
Trang 1 / 92
Tên đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của Logistics tới hoạt động xuất khẩu của các
doanh nghiệp qua cửa khẩu Cao Bằng
Chủ nhiệm đề tài: Ths Phan Đình Quyết
Đồng tham gia: Ths Nguyễn Phương Linh
Mã đề tài: CS18- 02

Trang 2 / 92
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO và đang trong giai đoạn
thực hiện các cam kết của WTO. Vì vậy, một trong các hướng nhằm nâng cao sức
cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại đặc biệt là các doanh nghiệp phân phối
trên trường trong nước và quốc tế là cần phải phát triển quan hệ hợp tác tốt giữa các
nhân tố trong chuỗi cung ứng nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất. Một trong những hoạt
động cần phát triển đó là dịch vụ logistics.
Dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện có quy mô khoảng 20-22 tỷ USD/năm,
chiếm 20,9% GDP của cả nước. Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành dịch vụ
logistics trong những năm qua là từ 16 - 20%/năm. Theo xếp hạng của Ngân hàng Thế
giới, Việt Nam hiện đứng thứ 64/160 nước về mức độ phát triển logistics và đứng thứ
4 trong ASEAN sau Singapore, Malaysia và Thái Lan. Với tốc độ phát triển hàng năm
đạt từ 16 - 20%, đây là một trong những ngành dịch vụ tăng trưởng nhanh và ổn định
nhất của Việt Nam trong thời gian qua.
Thống kê mới đây của Hiệp hội doanh nghiệp (DN) logistics Việt Nam cho
thấy, cả nước hiện có khoảng trên 1.300 DN logistics đang hoạt động, bao gồm cả DN
có vốn nước ngoài. Các DN cung cấp dịch vụ logistics ở Việt Nam hầu hết là những
doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Tuy nhiên, vẫn có những DN lớn như: Công ty
Transimex Saigon, Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, Gemadept, Vietrans, Vietfracht...
Về thị trường, khoảng 52% công ty cung cấp dịch vụ logistics nước ta có quan
hệ làm ăn với thị trường Hoa Kỳ, 47% với Liên minh châu Âu (EU), 63% với các
nước ASEAN, 57% với thị trường Nhật Bản, 49% với thị trường Trung Quốc và 43%
với thị trường Hàn Quốc.
Tuy nhiên, ngành Logistics hiện đang phải đối diện với không ít thách thức.
Thống kê cho thấy, DN logistics nội chiếm hơn 80% tổng số DN kinh doanh dịch vụ
logistics tại Việt Nam, song hầu hết chỉ làm dịch vụ các chuỗi cung ứng nhỏ trong
lãnh thổ Việt Nam như: Dịch vụ giao nhận, cho thuê kho bãi, làm thủ tục hải quan,
gom hàng lẻ và thị phần tại các cảng... Trong khi đó, các hoạt động lớn hơn, mang
tính liên vận quốc tế đều do thiểu số các công ty, tập đoàn đa quốc gia đảm trách.

Trang 3 / 92
Một thách thức khác đặt ra là theo cam kết của Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), từ năm 2014, hầu hết được dỡ bỏ, cho các DN nước ngoài gia nhập thị trường
với mức vốn 100%. Bên cạnh đó, chi phí logistics của Việt Nam chiếm khoảng 25%
GDP/năm, cao hơn nhiều so với các nước như Trung Quốc hay Thái Lan, gây lãng phí
nhiều nguồn lực trong nước. Tình trạng thiếu đồng bộ của kết cấu hạ tầng cho ngành
Logistics đã hạn chế sự phát triển của hoạt động logistics. Đó là chưa kể vấn đề hệ
thống pháp luật vẫn còn chưa thật sự rõ ràng, minh bạch, còn chồng chéo. Vẫn chưa
có sự hiểu biết một cách đầy đủ, thống nhất giữa các cơ quan quản lý liên quan. Một
điều quan trọng nữa đó là các các doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức được vai trò của
Logistics tới việc tạo lập lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp đồng thời ảnh hưởng của
Logistics tới hoạt động xuất khẩu cụ thể.
