Mấy vấn đề lý luận văn
nghệ cách mạng trong giới
hạn lịch sử
T Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) đến khi đất nước sắp bước vào thi kỳ đổi
mới, hệ thống lý luận văn nghệ cách mạng mang đậm nét đặc thù của một thời klịch
sử.
Đề cương văn hóa là văn kiện đầu tiên của Đảng về công tác văn hóa văn nghệ, ra
đời trong thời kỳ đen tối của xã hội Việt Nam dưới ách thực dân Pháp và phát t Nhật.
Đây là thời kỳ nền văn học công khai hợp pháp đang ngày càng lâm vào tình trạng khủng
hoảng, kẻ thù dân tộc thẳng tay đàn áp và khủng bố mọi tư tưởng tiến bộ và cách mạng,
đồng thời gieo rắc các thứ văn hóa tiêu cực và phản động. Với nội dung cốt lõi là ba
nguyên tắc: dân tộc hóa, khoa học hóa, và đại chúng hóa, đề cương đã đáp ứng kịp thời
yêu cầu phục hưng những giá trị tinh thần truyn thống đang bị suy thoái đồng hóa
nghiêm trọng do chính sách thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, phát t thời by giờ. Việc
đề ra chủ trương tranh đấu chống các xu hướng bảo thủ, chiết trung, bi quan và thn bí;
chống sai lm trên các phương diện triết học và nghệ thuật, mặc dù vẫn có ý nghĩa lâu dài,
nhưng chủ yếu xuất phát từ mục tiêu trước mắt là thực hiện bằng được ba nguyên tắc
bản đó. Văn kiện tính cương lĩnh này cũng thể hiện rõ tư tưởng chiến lược trên các mt
ch yếu: mục đích và đường lối, tổ chức và nhim vụ, v.v... đã vạch rõ phương hướng và
trin vọng của nền văn hóa tương lai:nền văn hóa mà cuộc cách mạng văn hóa Đông
Dương phải thực hiện sẽ là văn hóa xã hội ch nghĩa hay văn hóa Xô Viết”. Quá trình
thc hin trải qua nhiều thời đoạn, tùy tình hình chính tr - xã hội mà Đảng vn dụng, triển
khai bản đề cương một cách cụ thể, nhưng vai trò t chức lãnh đạo của Đảng, đường lối
và mục tiêu chiến lưc của nền văn hóa, trước sau vẫn không thay đổi.
Tuy nhiên, do được soạn thảo trong điều kiện hết sức khó khăn nên văn kiện lịch sử
này đã bộc lộ những hạn chế nht định. Việc vận dụng học thuyết triết học Mác về mối
quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội để từ đó khẳng định:Nền tảng kinh tế của
một xã hội và chế độ kinh tế dựng trên nền tảng ấy quyết định toàn b văn hóa xã hội kia”
là đúng, nhưng như thế chưa đủ. Cần thy mặt ngược lại, đó là s ảnh hưởng của văn hóa
đối vi kinh tế, và nói chung của thượng tầng kiến trúc đối với hạ tầng cơ sở. Ngay trong
thưng tầng kiến trúc, đề cương chưa chỉ ra được sự tương tác giữa các hình thái ý thức
xã hội, nhất là vai trò, tác động của văn hóa đối với đời sống tinh thần nói chung. Vì thế,
nh cấp bách của việc xây dựng nền văn hóa mới lúc bấy gi, chưa được nhấn mnh đúng
mc. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế này, một mặt là do bước đầu vận dụng học thuyết
mác-t vào giải quyết những vn đề thực tiễn văn hóa, văn nghcòn có phần giản đơn,
nhưng mt khác là do các tương quan văn hóa, lúc đó chưa được nhn thức một cách toàn
diện(Tại lễ kỷ nim lần thứ 40 ngày ra đời của bản Đề cương văn hóa Việt Nam (27-12-
1983), đồng chí Trường Chinh nêu rõ:Đề cương văn hóa Việt Nam không dài, có nhiu
hạn chế vì trong hn cảnh hoạt động bí mật, Trung ương chưa đủ điều kin nghiên cứu
sâu các vấn đề liên quan đến cách mạng văn hóa Việt Nam). Về mặt này còn được bộc lộ
khi đề cương đề cập đến mối quan hệ giữa cách mạng văn hóa với cách mạng chính trị:
“Cách mạng văn hóa có thể hoàn thành khi nào cách mng chính trị thành công (cách
mng văn hóa phải đi sau cách mạng chính trị)...”. Quan nim này ch phù hợp với bối
cảnh xã hội Việt Nam đương thời. Đó là lúc mà cuộc cách mng dân tộc, dân chủ chưa
hoàn thành, mục tiêu của văn hóa còn thiếu những tiền đề cần thiết, vì thế s trông chờ
của cách mạng văn hóa vào các điều kiện sau khi cách mạng chính trị thành công là hin
