1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua một thời kỳ dài của nền kinh tế nông nghiệp với cơ chế bao cấp,
nhiệm vụ chủ yếu của các công trình thủy lợi ở nước ta là cấp nước tưới tiêu
phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hiện nay, trong điều kiện mới của nền kinh tế
thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh của các hệ thống công trình thủy lợi
đã có những thay đổi đa dạng và mang tính tổng hợp hơn. Nhiều hệ thống
thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu hiện đang được đầu tư, nâng cấp để đảm nhiệm
thêm nhiệm vụ mới như: cấp nước thô (nước lấy từ nguồn nước sông tự
nhiên, chưa qua công đoạn làm sạch) phục vụ cho các nhà máy nước sạch
phục vụ công nghiệp và dân sinh; cấp nước cho nuôi trồng thủy sản, du lịch,
giao thông thuỷ,.... Do việc phải đảm trách thêm những nhiệm vụ sản xuất
kinh doanh mới này, công tác quản lý, vận hành các công trình trở nên phức
tạp hơn, và chi phí sản xuất cũng tăng cao hơn so với khi hệ thống chỉ có một
nhiệm vụ phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp.
Do công tác định giá sản phẩm và hoạt động dịch vụ chưa được quan tâm
thích đánh, hay nói chính xác hơn, do chưa có hệ thống định mức kinh tế kỹ
thuật, định mức chi phí trong hoạt động sản xuất, nên hiện nay vấn đề cân đối
tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các hệ thống thuỷ lợi gặp
rất nhiều khó khăn và luôn rơi vào tình trạng xung đột trong các quan hệ hợp
đồng kinh tế mà không có căn cứ phân định đúng sai. Thực tế này đã dẫn đến
tình trạng, nguồn kinh phí thu được của các hệ thống công trình thủy lợi từ
cấp nước nông nghiệp và các ngành tham gia hưởng lợi không đủ để duy tu
bảo dưỡng và vận hành các công trình của hệ thống cấp nước và các hệ thống
thủy lợi dẫn nước tạo nguồn. Do thiếu kinh phí trong hoạt động vận hành và
duy tu cải tạo, nên các hệ thống thuỷ lợi hiện có ngày một xuống cấp, đời
sống cán bộ công nhân viên của các loại hình doanh nghiệp này ngày càng
khó khăn. Để duy trì hoạt động cầm chừng của các hệ thống này, hàng năm
2
nhà nước phải cấp bù một khoản ngân sách không nhỏ. Nếu không có những
định hướng đúng trong quản lý kinh tế và sản xuất kinh doanh, thì mãi mãi
hoạt động của các hệ thống thuỷ lợi vẫn ở trong vòng luẩn quẩn.
Đã đến lúc cần phải vận dụng các biện pháp pháp luật, hành chính, kinh tế,
kỹ thuật và tuyên truyền, giáo dục,... để giải quyết những mâu thuẫn giữa
cung và cầu và tình trạng tài nguyên nước không đủ so với nhu cầu dùng
nước tăng trưởng tương đối nhanh, giải quyết mâu thuẫn giữa tình trạng môi
trường bị xấu đi, trong khi khả năng xử lí và khắc phục không đầy đủ, giải
quyết mâu thuẫn giữa tình trạng giá nước vẫn còn thu tương đối thấp trong
khi phải đầu tư xây dựng công trình là lắp đặt các trang thiết bị quản lí vận
hành công trình nước với chất lượng cao và kinh phí đầu tư lớn.
Vì những lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài luận văn “Nghiên cứu
phương pháp xây dựng định mức chi phí cấp nước thô từ hệ thống công trình
thủy lợi phục vụ sinh hoạt và công nghiệp”. Việc nghiên cứu phương pháp
xây dựng định mức chi phí nói chung, định mức chi phí cấp nước thô từ hệ
thống công trình thủy lợi phục vụ sinh hoạt và công nghiệp nói riêng, là một
trong những công tác rất cần thiết và cấp bách cần thiết phải được triển khai
ngay. Kết quả của việc nghiên cứu này sẽ là cơ sở quan trọng để các đơn vị có
thể chủ động tổ chức xây dựng, rà soát điều chỉnh định mức cho đơn vị mình,
đồng thời giúp các cơ quan quản lý có thẩm quyền ở địa phương kiểm tra,
thẩm định kết quả tính toán và quyết định ban hành áp dụng các chỉ tiêu định
mức chi phí trong hoạt động quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích tìm ra phương pháp xây dựng định mức
chi phí cấp nước thô phù hợp với thực trạng tổ chức sản xuất, điều kiện trang
bị kỹ thuật và trình độ quản lý của doanh nghiệp quản lý khai thác công trình
thuỷ lợi trong điều kiện nền kinh tế thị trường, phù hợp với điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội của một hệ thống công trình cụ thể.
