intTypePromotion=3

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và đánh giá hiệu quả của các bài tập nuốt trên bệnh nhân có rối loạn dinh dưỡng sau đột quỵ

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
44
lượt xem
3
download

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và đánh giá hiệu quả của các bài tập nuốt trên bệnh nhân có rối loạn dinh dưỡng sau đột quỵ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung của bài viết là nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và đánh giá hiệu quả của các bài tập nuốt ở bệnh nhân có rối loạn dinh dưỡng sau đột quị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu có can thiệp, đối chứng trên 62 bệnh nhân đột quị chia làm hai nhóm, được điều trị tai tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên từ tháng 3 đến tháng 12 năm 2011.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và đánh giá hiệu quả của các bài tập nuốt trên bệnh nhân có rối loạn dinh dưỡng sau đột quỵ

Trần Văn Tuấn và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 89(01/2): 59 - 63<br /> <br /> NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ<br /> CỦA CÁC BÀI TẬP NUỐT TRÊN BỆNH NHÂN<br /> CÓ RỐI LOẠN DINH DƯỠNG SAU ĐỘT QUỴ<br /> Trần Văn Tuấn, Lê Thị Mai<br /> Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và đánh giá hiệu quả của các bài tập nuốt ở bệnh nhân<br /> có rối loạn dinh dưỡng sau đột quị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.<br /> Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu có can thiệp, đối chứng trên<br /> 62 bệnh nhân đột quị chia làm hai nhóm, được điều trị tai tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái<br /> Nguyên từ tháng 3 đến tháng 12 năm 2011.<br /> Kết quả và bàn luận: Nhóm tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là 70 – 80 tuổi (34,4%), giới nam có<br /> tỷ lệ mắc bệnh cao hơn giới nữ trong cả hai nhóm (71,9% và 66,7%). Trong cả hai nhóm nghiên<br /> cứu bệnh nhân đều có huyết áp cao là chủ yếu, nhóm can thiệp 65,6%, nhóm chứng 80%. Các<br /> bệnh nhân ở nhóm can thiệp có khả năng nuốt và các dấu hiệu của rối loạn nuốt đều được cải thiện<br /> tốt hơn so với nhóm chứng.<br /> Kết luận: Tiến hành áp dụng các bài tập nuốt trên bệnh nhân có rối loạn dinh dưỡng sau đột quị<br /> bước đầu đem lại kết quả tốt.<br /> Từ khoá: Đột quị, tăng huyết áp, rối loạn nuốt, bài tập nuốt, rối loạn dinh dưỡng.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ*<br /> Đột quị não là một bệnh rất nghiêm trọng và<br /> thường để lại hậu quả rất nặng nề cho bản<br /> thân người bệnh, gia đình và cả xã hội nếu<br /> không được xử lý và điều trị kịp thời. Bệnh<br /> đột quị là vấn đề đang rất được quan tâm<br /> trong cộng đồng và đang là vấn đề mang tính<br /> chất thời sự. Tỷ lệ tử vong do đột quị não<br /> đứng hàng thứ ba sau bệnh ung thư và tim<br /> mạch, còn tỷ lệ tàn phế do đột quị não đứng<br /> hàng đầu trong các bệnh lý về thần kinh. Mỗi<br /> 45 giây trôi qua trên thế giới có ít nhất một<br /> người mắc đột quị não và cứ mỗi ba phút trôi<br /> qua trên thế giới có một người tử vong do đột<br /> quị. Đột quị là bệnh rất phổ biến, nguy cơ bị<br /> đột quị trong cộng đồng là 20% và trong lần<br /> đầu tiên bị đột quị có khoảng 1/3 số bệnh<br /> nhân có thể tử vong, 1/3 bị tàn phế nặng và<br /> 1/3 bệnh nhân chỉ bị ảnh hưởng nhẹ. Tỷ lệ đột<br /> quị não trên thế giới đang có xu hướng gia<br /> tăng đặc biệt là ở các nước Châu Á trong đó<br /> có cả Việt Nam. Vấn đề cung cấp dinh dưỡng<br /> đầy đủ cho bệnh nhân sau khi bị đột quị là rất<br /> cấp thiết vì bệnh nhân đột quị thường mệt<br /> *<br /> <br /> mỏi, kém ăn, chức năng nuốt bị ảnh hưởng<br /> dẫn đến rối loạn dinh dưỡng nên năng lượng<br /> cung cấp cho người bệnh thường không đầy<br /> đủ, cho nên việc hồi phục cũng sẽ bị ảnh<br /> hưởng nhiều. Xuất phát từ thực tế trên, chúng<br /> tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm hai<br /> mục tiêu sau:<br /> 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân có<br /> rối loạn dinh dưỡng sau đột quị.<br /> 2. Đánh giá hiệu quả của bài tập nuốt ở bệnh<br /> nhân có rối loạn dinh dưỡng sau đột quị.<br /> ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> Đối tượng nghiên cứu<br /> Gồm 62 bệnh nhân được chẩn đoán xác định<br /> là đột quị não điều trị nội trú tại khoa Nội tim<br /> mạch và khoa Thần kinh – Bệnh viện Đa<br /> khoa Trung ương Thái Nguyên.<br /> * Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu<br /> - Lâm sàng:<br /> + Chẩn đoán đột quị dựa theo định nghĩa đột<br /> quị của Tổ chức Y tế Thế giới.<br /> + Bệnh nhân tỉnh táo hợp tác được với<br /> thầy thuốc.<br /> 59<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trần Văn Tuấn và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> - Cận lâm sàng: chụp cắt lớp vi tính có hình<br /> ảnh tổn thương não phù hợp với lâm sàng.<br /> - Bệnh nhân đột quị não được chia thành<br /> 2 nhóm:<br /> + Nhóm can thiệp: gồm 32 BN, áp dụng bài<br /> tập nuốt có sự hướng dẫn của nhân viên y tế.<br /> + Nhóm chứng: gồm 30 BN, chế độ ăn uống bình<br /> thường theo phục vụ của người nhà bệnh nhân<br /> * Tiêu chuẩn loại trừ<br /> - Bệnh nhân bị đột quị, tỉnh táo nhưng không<br /> hợp tác<br /> - Bệnh nhân bị hôn mê, bán hôn mê, không<br /> nuốt được<br /> * Thời gian và địa điểm nghiên cứu:<br /> - Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3/2011 đến<br /> tháng 12/2011.<br /> - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái<br /> Nguyên.<br /> Phương pháp nghiên cứu<br /> * Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng phương pháp<br /> mô tả, can thiệp có đối chứng.<br /> * Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận<br /> tiện<br /> Chỉ tiêu nghiên cứu<br /> - Tuổi, giới, dân tộc, mạch, huyết áp.<br /> - Các triệu chứng: Nghẹn, ho, giọng khàn, thở<br /> gấp, không nhai được, chảy nước dãi.<br /> - Số bữa ăn trong ngày, tính chất thức ăn.<br /> - Chụp cắt lớp vi tính.<br /> - Một số xét nghiệm cơ bản.<br /> - Đánh giá hiệu quả của sự can thiệp.<br /> Kỹ thuật thu thập số liệu<br /> - Phỏng vấn, khám trực tiếp người bệnh theo<br /> mẫu bệnh án thống nhất dựa trên các chỉ tiêu<br /> nghiên cứu.<br /> - Làm xét nghiệm cận lâm sàng cho tất cả<br /> bệnh nhân trước điều trị.<br /> - Kiểm tra bốn dấu hiệu của rối loạn nuốt.<br /> + Ho chủ động.<br /> + Nuốt nước bọt khó hoặc không nuốt được.<br /> + Chảy nước dãi liên tục.<br /> + Thay đổi giọng nói sau khi nuốt nước bọt<br /> hoặc giọng nói bất thường.