn chính là “mô
tả cách thc tồn tại của tác phm như một hành vi mang tính bản thể hoặc một cấu trúc
hoàn chỉnh, tự trị đối với cá nhân nhà văn”(3) và “Điểm nhìn s lựa chọn cự li trần thuật
nào đó loại trừ được s can thiệp của tác giả vào các s kiện được miêu t và cho phép văn
xuôi tr nên tự nhiênhơn, phù hợp với cuộc sống hơn(4) đánh dấu một bước phát triển đáng
k trong nghiên cứu nghệ thuật kể chuyện, kể từ đó điểm nhìn nghthuật được coi là một
nhân tố bộc lộ kỹ thuật tiểu thuyết của nhà văn, một mắt ch khách quan, nội tại, duy nhất
mà theo đó chúng ta thđánh giá được “tay nghề” củac giả.
T những nhận định mangnh khái quát, sơ lược về điểm nhìn trongc tđiển,
chẳng hạn như đim nhìn là “v t của người kể trong mối quan hệ vi câu chuyện của anh
ta”(5) và nời ta phân biệt điểm nhìn với ba loại chính: người kể chuyện toàn tri (người kể
thông sut mọi sự), người kể chuyện ngôi thứ ba; và truyện kể ngôi thứ nhất, việc nghiên
cu điểm nhìn đã đi những ớc dài trên hành trình kiếm tìm chân, trở nên h thống,
phc tạp và tinh vi hơn nhiều. Đáng chú ý làc công trình của P. Lubbock, G. Genette, B.
Uspenski, W. Booth, R. Scholes và R. Kellogg, I. Lotman, S. Lanser... Mt đim dễ nhận
thấy là hu hết những nghiên cứu về đim nhìn đều chú trọng vào người kể chuyện và phân
loại thành nhiều kiểu người kể chuyện, chẳng hạn như đó kiu người kể chuyện “ngôi thứ
nhất” hoặc “ngôi thứ ba”, người kể chuyện toàn tri hoặc toàn tri một phần (Partially
omniscient) hoặc gii hạn (limited), người kchuyện theo điểm nhìn bên trong hoặc bên
ngoài, người kể chuyện kịch hoá (dramatized) hoặc phi kịch hoá (non-dramatized), người
k chuyn làc nhân vật trong truyện hoặc là không. Các kiểu người kể chuyện tuy có giới
hạn nhưng đã được xác lập, trở thành nhng khái niệm công cụ bản để từ đó mỗi nhà
nghiên cứu tìm tòikhai thác theo một cách thức riêng các vấn đề của đim nhìn ngh
thuật cũng như nghệ thuật kể chuyện.
W. Booth chú ý đến khoảngch và theo ông khoảng cách là một trong những yếu tố
quan trọng nhằm xác lập điểm nhìn trong truyện kể. Những “khoảng cách thẩm mỹ” sẽ
mang chứa những đối thoại hàm ẩn gia tác giả, người kể chuyện, nhân vật độc giả(6). B.
Uspenxki khám phá điểm nhìn trên năm bình diện khác nhau: bình din tưởng hệ, ngôn
v, miêu t không gian và thời gian, tâm lý và phc hp(7). S. Lanser với quan nim điểm
nhìn ngh thuật là tưởng và thpháp, đã ly xuất phát đim từ các vấn đề triết học về
điểm nhìn nghiên cứu thi pháp đim nhìn t vị trí, sự tiếp c (contact) và quan đim/
thái độ (stance)(8)... S ấn định này về người kể chuyện trong văn bảnờng như đã thay
đổi ít nhiều khi mt skhái niệm của ngôn ngữ học được sử dụng rộng rãi người ta chấp
nhận các khái nim tiêu đim vàc cấp đtiêu c của G. Genette hoặc nhấn mạnh đến
mối quan hệ giữac yếu tố này…
hình tự sự của R. Scholes và R. Kellogg
Mt trong những cuốnch nghiên cứu về tự sđược các nhà lý luận phê bình áp
dụng khá nhiều là Bn chất của tự sự(9)ca R. Scholes và R. Kellogg xuất bản lần đầu vào
năm 1966. Trong công trình này vấn đề điểm nhìn đã được xem xét như là một trong những
yếu tố quan trọng tạo dựng cấu trúc tác phẩm và xác lp mô hình truyện kể. Theo R.