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương pháp xây dựng định mức kinh
tế kỹ thuật nói chung, phương pháp xây dựng định mức chi phí cấp nước thô
ở các hệ thống công trình thuỷ lợi nói riêng.
b. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các hoạt động quản lý vận hành, sản xuất
kinh doanh, cung cấp dịch vụ cho các đối tượng hưởng lợi từ hệ thống công
trình thuỷ lợi. Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động và chi phí phát sinh
do hoạt động cấp nước thô từ hệ thống công trình thuỷ lợi cho các hoạt động
sản xuất nước sạch phục vụ công nghiệp và sinh hoạt.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nội dung, nhiệm vụ của đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng
các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: Phương pháp thống kế, kinh
nghiệm; Phương pháp so sánh; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp phân
tích theo mô hình toán; Phương pháp tổng hợp; và một số phương pháp kết
hợp khác.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Trên cơ sở tổng quan các cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động nghiên
cứu và xây dựng định mức, luận văn đã đề xuất và lựa chọn được phương
pháp xây dựng định mức chi phí cấp nước thô phù hợp, có cơ sở khoa học
trong quản lý khai thác các hệ thống công trình thuỷ lợi ở nước ta hiện nay.
Những kết quả nghiên cứu của đề tài là nội dung tham khảo hữu ích cho
những nghiên cứu, học tập và giảng dạy về xây dựng định mức.
b. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
4
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được xem như một hướng dẫn mẫu,
một gợi ý quan trọng cho hoạt động thực tiễn về xây dựng định mức kinh tế
kỹ thuật và tổ chức quản lý sản xuất ở các hệ thống công trình thuỷ lợi.
6. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu theo nhiệm vụ đã đề ra, nội dung nghiên
cứu của đề tài tập trung vào các nội dung chính như sau:
- Nghiên cứu tổng quan về công tác xây dựng và áp dụng định mức chi phí
cấp nước thô từ hệ thống công trình thủy lợi phục vụ sinh hoạt và công
nghiệp. Tổng kết các kết quả định mức chi phí thực tế tại một số vùng, miền.
- Nghiên cứu xây dựng quy trình và phương pháp lập một số định mức chi phí
chủ yếu (gồm một số loại định mức chủ yếu: Chi phí tiền lương trên một đơn
vị sản phẩm; Chi phí các khoản theo lương; Chi phí nạo vét kênh mương; chi
phí dụng cụ, vật tư duy trì vệ sinh kênh mương; Chi phí vật tư, nghiên nhiên
liệu bảo dưỡng thiết bị vận hành công trình; Chi phí sửa chữa thường xuyên
tài sản cố định; Chi phí quản lý doanh nghiệp; Chi phí khấu hao tài sản cố
định; Chi phí tri trả tạo nguồn; Một số chi phí khác).
- Áp dụng kết quả nghiên cứu phương pháp xây dựng định mức để tính toán
chi phí cấp nước thô từ hệ thống công trình thủy lợi phục vụ sinh hoạt và
công nghiệp của một hệ thống thuỷ lợi cụ thể.