nhiên và tất yếu. Nhưng khin tộc đã giành được độc lp, công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội đã trthành hiện thực thì cách mạng văn hóa chẳng nhng không đi sau mà cần
được tiến hành song song, thậm chíc còn đi trước cách mạng chính trị những bước
nhất định. Liên quan đến nhn thức trên, n bộc lộ sự phiến din nữa khi xác định: “Có
lãnh đạo đưc phong trào văn hóa, Đảng mới ảnhởng được luận, việc tuyên truyền
của Đảng mới có hiệu quả”. Một văn kiện bàn về đường lối xây dựng và phát triển văn
hóa, văn ngh nhưng chỉ giành một câu duy nhất nói về tác dụng của văn hóa và cũng ch
giới hạn trong phạm vi tuyên truyền chính trị. Tất nhiên, khi độc lập dân tộc là mc tiêu
hàng đầu thì việc tuyên truyền cho nhim vụ kháng chiến lúc đó tuy không phải là duy
nhất, nhưng là trước tiên và quan trọng nht. Song xét trong toàn cc và lâu dài, một chủ
trương như thế dễ tạo nên quan nim hẹp hòi, phiến diện về chức năng xã hội và giá tr
của văn hóa. Tạm gác bàn v vấn đề phân kỳ văn hóa, mà ch nói cách xác định tính chất
văn hóa của nước ta theo đề cương, vẫn thiếu chính xác. Về mặt này, nếu vận dụng ánh
sáng phương pháp luận từ ý kiến của V.I. Lênin bàn v văn hóa dân tộc sẽ dễ nhận ra điu
đó: “Trong mi nền văn hóa dân tộc đều có những yếu tố mặc dầu không phát triển, của
một nền văn hóa dân chủ và xã hội chủ nghĩa, vì trong mỗi dân tộc đều có quần chúng lao
động và bị bóc lột mà điều kin sinh sống của họ nht định phải sản sinh ra một hệ tư
tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa. Nng trong mi dân tộc cũng có nền văn hóa sản
(...) không phi dưới dạng chỉ là nhngyếu tố” mà dưới dạng một nền văn hóa thống
tr. Chân lý phổ quát trong ý kiến này của V.I. Lênin không ch ý nghĩa đối với việc
phân loại văn hóa mà cả với sự chọn lọc, kế thừa di sản tinh thần quá khứ. Do ca quán
trit quan điểm này nên khi đề ra nhiệm vụ trước mắt, đề cương đã ch trương chống văn
hóa phong kiến như chống văn hóa phát xít, văn hóa thoái hóa và nô dịch, chưa nhìn thấy
nhng yếu tố “dân chủ và xã hội chủ nghĩa” trong văn hóa của thời kỳ phong kiến để kế
tha, phát triển khi xây dựng nền văn hóa mới. Sự bất cập trong nhận thức về văn hóa là
nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế tương tự trong nhận thức về văn nghệ nên đã ch trương:
Tranh đấu về tông phái văn nghệ (chống chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ
nghĩa tự nhiên, ch nghĩa tượng trưng, v.v...) làm cho xu ớng tả thực xã hội chủ nghĩa
thắng”.
Nhìn chung trong bối cảnh xã hội nước ta trước cách mạng, việc soạn thảo kịp thời
bản Đề cương văn hóa Việt Nam là xuất phát từ yêu cầu chấn hưng văn hóa, nhưng chủ
yếu là từ sự đòi hỏi bức thiết của thực tiễn đu tranh cách mạng. Sự chi phối của tư tưởng
chính tr đối với việc chế định quan điểm văn hóa, tuy làm cho nó đề ra được những vấn
đề tương đối sát đúng với lợi ích dân tộc và dân ch, nhưng về văn hóa, văn nghệ lại
phần sơ lược và thiếu chính xác. Đề cương đã phát huy vai trò ch đạo sâu rộng không chỉ
đối vi cuộc vận động văn hóa đương thời, mà còn đối với cả quá trình hình thành diện
mạo hệ thống lý luận văn nghệ cách mạng biểu hiện trên c hai mặt - thành tựu và hạn
chế, trải qua nhưng thập niên tiếp theo.
S biểu hin trước tiên tp trung nhất mà chúng tôi muốn đề cập là mi quan h
giữa văn nghệ và chính tr vốn từ lâu đã tr thành tiêu đim tranh luận trên báo chí và trong
nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhất là trong khoảng 5 năm đầu của thời kỳ đổi mới đất
ớc. Xung quanh vấn đề này, giới luận phênh đã bàn nhiều v đặc trưng của chính tr
n nghệ với cách là hai hình thái ý thc xã hội, về vn đề văn nghệ phục vụ cnh trị,
ngh thuật tuyên truyền, vsự lãnh đạo của Đảng và t do sáng tác của văn nghệ.
