
Mã thơ Lê Đạt
Lòng mới ngỏ yêu
tim ngọng nói
Lời tỏ tình chưa sáng sõi bình mình
Sau rất nhiều ướm thử, tôi đặt tên cho bài viết đương thai của mình là Mã thơ
Lê Đạt. Cũng như trường hợp những người yêu nhau, cái tên cho đứa bé sắp ra đời
là rất quan trọng. Nó không chỉ định hướng mà còn định hình cho sự phát triển và
diện mạo của thai nhi. Chữ mã tôi dùng ở đây có hai nghĩa. Mã là tạng, tạng người,
tạng thơ. Mã cũng còn là mật mã, là code của một hành ngôn thơ. Và người ta có
thể thấy mã này (tạng thơ) nằm ở trong mã kia (code thơ), bởi thơ Lê Đạt là một
ngôn ngữ.

Có lẽ, khi Cửa hàng Lê Đạt bị đóng, trong những tháng ngày cô đơn tầm thư học
chữ ở Thư viện Quốc gia, câu nói nổi tiếng của S. Mallarmé: người ta không làm thơ
bằng những tư tưởng, mà bằng những chữ, đã là một thứ công án làm nhà thơ đốn ngộ.
Cái nghịch lý hiển nhiên, sự đối thoại trực diện của nó với một nề nếp thơ ca nói chí,
chở đạo đã tạo ra một chấn động tâm lý, và vỡ một nhận thức, khai nguyên một ngôn
ngữ mới. Lê Đạt đã mạnh dạn từ bỏ những mùa khem, những câu kinh kệ cũ mèm,
Amen, để lột xác thành một nhà thơ mới. Ông ký đăng vào ngôi chùa Quốc ngữ như một
đứa trẻ được bán khoán và chỉ tính tuổi mình, tiểu sử nói của mình theo giấy tái khai
sinh:
Thuở ấy tôi rất già
Mở miệng
khuôn tổ tiên rập nói
Tôi bán khoán cửa
chùa Quán Ngữ
Lời chuộc tuổi mình
Nói thật khai sinh
(Chuộc tuổi)
Từ tư tưởng trên của Mallarmé, Lê Đạt coi "chữ bầu nên nhà thơ", hoặc nhà thơ là
"phu chữ". Điều này đã vấp phải cái lương tri thông thường. Người này coi thơ Lê Đạt
như sự lừa dối. Họ đọc thơ ông như bóc một tấm bánh: lột hết lớp lá ngôn từ này đến lớp
lá ngôn từ khác mà chẳng thấy cái nhân tư tưởng ấy đâu.
*
Đọc Bóng chữ, người ta thấy rõ ràng ông bị từ nhập, từ ám. Ngoài nhan đề, các
từ chữ, âm, trang, nghĩa... xuất hiện trong thi phẩm với một tần số rất cao:
- Vẩy chữ thăng hoa
- Bước thị thơm chân chữ động em về
- Tha thẩn chữ ngã ba

- Chữ khép lối đồi chim non câu ngủ
Trang tầm xuân
cau chưa mở nụ ngà
Đàn từ non
âm hé môi cong mỏ hót
Sức ám của con chữ (chứ không phải con tự, một thứ rửng mỡ như Tú Xương nói:
"Chắc hẳn thịt xôi lèn chặt dạ, Không dưng con tự bỗng thòi ra") cũng mãnh liệt như sự
ám ảnh của con dục (libido), có khi còn mạnh hơn, ít nhất ở một số nhà thơ. Nó thúc đẩy
thi nhân phải đi tìm chữ. Lê Đạt có nhiều tuyên ngôn chữ, nhưng đặc hơn cả có lẽ là Chi
Chi Chành Chành. Mượn lời thiêng con trẻ, nhà thơ sấm truyền thông điệp của mình.
Chi chi chành chành
Chữ đanh thổi lửa
Đanh là cái đinh, có thể là một dụng cụ đánh lửa của người xưa. Đanh cũng là rắn
lại, co lại, sắt lại. Chữ đanh là chữ được cô đặc, nén chặt, hàm xúc. Lửa là năng lượng,
sức nóng, sự toả sáng. Vật chất càng đặc thì năng lượng càng lớn. Chữ càng đanh thì
hàm nghĩa càng lớn. Và muốn có chữ đanh thì nhà thơ phải khổ công đi tìm trong đám
vật liệu ngôn từ nhật dụng, một thứ "quặng chữ" theo cách nói của Maia:
Cấp kế đi tìm
Ta vẫn đi tìm
Đi tìm là một tư thế thường trực của nhà thơ, bởi vì trước khi con chữ xuất hiện
chưa có nhà thơ, nhà thơ do những cử tri chữ bầu lên. Tìm ở khắp nơi kể cả bên kia thế
giới:
Mai sau ta chết
Ai đó đừng quên
Đưa ta dăm đồng
Để ta ăn đường