Đối với khu kinh tế cửa khẩu Cao Bằng, nhìn chung hoạt động Logistics còn
mang tính chất manh mún, thiếu sự đồng bộ trong cơ sở hạ tầng cũng như hệ thống
thông tin Logistics. Điều này ít nhiều đã làm ảnh hưởng đến các doanh nghiệp xuất
khẩu thông qua khu kinh tế cửa khẩu. Do đó tác giả quyết định lựa chọn đề tài
“Nghiên cứu ảnh hưởng của logistics tới hoạt động xuất khẩu của các doanh
nghiệp qua cửa khẩu Cao Bằng”
2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC CỦA ĐỀ
TÀI Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.1. Trong nước
Việt Nam được biết đến là một quốc gia có hệ thống dịch vụ logistics còn non
trẻ, đang trong giai đoạn đầu phát triển. Hiện nay, các nghiên cứu mang tính lý thuyết
về xuất nhập khẩu qua khu kinh tế cửa khẩu và dịch vụ logistics tại khu kinh tế cửa
khẩu cũng như thực trạng, vai trò của các khu kinh tế cửa khẩu hiện nay tập trung chủ
yếu từ các tạp chí nước ngoài, các tạp chí chuyên ngành Logistics, Kinh tế vận tải, các
bài nghiên cứu trên các tạp chí, hay các đề tài, dự án nghiên cứu các cấp... Và hầu hết
các nghiên cứu này mới chỉ đề cập tới các khía cạnh khác nhau như thực trạng công
tác quản trị xuất nhập khẩu, các bộ phận cấu thành của trung tâm dịch vụ logistics tại
các cửa khẩu một nói chung chứ chưa có bất kỳ một nghiên cứu tổng thể nào về
Logistics khu kinh tế cửa khẩu
Tuy nhiên tính đến thời điểm này thì cũng đã xuất hiện một số lượng đáng kể

Trang 4 / 92
các công trình liên quan đến logistics được công bố. Các nghiên cứu trong nước liên
quan đến logistics tiêu biểu có thể kể đến như sau:
- “Logistics - Những vấn đề cơ bản”, do GS. TS. Đoàn Thị Hồng Vân chủ biên,
xuất bản năm 2003 (Nhà xuất bản Lao động - xã hội). Trong cuốn sách này, các tác
giả tập trung vào giới thiệu những vấn đề lý luận cơ bản về logistics như khái niệm,
lịch sử hình thành và phát triển của logistics, phân loại logistics, kinh nghiệm phát
triển logistics của một số quốc gia trên thế giới… 3 năm sau đó, tác giả giới thiệu tiếp
cuốn “Quản trị logistics” (Nhà xuất bản Thống kê, 2006). Như tiêu đề thể hiện, cuốn
sách tập trung vào những nội dung của quản trị logistics như khái niệm quản trị
logistics, các nội dung của quản trị logistics như dịch vụ khách hàng, hệ thống thông
tin, quản trị dự trữ, quản trị vật tư, vận tải, kho bãi… Cả 2 cuốn sách chủ yếu tập trung
vào các vấn đề lý luận về logistics và quản trị logistics, các nội dung thực tiễn của
logistics là rất hạn chế, chủ yếu dừng ở mức giới thiệu nội dung thực tiễn tương ứng
(dịch vụ khách hàng, hệ thống thông tin, kho bãi…) của một số doanh nghiệp Việt
Nam.
- Giáo trình “Quản trị logistics kinh doanh” do TS. Nguyễn Thông Thái và
PGS. TS. An Thị Thanh Nhàn chủ biên (Nhà xuất bản Thống kê, 2011) của trường
Đại học Thương mại. Giáo trình này dành chương đầu tiên để giới thiệu tổng quan về
quản trị logistics kinh doanh như khái niệm và phân loại logistics, khái niệm và mục
tiêu của quản trị logistics, mô hình quản trị logistics, các quá trình và chức năng
logistics cơ bản… chương còn lại đi sâu vào nội dung quản trị logistics cụ thể như
dịch vụ khách hàng, quản trị dự trữ, quản trị vận chuyển, quản trị các hoạt động
logistics hỗ trợ, thực thi và kiểm soát logistics. Tuy nhiên, tương tự như nghiên cứu
trên, cuốn sách mới tập trung phân tích làm sáng tỏ các vấn đề lý thuyết, các tình
huống, vấn đề thực tiễn còn chưa được đào sâu khai thác phân tích cụ thể.