Phải nói rằng mối quan hệ này đã bao trùmnhng sâu sc đến mọi phương diện của
đời sống văn nghệ. Từ chỉnh thtrào lưu đến chỉnh thể tác gia, tác phẩm, từ sángc đến
phê bình nghiên cứu đều chịu sự chi phối mạnh mca nhưng quan điểm chính trị. H
thống luận văn nghệ cách mạngớc ta được hình thành thời kỳ này, một phần từ s tiếp
thu thành tựu luận văn nghệ ca các nước trong phe xã hội chủ nga, chủ yếu là ca
Liên và Trung Quc, phần nữa là từ kết qu khám phá nền văn nghệ dân tộc, nhưng
được soi chiếu, xác lập trênsở quan điểm chính tr của Đảng nhắm vào mục đích độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nhưng dù được tiếp thu hay soạn thảo thì vn chung ý
thức hệ và quan đim m học mác xít với hệ thống lun văn nghệ cách mng của nhiều
ớc trên thế giới, do đó bên cnh những sc thái riêng cũng có những đặc điểm chung, mà
nổi bật nhất là vai trò thống trị của cnh trịsản luôn được đề cao và chi phối một cách
triệt để đối với văn nghệ. Từ năm 1943 trong Đề cương văn hóa Việt Nam, Đảng đã khẳng
định: “Cách mạng văn a mun hoàn thành phải do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh
đạo”. Là một bộ phận nhạy cảm và tập trung nhất của văn a, văn học nghthuật không
thể đứng ngoài mà phải nằm trong sự nghiệp chung của giai cấp vô sản, phải thành một cái
bánh xe nhỏ và một cái đinhc” đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng như V.I. Lênin đã nêu trong
bài báo T chức Đảng văn học tính Đảng được viết cách đó 38 năm về trước. Việc
quán triệt và vận dụngng này ca V.I. Lênin vào công tác văn hóa, văn nghcủa
Đảng trước yêu cầu của nhim vụch mạng nước ta được coi trọng, mở rộng và phát triển
u thêm. Lấy độc lập dân tộc và t do dân chủ làm mc đích cao nhất, cuộc kháng chiến
do Đảng lãnh đạo không chỉ tiến hành trên mt trận chính tr, quân sự mà còn đòi hỏi cả
trên mặt trận văna - phải “Kháng chiến hóa văn a”. Coich mạng phương thức,
động lực nhằm thực hiện mục đích tối thượng nêu trên thì công tác tư tưởng trong đó vai
trò ca văn học nghệ thuật phiớng về mục đích của cách mng và phc vụ cách mạng -
phải “Cách mnga tưởng”. Sự quy định này của lịch sử đối với văn nghệ không ch
biểu hiện trên phương diện luận mà cả trong thực tiễn sáng tác na. Chẳng hạn Bác và
một số cán bộ cách mng của ta trong kháng chiến đã từng viết nhữngc phm để phục vụ
kp thời cho mục đích đó. Loạic phm nhưCa dân cày, Ca du ch hay Khuyên thanh
niên, Gi nôngn có thể được xem là “truyn đơn bằng miệng” hơn c phm văn
chương. Nói về loại tác phm này, chính Bác đã có lần tâm sự: “Chắc sẽ có người cho rằng
văn chương cụt quằn (...). Hơn sáu mươi năm nay đế quc chủ nga Pháp đạp lên đầu hai
mươi triu đồng bào hấp hối trong vòng tđịa. Phải kêu to làm chóng để cứu lấy giống nòi.
Thời gian đâu rảnh mà vẽ vời trau chuốt (...) văn chương và hy vọng cuốnch nay ch
trong hai chch mệnh! ch mnh! ch mệnh!!!”. Sự gii lịch sử này cho thấy, trong
một số trường hợp, ch mạng đã biến văn chương thành một hành vi cnh tr trực tiếp,
mặc dù đó không phải là những hiện tượng phổ biến. Chúng tôi cho đây là khía cạnh quan
thiết cn được chú ý đúng mức khi đánh giá về sáng tác cũng như về các vn đề bản của
hệ thống luận văn nghệ cách mạng trong quá khứ.
Vấn đề văn nghệ và chính tr cũng vậy, nếu xem xét chúng như hai hình thái ý thức
xã hội thun túy có nội dung riêng, quan h vi nhau nhưng tồn tại độc lập thì khó chấp
nhn được luận điểm:văn nghệ phục vụ chính trị”. Nhưng đặt trong giới hn lịch sử
khoảng 30 năm kháng chiến, kiến quốc của n tộc để xem xét thì không thể không tìm
thấy phần nào chân lý cụ thể của trong tương quan với nhiệm vụ cách mạng. Có người
đã thành thật không hiểu, hay cố tình ph nhận sự tht hiển nhiên này rồi chỉ chú trọng
phân tích khía cạnh đặc trưng của chính trị và văn nghệ, nhm từ đó, vch ra ranh giới
gia chúng với nhau để một bề phê phán luận đim trên, chẳng nhng là việc làm phi lch
sử mà còn có khi tự mâu thuẫn. Đó là chưa kể, tạm gác bàn v câu chữ diễn đạt để xem
xét vào bản chất bên trong của đối tượng mà văn nghệ phục vụ thì khái niệm “chính trị