Scholes và R. Kellogg thì đim nhìn là vấn đề ca chính nghệ thuật kể chuyện, nó không
chia xẻ với thơ ca hoặc là văn học kịch. Ở đây mối quan hệ giữa người kể chuyện - truyện
k và mối quan hệ giữa nời kể chuyện - độc githực chất là nghệ thuật kể chuyện. Như
thế nhân tố quan trọng chính là người kể chuyện và c giđã tp trung vào nhân tố này.
Nói chung ngh thuật k chuyện có ba đim nhìn: điểm nhìn ca nhân vật, điểm nhìn ca
người kchuyện và điểm nhìn ca người đọc. Khi truyện kể trở nên phc tạp hơn thì đim
nhìn th nảy sinh từ sự khác biệt rõ rệt giữa người kể chuyện và tác giả. Theo tác giả đặc
nh phúng thích bên trong truyện kể là cơ sở tự nhiên ca nghệ thuật kchuyện. Chính sự
ln lên trong nhận thức của người ngh kể chuyện và s tham gia của hbằng khả năng
phúng thích c hữu trong sự điều khiển điểm nhìn tạo ra quá trình phát triển thực sự của
lịch sử văn hc. Tác gichỉ rõ rằng: “Vấn đề châm biếm trong truyện kể là một chức năng
ca sự chênh lệch giữa ba hoặc bốn đim nhìn này. Và những người nghệ sĩ kể chuyện luôn
sn sàng s dụng sự khôngơng ứng này để tạo ra những ấnợng riêng bit”(10).
Sự chi phối của điểm nhìn trong truyện kể, theo Scholes và Kellogg chính là vấn
đề quyền năng của nời kể chuyện. đây các tác giả đã khảo sát quyền năng của người
kể chuyện truyền thống, Sử quan (histor), chứng nhân (eye-witness) và toàn tri. Vấn đề
không phải là truyện được kể ở ngôi thứ nht hay thứ ba mà là nhận thức về uy quyền và
sự chi phối của người kể chuyện trong truyện kể. Trước hết, quyền năng của người kể
chuyện phụ thuộc vào sự phân loại truyện kể, đó là sử thi, tiểu thuyết lãng mn hay tiểu
thuyết bợm nghịch; là truyện kể theo lối kinh nghim haycấu. Trong mi tình thế
truyện kể người kể chuyện sẽ xác lập một chỗ đứng, đồng thời chi phối các sự kiện trong
truyện. Thứ hai là đặc tính và phẩm chất của mỗi kiểu người kể chuyện sẽ tạo ra những
quyền năng khác nhau trên từng cấp độ của truyện kể. Ở đây tác giả nhận ra đặc điểm của
từng kiểu người kể chuyện và cơ sở cho quyền năng của anh ta ở từng kiểu truyện đối với
việc nhận thức hiện thực. Chẳng hạn, người kể chuyện truyền thống trong các huyền thoại
bao giờ cũng kể về các sự kiện của quá khứ và chính truyn thống mang lại cho bản thân
nó sức mạnh. Ở đây, người kể chuyn (các nhà thơ sử thi) là cái kho lưu giữ truyền thống,
thc hiện chức năng tiêu khin, đồng thi cũng là nhà viết sử. Truyền thống cấp cho anh
ta quyền lực nhưng đồng thời cũng gii hạn tính phóng khoáng của anh ta. Những nlực
nhm thay đổi quyền lực của người kể chuyện truyền thống là quá trình cố gắng của các
nhà thơ sử thi đi từ sự bó buộc, quy phm đến với sáng tạo bằng sức mạnh của cảm hứng.
Hoặc ở trường hợp sử quan, xuất hiện với tư cách là một người kể chuyện, anh ta “không
phải là một người ghi chép lại hoặc người kể lại mà là một người điều tra nghiên cứu. Anh
ta khảo sát quá khứ với con mắt ớng tới sự phân tách thực tế và huyền thoại”(11). Không
phải là một nhân vật trong truyện kể, cũng không phải chính xác là bản thân tác giả, s
quan là một vai, một sự hiện hữu của những ưu điểm mang tính kinh nghim của tác giả.