5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC KINH TẾ KỸ THUẬT TRONG QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI
1.1. Một số khái niệm về định mức
Định mức là một trong những công cụ quan trọng và cần thiết trong các
hoạt động tổ chức và quản lý mà chính phủ của các quốc gia trên thế giới. Ở
Việt Nam công tác lập và áp dụng nhiều loại định mức khác nhau được Chính
phủ công bố hoặc hướng dẫn xây dựng, áp dụng, nhằm kiểm soát các hoạt
động kinh tế của đất nước. Về mặt xây dựng và quản lý, định mức được chia
thành các loại sau đây:
a. Định mức Nhà nước áp dụng chung cho các ngành, các cấp, được quy định
cho những sản phẩm (công việc) chủ yếu, do Nhà nước thống nhất quản lý, có
liên quan đến các cân đối chung của nền kinh tế quốc dân;
b. Định mức áp dụng trong từng ngành, được quy định cho những sản phẩm
(công việc) khi chưa có định mức Nhà nước, khi cần cụ thể hóa định mức Nhà
nước,hoặc cho những sản phẩm (công việc) của ngành được phân cấp quản
lý;
c. Định mức tỉnh,thành phố và đặc khu trực thuộc trung ương áp dụng trong
phạm vi tỉnh, được quy định cho những sản phẩm (công việc) khi chưa có
định mức Nhà nước, định mức ngành; khi cần cụ thể hóa định mức Nhà nước,
định mức ngành; hoặc cho những sản phẩm (công việc) của tỉnh, được phân
cấp quản lý;
d. Định mức huyện, quận và thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh áp dụng trong
phạm vi huyện được quy định cho những sản phẩm (công việc) khi chưa có
định mức Nhà nước, định mức ngành, định mức tỉnh, thành phố; khi cần cụ
thể hoá định mức của cấp trên, hoặc cho những sản phẩm (công việc) của
huyện được phân cấp quản lý;
6
e. Định mức đơn vị cơ sở áp dụng trong từng đơn vị cơ sở được quy định cho
những sản phẩm (công việc ) khi chưa có định mức Nhà nước, định mức
ngành, định mức địa phương; khi cần cụ thể hoá định mức của cấp trên; hoặc
cho những sản phẩm (công việc) của đơn vị cơ sở sản xuất được phân cấp
quản lý.
Mức theo tiếng la tinh là norm, trong thực tiễn mức còn có các từ tương
đương như tiêu chuẩn, chuẩn mực, hạn ngạch, v.v… Mức có mặt trong nhiều
lĩnh vực của đời sống như kinh tế, chính trị, pháp luật, tôn giáo, phong tục,
tập quán, đạo đức, thẩm mỹ,... ví dụ, trong thực tế gặp các câu nói: “ Nhân
viên A hoàn thành vượt mức công tác đặt ra trong ngày”; “Công nhân B hoàn
thành vượt mức sản lượng”; “ Giám đốc C cư xử với mọi người rất đúng
mức”; “ Anh D đã được hạ mức kỷ luật từ buộc thôi việc xuống cảnh cáo”;
v.v…
Như vậy, mức không nhất thiết là phạm trù định lượng được mà có thể là
phạm trù định tính. Mức xuất hiện trong hoạt động sản xuất và trao đổi hàng
hóa của con người được gọi là mức kinh tế - kỹ thuật, theo cách gọi thông
dụng hiện nay là định mức kinh tế kỹ thuật
Trong thực tế xây dựng và áp dụng định mức, chúng ta thường gặp các
khái niệm định mức sau:
1.1.1. Định mức lao động
Trong lĩnh vực hoạt động lao động sản xuất của con người, muốn cho quá
trình sản xuất tập thể của họ đạt đươc kết quả cao, thì ta phải biết kết hợp một
cách tốt nhất 3 yếu tố cơ bản của sản xuất, cũng như biết tổ chức và định mức
tốt các quá trình lao động.
Lịch sử phát triển loài người đã chứng minh rằng, khi trình độ sản xuất
ngày càng phát triển, thì công tác tổ chức và định mức lao động càng cần phải
dựa trên cơ sở khoa học chặt chẽ hơn và càng cần được quan tâm ở mức cao
7
hơn. Ở thời kỳ lao động của con người còn là thủ công và mức độ cơ giới hoá,
xã hội hoá lao động chưa cao, thì chỉ cần dựa vào kinh nghiệm của một số
người đã có thể tổ chức lao động tốt, khi lao động của con người dần được
máy móc thay thế, quy mô sản xuất ngày càng lớn, mức độ xã hội hoá lao
động ngày càng cao thì tổ chức và định mức lao động trở nên vô cùng quan
trọng và trở thành một bộ phận không thể tách rời của tổ chức sản xuất.