- Bài viết “Tháo gỡ khó khăn để phát triển khu kinh tế cửa khẩu” trên Tạp chí
Tài chính kỳ II, số tháng 7/2016 của tác giả Trần Báu Hà. Trong nghiên cứu của mình,
tác giả đã chỉ rõ: Các khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam ra đời phù hợp với chủ trương
đổi mới, hội nhập nền kinh tế thế giới của Nhà nước, không chỉ là động lực quan trọng
phát triển kinh tế địa phương mà còn là nền tảng phát triển kinh tế quốc gia. Theo đó,
khung khổ pháp lý và các chính sách ưu đãi hiện nay như thuế, phí, vốn… đã được

Trang 5 / 92
kiện toàn và là cơ hội để các địa phương tạo bước đột phá từ các khu kinh tế cửa khẩu
này, tuy nhiên để khai thác hiệu quả hoạt động của khu kinh tế cửa khẩu đang còn
không ít vấn đề đặt ra cần khẩn trương giải quyết. Trên thực tế, hiệu quả các khu kinh
tế cửa khẩu chưa cao do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do thương mại trên 3
tuyến biên giới mang những nét đặc thù khác nhau. Tuyến Trung Quốc, Việt Nam
nhập nhiều song xuất khẩu rất khó khăn, giá trị các mặt hàng xuất khẩu không cao.
Tuyến Campuchia, Việt Nam giành lợi thế xuất khẩu hàng tiêu dùng công nghiệp,
hàng dệt may, vật liệu xây dựng, phân bón... nhưng phải cạnh tranh quyết liệt với
hàng hóa Thái Lan. Tuyến Lào, đường biên giới nằm giữa núi rừng Trường Sơn, cách
xa trung tâm kinh tế lớn, khó khăn cho phát triển thương mại của 2 nước. Bên cạnh
đó, các cửa khẩu đang gặp rất nhiều khó khăn về phát triển kết cấu hạ tầng. Hầu hết
các KKTCK (Khu Kinh Tế Cửa Khẩu) thường nằm tại các địa phương, địa bàn có
điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, nên chủ yếu vẫn dựa vào nguồn ngân sách
Trung ương để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng. Do nguồn ngân sách Trung ương hết
sức hạn chế, trong khi đó nhu cầu đầu tư phát triển của các KKTCK rất lớn nên nhiều
KKTCK đang gặp khó khăn trong việc triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ,
hệ thống dịch vụ tương trợ, đặc biệt là dịch vụ hậu cần logistic còn thiếu, chưa đáp
ứng và theo kịp nhu cầu của nhà đầu tư. Ngoài ra, cơ chế điều hành các KKTCK, cửa
khẩu chưa thống nhất. Các cơ quan chức năng như biên phòng, hải quan... vẫn quản lý
theo cơ chế phối hợp, dẫn đến bất cập trong quy hoạch, xây dựng hệ thống kho bãi,
nhà công vụ, quốc môn,… Nghiên cứu đã nêu khá đầy đủ thực trạng phát triển của các
khu kinh tế cửa khẩu hiện nay, trong đó đã đề cập tới vai trò của dịch vụ logistics đối
với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua khu kinh tế cửa khâu, tuy nhiên nghiên
cứu mang tầm vĩ mô cả Việt Nam, vì vậy các thực trạng, giải pháp và định hướng còn
mang tính chất chung chung, chưa chú trọng đến đặc điểm, điều kiện của một địa
phương cụ thể.
- Bài viết “Tỉnh Cao Bằng: KKT cửa khẩu góp phần phát triển kinh tế - xã hội”
của tác giả Lê Thành Trung - Trưởng ban, Ban Quản lý KKT tỉnh Cao Bằng đăng trên
Trang tin điện tử Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam ngày 24 tháng 8 năm 2016. Bài
viết đã chỉ ra tiềm năng và thực trạng phát triển của kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng
trong những năm gần đây. Theo đó, kinh tế cửa khẩu đã góp phần không nhỏ cho sự