Anh ta có mối liên hmật thiết với người đọc với tư cách là người được ký thác sự thật,
một người điều tra và sắp xếp không biết mệt mi, một vị quan toà đúng mực và công
bằng. Tóm lại, đó là một con người được quyền không chỉ miêu tả sự việc như anh ta đã
thiết lập mà còn có th bình luận về chúng để t ra sự tương đồng, để răn dạy, để khái
quát hoá và để kể với người đọc nhng suy nghĩ và s kiện được anh ta cho là phải
làm. Sử quan luôn ý thức được rằng việc thuyết phục độc giả về uy quyền và kh năng
của anh ta trong việc giải quyết các vấn đề là điều hết sức quan trọng. Nếu các nhà thơ
truyền thng tự giam hãm mình trong câu chuyện của họ thì sử quan lại có thể đưa ra
nhiều cách đối lập nhau trong việc đi tìm tính trung thực của các sự kiện.
Gần hơn với người kể chuyện squan là kiểu người kchuyện chứng nhân, một cội
nguồn chủ yếu khác về quyền năng kể chuyện mà chúng ta thường hy vọng tìm thấy trong
truyện kể theo lối kinh nghim chủ nga. Ở đây điều được kỳ vọng trong câu chuyện mà
người kchuyện đem đến chính là những liệu (mà anh ta tham gia hoặc chứng kiến) tái
hiện đượcnh chân thực của sự thật nhằm tạo ra một hội tốt hơn để nhận thức hiện thực.
thể nói: “Sphong phú vchi tiết,nh chân thực và nhiều phm cht hơn nữa mà chúng
ta có thể nhận ra n những đặc đim độc đáo, riêng bit của ch nghĩa hiện thực trong
truyện kể là toàn b chức năng vốn có tđiểm nhìn chứng nhân(12). Chính tính trung thc
ca các sự kiện và s chính xác của những kết luận mà người kể chuyện s quan và chứng
nhân thu thập được, đưa ra là nền tảng cho quyền năng của anh ta. Tuy nhiên vấn đề đã thay
đổi khi độ tin cậy của người kể chuyện chứng nhân được đặt ra và hơn nữa là những đòi hỏi
đối với vai trò ca người kchuyện. Chứng nhân trong c tác phm hư cấu không còn c
gắng làm ra vẻ như thật hay nhc thực. Vấn đề trở nên phc tạp khi hình thức k
chuyện chứng nhân được sử dụng một cách rộng rãi. Và khi người kể được mô tả như là
người chi phối đến truyện kể thì sẽ ưu tiên cho sự kiện và tình huống. Trong truyện k
chứng nhân tác giphải cân đối giữa việc khai thácc chi tiết thật trong việc lựa chọn
và sắp xếp các sự kiện để tạo ra một mô hình truyện kể mà phần hư cấu khuynhớng
tạo ra sức hấp dẫn cho câu chuyện. “Người kể chuyện thường phải đối mặt với sự lựa chọn
hoặc là kể một câu chuyện chán ngắt hoặc là một kẻ bịp bm(13). S phong phú của những
chi tiết trong truyện kể chứng nhân và uy quyền của người kể phi trả giá bằng sự chấp
nhận những giới hạn nào đó. Khi truyện kể trở nên phc tạp người ta nhìn thấy sự thoả hiệp
rất rõ ràng cả hai hình thc truyện kể chứng nhân và sử quan. Sthoả hiệp này giới hạn
quyền năng của người kể chuyện nhưng mt khác nó lại tạo ra sphong phú, đa dạng, công
phu và t mcho mỗi hình thc người kể và việc xác lập điểm nhìn trong mỗi tác phẩm ngh
thuật. Như thế, cácc gicông khai sdụng các th pháp, kỹ thuật nhm tạo ra hứng thú
cho truyện kể. Thực tế cho thấy, những nhà văn thử nghiệm với các hình thức văn xuôi của
tiu thuyết thời Phục hưng khó thể sử dụngc ththức sử thi. Anh ta phải sắp đặt nhiều