Để ta sang sông
Để ta đi tìm
Cuộc tìm chữ một cách khổ công như vậy (Lê Đạt gọi nhà thơ là phu chữ) cũng
chẳng phải là điều mới. Truyền thống thơ Á Đông và thơ trung đại thế giới là truyền thống
tìm chữ. "Sự bao cấp tư tưởng" của đạo Thiên chúa, đạo Hồi, của các chế độ chuyên chế
tìm kiếm cái đẹp ở những kiến trúc tổng thể, những tư tưởng và triết học của riêng mình,
nên đành phải hướng tài năng vào việc tinh luyện câu chữ. Các nhà thơ Trung Hoa và
Việt Nam đua nhau đi tìm các thần tự, nhãn tự. Đỗ Phủ làm thơ mà chưa hạ được một chữ
kinh động quỷ thần thì ăn không ngon ngủ không yên. Giả Đảo mắc kẹp giữa hai chữ thôi,
xao như con lừa chết đói giữa hai bó cỏ... Các nhà thơ xưa thường tìm nghĩa của chữ ở
trong bản thân chúng, tức là ở trong cái hiện thực mà nó phản ánh. Họ không biết rằng,
chữ nghĩa chỉ là một thứ ký hiệu mang tính võ đoán. Nghĩa của từ ở ngoài câu là ở dạng
tiềm sinh. Nghĩa chỉ xuất hiện khi từ có quan hệ kề cận hoặc lựa chọn với các từ khác
trong câu. Phát hiện này của F.de Saussure đã làm cho ngữ học thực sự trở thành một
khoa học (với nghĩa là có đối tượng riêng, có phương pháp riêng). Các nhà thơ hiện đại
không thể không biết đến ngữ học như là một khoa học về vật liệu, vật liệu ngôn từ.
Nhưng nhà thơ không chỉ dừng lại ở vật liệu, mà phải biến vật liệu thành nghệ thuật, biến
ngôn ngữ tiêu dùng (giao tiếp) thành ngôn ngữ thi ca, bằng sự cấu trúc hóa nó, nghĩa là
đặt nó vào những tượng quan mới để nó phát nghĩa mới.
Trong ngôn từ nhật dụng, mỗi từ thường chỉ phát một nghĩa, bởi nếu phát nhiều
nghĩa thì tạo ra sự nhiễu tin làm ách tắc quá trình giao tiếp. Đa số những người làm thơ
hiện nay vẫn sử dụng kiểu phát nghĩa đơn tuyến này. Người phu chữ Lê Đạt không đi
tìm những thần tự, nhãn tự để làm sang cho thơ. Sự tìm chữ của ông thực chất là tìm
cách phát nghĩa mới: chữ đanh thổi lửa. Mỗi từ của Lê Đạt đều phát nhiều nghĩa, bởi nó
nằm trong nhiều mối quan hệ với các từ khác trên cả trục kề cận lẫn trục liên tưởng.
Đọc Bóng chữ, người ta thấy có nhiều từ mới, có lẽ, của riêng trong tự vị Lê Đạt.
Ông sáng tạo chúng bằng cách ghép những từ mà trong đời sống tự nhiên chúng chẳng
bao giờ có duyên kết hợp với nhau. Cuộc hôn phối này sở dĩ đứng được là do ông Q thợ
trời biết nhúng chúng vào một tiểu khí hậu thơ. Nhân tạo thành thiên nhiên, kỹ thuật

thành nghệ thuật. Đó là những từnai phố, tấm chữ (phiến, cô Tấm), boong phố (Boong
phố nổi chàm nê ông lạ), tim mô: (Mộng anh hương/tim môi anh bói đỏ), tuổi đèn (Gió
ăng ten/ Phố mấy tuổi đèn), bát mộ (Hồn có nhà/ hay bát mộ đi xanh)...
Cũng có khi, để tăng khả năng phát nghĩa của từ, nhà thơ đặt từ B vào giữa từ A
và từ C (theo kiểu A - B - C) để B tham gia vào cả hai mối quan hệ, nên nó có hai nghĩa
khác nhau cùng phát một lúc:
- Thu mở mùa chim mây vỡ tổ
- Nay mùa đông lúa
Ngô bồng bông con.
Ở mùa chim thì chim là thật, ở chim mây thì chim là ẩn dụ. Người ta có thể
đọc Thu mở mùa chim/mây vỡ tổ hoặc Thu mở mùa/chim mây vỡ tổ. Nhưng đọc thơ là
đọc cùng một lúc và toàn khối, nên ta có đồng thời hai nghĩa của chim. Sự chuyển dịch
từ nghĩa này sang nghĩa kia tạo nên hứng thú. Cũng như vậy, mùa đông và đồng
lúa, bồng bông và bông con, rồi bồng... con, như một hình ảnh thơ.
Trên đây là đặt từ trong mối liên hệ kề cận, liên hệ tuyến tính, còn trong mối liên
hệ liên tưởng thì mỗi từ đều có quan hệ với các từ khác nhờ trường ngữ nghĩa. Như
trong hai câu thơ: Mưa rửa đền/ Hoa tuổi trắng lau quên. Chữ lau có thể là hoa lau, màu
bạc trắng, gợi một niềm quên lãng, mầu thời gian. Nhưng câu trên có chữ rửa, cho nên
chữ lau còn có thể được hiểu như là chùi, xóa. Cả hai cách hiểu đều có nghĩa. Hơn nữa,
chữ đền cũng có hai nghĩa: 1) Là ngôi đền do liên ý mưa rửa chùa (trước ngày hội hay
trước ngày Phật - đản); 2) là đền bù. Cũng nằm trên trục liên tưởng, mật từ nằm trong
văn bản, do cách dùng đặc biệt của nó, có thể gợi nhắc đến những từ khác hoặc ngữ liệu
khác vắng mặt trong văn bản, nhưng thường trực trong kho kinh nghiệm và tri thức của
người đọc.
Một đàn ngày trắng phau phau
Bì bạch bờ xoan nước mát
(Thủy lợi)