<br /> <br /> 89(01/2): 59 - 63<br /> <br /> - Thử nghiệm khả năng nuốt trực tiếp<br /> + Thử nghiệm khả năng nuốt đồ lỏng.<br /> + Thử nghiệm khả năng nuốt đồ đặc.<br /> + Thử nghiệm khả năng nuốt đồ cứng.<br /> - Đánh giá hiệu quả của bài tập nuốt và mức<br /> độ cải thiện của bệnh nhân sau can thiệp so<br /> sánh với nhóm chứng.<br /> Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 16.0.<br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> Một số đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân<br /> rối loạn dinh dưỡng sau đột quị<br /> Bảng 1. Phân bố tỷ lệ mắc bệnh theo tuổi<br /> Nhóm<br /> Tuổi<br /> < 50<br /> 50 - 60<br /> 60 - 70<br /> 70 - 80<br /> > 80<br /> Tổng<br /> <br /> Nhóm can<br /> Nhóm chứng<br /> thiệp<br /> n<br /> %<br /> n<br /> %<br /> 4<br /> 12,5<br /> 4 13,35<br /> 4<br /> 12,5<br /> 3<br /> 10,0<br /> 9<br /> 28,1<br /> 7<br /> 23,3<br /> 11 34,4 12 40,0<br /> 4<br /> 12,5<br /> 4 13,35<br /> 32 100,0 30 100,0<br /> <br /> p<br /> >0,05<br /> >0,05<br /> >0,05<br /> >0,05<br /> >0,05<br /> <br /> Nhận xét: nhóm tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao<br /> nhất ở cả hai nhóm là 70-80 tuổi, tuy nhiên sự<br /> khác biệt giữa hai nhóm không có ý nghĩa<br /> thống kê với p>0,05.<br /> Bảng 2. Phân bố tỷ lệ mắc bệnh theo giới<br /> Nhóm<br /> Giới<br /> Nam<br /> Nữ<br /> Tổng<br /> <br /> Nhóm can<br /> thiệp<br /> n<br /> %<br /> 23<br /> 71,9<br /> 9<br /> 28,1<br /> 32<br /> 100<br /> <br /> Nhóm chứng<br /> n<br /> 20<br /> 10<br /> 30<br /> <br /> %<br /> 66,7<br /> 33,3<br /> 100,0<br /> <br /> p<br /> >0,05<br /> >0,05<br /> <br /> Nhận xét: Tỷ lệ mắc bệnh ở giới nam cao<br /> hơn giới nữ ở cả nhóm can thiệp và nhóm<br /> chứng. Nhưng sự khác biệt giữa hai nhóm<br /> không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.<br /> * Chỉ số huyết áp của hai nhóm bệnh nhân<br /> Nhận xét: Ở cả hai nhóm tỷ lệ bệnh nhân<br /> tăng huyết áp đều chiếm tỷ lệ cao. Sự khác<br /> biệt giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê<br /> với p>0,05 (xem bảng 3).<br /> <br /> 60<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trần Văn Tuấn và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Bảng 3. Chỉ số huyết áp của hai nhóm bệnh nhân<br /> Nhóm<br /> HA<br /> Bình<br /> thường<br /> Cao<br /> Thấp<br /> Tổng<br /> <br /> Nhóm can<br /> thiệp<br /> n<br /> %<br /> <br /> Nhóm chứng<br /> n<br /> <br /> %<br /> <br /> p<br /> <br /> 2<br /> <br /> 6,3<br /> <br /> 4<br /> <br /> 13,3<br /> <br /> >0,05<br /> <br /> 21<br /> 9<br /> 32<br /> <br /> 65,6<br /> 28,1<br /> 100,0<br /> <br /> 24<br /> 2<br /> 30<br /> <br /> 80,0<br /> 6,7<br /> 100,0<br /> <br /> >0,05<br /> >0,05<br /> <br /> Đánh giá hiệu quả sau can thiệp bằng bài<br /> tập nuốt<br /> Bảng 4. So sánh triệu chứng lâm sàng trước, sau<br /> can thiệp và với nhóm chứng<br /> Nhóm<br /> Triệu<br /> chứng<br /> Nghẹn<br /> Ho<br /> Giọng<br /> khàn<br /> Thở gấp<br /> Không<br /> nhai được<br /> Chảy<br /> nước dãi<br /> <br /> Nhóm can<br /> thiệp<br /> Trước Sau<br /> (%)<br /> (%)<br /> 87,5<br /> 31,2<br /> 79,1<br /> 43,7<br /> <br /> Nhóm<br /> chứng<br /> p<br /> Trước Sau<br /> (%)<br /> (%)<br /> 83,3 66,6

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản