
M
Ỹ THUẬT VIỆT NAM THẬP KỶ 90
THẾ KỶ XX VÀ NHỮNG HỆ LUỴ
(HAY CÂU CHUY
ỆN CỦA CÁC HOẠ
SĨ TRẺ)
LƯU THẾ HÂN-Lên chùa-khắc gỗ,
1991

Trong cuốn Hoạ sĩ trẻ Việt Nam - NXBMT năm 1996 - phần Phê bình và
ước đoán, NPBMT Phan Cẩm Thượng có viết : “Lưu ý rằng thành đạt của
nghệ thuật 5 năm qua 1990 -1995 là kết quả bức xúc của của 30 năm trước
(1960-1990) với rất nhiều vấn đề xã hội và ngôn ngữ nghệ thuật chưa được
giải quyết. Vậy thì những vấn đề căn bản đã được giải quyết xong thì hội
hoạ tất yếu suy thoái mà tác phẩm lớn lao vẫn chưa ra đời… ” . 10 năm đầu
tiên của thế kỷ XXI đã qua và những quả ngọt cũng như trái đắng cũng đã
kết trái và phần ước đoán tiếp theo của NPBMT Phan Cẩm Thuợng “..Các
bảo tàng và sưu tập tranh trong nước chắc chắn sẽ hối hận nếu không mua
được tranh họa sĩ trẻ 5 năm qua. Các hoạ sĩ thì lãng phí tài năng của trời đất
hun đúc vào họ sau trăm năm giao lưu văn hoá Đông Tây ở Việt Nam cuối
thế kỷ này …”
Sau 2 thập kỷ, chúng ta có thể đánh giá tương đối rõ ràng những thành tựu
mà mỹ thuật Việt Nam đã đạt được. NPBMT Phan Cẩm Thượng đã có
những nhận xét “khá chuẩn” cho tương lai gần của MTVN. Thập kỷ 90 rực
rỡ và huy hoàng đã là đích ngắm mà lớp hoạ sĩ mới của thập kỷ đầu tiên của
thế 21 cố gắng vượt qua. Chính hình bóng rực rỡ ấy vừa là sự khích lệ, vừa
là thách thức trải nghiệm cho các hoạ sĩ về sau. Và chính điều đó cũng tạo
nên một số ảo tưởng về sự “thành danh dễ dàng và tiền kiếm như nước”
trong một khoảng thời gian ngắn ngủi...
Hào quang rực rỡ của thập kỷ 90
Chẳng cần nói lại nhiều thì tất cả chúng ta đều biết vì quãng thời gian đó
chưa hề xa. Có thể lý giải một số lý do đã tạo nên những kỳ tích đó.

1. Xoá bỏ bao cấp chính là cánh cửa thần kỳ, là cú hích mạnh mẽ cho hội
hoạ. Những ấp ủ, dự định được phơi bầy, được thực hiện một cách thoải mái
với các thể loại ngôn ngữ tạo hình trên mọi phương diện chất liệu. Vào
những năm 70, 80 mỗi khi có hoạ sĩ nào nghiên cứu, nói chuyện vẽ, siêu
thực hoặc trừu tượng sẽ bị nhiều cái nhìn không thân thiện từ phía cơ quan
quản lý. Thậm chí, đã có những cuộc họp để phản đối hội hoạ trừu tượng.
Thời kỳ đó, hội hoạ Việt Nam đang ở một trong những đỉnh cao mới sau
những cây đại thụ Sáng, Nghiêm, Liên, Phái và sau cả một thế hệ hoạ sĩ
kháng chiến được sống trong những năm tháng gian khổ và hào hùng c
ủa đất
nước. Chính vì thế những năm 1990 là quãng thời gian lý tưởng để ngập tr
àn
và rộ nở các hình thức nghệ thuật.
2. Nghệ thuật được mở rộng cửa đón thế giới đến với Việt Nam. Trải qua 2
cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và Mỹ, Việt Nam đã để lại trong
lòng bạn bè quốc tế những khâm phục về một đất nước nhỏ bé mà anh d
ũng.
Khi chúng ta mở cửa đón chào thế giới thì một phản xạ rất tự nhiên như vi
ệc
một nhà hàng xóm lâu ngày hiếm khi mở cửa tiếp khách nay đã mở cửa và
mời chào bạn bè. Du khách đổ xô đến Việt Nam vì tò mò, vì khâm phục và
cũng vì muốn khám phá xem những con người anh hùng chống Pháp và Mỹ
ấy đang sống một cuộc sống như thế nào?. Điều gì cũng khiến họ ngỡ ng
àng
và lạ lẫm. Và văn hóa luôn là những hình ảnh được tiếp thị đầu tiên. Đó là
nghệ thuật kiến trúc, hội hoạ, điêu khắc; đó là nhạc, là hát là sắc màu lễ hội
dân gian...du khách muốn được sống trong không khí đậm chất bản địa ấy v
à
hội hoạ là những thứ dễ gần và thu hút (chưa kể là có thể đem được về làm
kỷ niệm...)
3. Hữu xạ tự nhiên hương bởi sự kiếm tìm ấy khiến các hoạ sĩ được thơm

lây. Sự bùng nổ về thị trường hội hoạ chắc chắn không thể thiếu ảnh hưởng
từ “ngoại tệ”. Thị trường tranh trở nên tấp nập và ồn ào. Có lúc “m
ột số” hoạ
sĩ vẽ đến đâu được mua đến đó. Tranh chưa kịp khô sơn đã có người mua.
Trong tất cả những ào ạt ấy... khi các hoạ sĩ đang “thăng hoa tột độ và ngất
ngây” với những thành quả nghệ thuật của mình thì chắc chắn rằng họ cũng
ít có thời gian để nghĩ vẽ cái gì mà thường là vẽ theo đơn đặt hàng của
gallery. Đại khái là khách thích phong cách ấy, màu s
ắc ấy, lối vẽ ấy...cứ thế
là vẽ thôi. Mọi thứ rất vội vã và rất nhanh.
Nhưng trong tất cả những cái vội vã và nhanh ấy, vô hình chung đã khiến
cho hội hoạ Việt Nam có một sự hưng phấn mãnh liệt. Các hoạ sĩ được ngợi
khen, khích lệ mà thành quả là những đồng đô la xanh ngọt ngào và quyến
rũ. Một loạt các hoạ sĩ thành công, rất thành công không những về kinh tế
mà còn cả vị thế nữa. Hội hoạ của họ tuôn chảy và ngôn ngữ được trải
nghiệm, được đánh giá rất nhanh thông qua gallery rồi tới khách. Chúng ta
phải cảm ơn các gallery bởi chính họ là những nhà trung gian tinh đời và
nhanh nhậy. Một loạt hoạ sĩ đã nhanh chóng khẳng định được tên tuổi như
Phạm Luận, Lê Thiết Cương, Đào Hải Phong, Hồng Việt Dũng, Lê Thanh
Sơn, Đinh ý Nhi, Đinh Quân, Vũ Thăng, Quách Đông Phương, Đặng Xuân
Hoà, Lê Quảng Hà...và rất nhiều hoạ sĩ khác.
Những loay hoay, kiếm tìm và khẳng định...
Chính những thành công rực rỡ và nhanh chóng ấy đã khiến lớp hoạ sĩ mới
của thế hệ sau gặp phải nhiều khó khăn... giai đoạn này bắt đầu từ cuối
những năm thập kỷ 90 và tới tận những năm gần đây. Tức là c
ũng phải 5 đến

10 năm.
Sau khi mở cửa với thế giới. Sự bỡ ngỡ và kiếm tìm cái mới của du khách đ
ã
qua đi. Hội hoạ dần chững lại và bắt đầu đi vào đúng quỹ đạo của nó. Trong
khi các hoạ sĩ còn hoay hoay kiếm tìm cái mới và khẳng định những gì đ
ã có
thì ngôn ngữ Sắp đặt, Trình diễn và Video Art với ưu đi
ểm đặc biệt của ngôn
ngữ là đánh mạnh vào thị giác công chúng đang bắt đầu ào ạt. Chúng “chớp
nhoáng” vì một số người “háo danh đánh bóng, lư
ời sáng tác” ngỡ có thể tạo
ra những tuyên ngôn mới. Nhưng ngôn ngữ tạo hình dù có biến chuyển thế
nào đi chăng nữa cũng luôn lấy giá trị thẩm mỹ thị giác và văn hoá cốt lõi
làm nền tảng thì sắp đặt, trình diễn không bao giờ có chỗ cho những kẻ hám
danh và trục lợi. Một số họa sĩ hiếm hoi như: Đặng Thị Khuê, Nguyễn Bảo
Toàn, Đào Anh Khánh, Trần Lương, Phạm Ngọc Dương, Đinh Gia Lê,
Phạm Huy Phước... được coi là nh
ững hoạ sĩ hiếm hoi có “số má” về sắp đặt
và trình diễn, được công chúng đón nh
ận. Trong đó phải kể đến Nguyễn Bảo
Toàn với triển lãm sắp đặt Rằm Tháng Bảy “quá đỉnh”.
Song song với sắp đặt một số hoạ sĩ trẻ có tư duy th
ẩm mỹ tốt, cá tính mạnh,
luôn có những tìm tòi, trăn trở và có những đầu tư lâu dài cho sáng tác. Các
tác phẩm của họ mang đậm hơi thở cuộc sống đương đại. Họ nhìn cu
ộc sống
với nhiều cảm nhận khác nhau. Đề tài, hình ảnh nhiều khi là nghiệt ngã, đau
đớn nhưng đều ở mức độ cảm thông và chia sẻ. Cái nhìn tích cực ấy gây
được nhiều thiện cảm từ cộng đồng. Hội hoạ mang những thông điệp đầy
tình cảm và sắp đặt trình diễn trở nên gần gũi hơn khi khơi gợi lại được
những xúc cảm đời thường bằng những chủ đề của xã hội và con người
mang đầy tính nhân văn. Các hoạ sĩ trẻ như Nguyễn Thanh Hoa, Lý Trần
Quỳnh Giang, Dương Thuỳ Dương, Lê Quý Tông, Mai Duy Minh...là nh
ững