Xây dựng định mức lao động trong doanh nghiệp là lĩnh vực hoạt động
thực tiễn về xây dựng, và thực hiện các mức lao động trong tất cả các dạng
hoạt động lao động. Căn cứ vào phương pháp xây dựng mức chung ta có thể
phân định mức lao động thành hai nhóm chính là :
Những định mức lao động được xây dựng trên cơ sở những phương pháp
khoa học như chụp ảnh, bấm thời gian làm việc, dùng toán học để tính toán
chính xác thời gian lao động hao phí. Định mức lao động được xây dựng có
tính toán và đề cập tới điều kiện tổ chức kỹ thuật trình độ tổ chức lao động và
các yếu tố về điều kiện lao động, tâm sinh lý của con người. Như vậy là do
yêu cầu về tính chính xác cao, nên để xây dựng được loại mức này, phải đòi
hỏi thời gian, công sức và phương tiện lớn, khối lượng tính toán nhiều, chính
vì thế, nó được xây dựng và áp dụng trong các nhà máy công nghiệp, những
công việc phổ biến ổn định, hao phí thời gian nhỏ.
Nhóm mức thứ hai là những định mức thống kê kinh nghiệm nó được xây
dựng trên cơ sở nhứng tài liệu thông kê, những mức điển hình tiên tiến, và
kinh nghiệm của cán bộ xây dựng mức. Về mặt chất lượng, những định mức
này có trình độ chính xác chưa cao, nhưng trong thực tế nó lại được áp dụng
khá phổ biến cho những công việc mức ổn định thấp chu kỳ dài nơi làm việt
thường xuyên thay đổi. Những doanh nghiệp mà trình độ kỹ thuật, điều kiện
sản xuất luôn biến động.
8
Trong thực tế chúng ta thường xây dựng và áp dụng các loại định mức sau
đây: Mức thời gian; Mức sản lượng; Mức số lượng người làm việc; Mức quản
lý; Mức phục vụ.
Tuỳ thuộc vào từng công việc trong thực tế của các đơn vị sản xuất mà
chúng ta chọn phương pháp và mức lao động thích hợp để áp dụng, với mỗi xí
nghiệp do chức năng đảm nhận khác nhau trong quá trình sản xuất của các
dạng, loại công việc mà có thể có nhiều loại mức lao động khác nhau.
Như vậy thông qua những khái niệm trên chúng ta thấy rằng định mức lao
động chính là thước đo chất lượng và số lượng lao động ứng với một điều
kiện tổ chức sản xuất của một quá trình sản xuất cụ thể.
Nhờ có mức mà chúng ta có thể xác định được giá thành sản phẩm, xác
định được kế hoạch về lao động tiền lương của xí nghiệp tổ chức lao động và
sản xuất một cách hợp lý và khoa học. Việc áp dụng mức lao động vào sản
xuất sẽ khuyến khích người lao động phấn đấu một cách tự giác để không
ngừng nâng cao trình độ tay nghề phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật quý
trọng và tiết kiệm thời gian lao động và những yếu tố vật chất khác của sản
xuất đấy là một tiền đề hết sức quan trọng để nâng cao năng suất lao động và
hạ giá thành sản phẩm. Đây chính là một vấn đề hết sức quan trọng trong
quản lý sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp.
Thực trạng quản lý sản xuất quản lý lao động ở các doanh nghiệp khai thác
công trình thuỷ lợi nói chung còn lỏng lẻo và còn nhiều khiếm khuyết.
Nguyên nhân chính của những tồn tại này lại chính là do các doanh nghiệp
chưa làm tốt công tác tổ chức và định mức lao động những tập mức được quy
định thống nhất chung của nhà nước ban hành đã quá lạc hậu so với yêu cầu
và những biến đổi của thực tiễn sản xuất ở các xí nghiệp hơn nữa khi áp dụng
những mức đó vào sản xuất gây nhiều khó khăn cho công tác định mức.
Nguyên nhân chính là do những mức đó chưa đề cập hết đến thực trạng tổ
chức kỹ thuật và những đặc điểm riêng biệt của từng doanh nghiệp.
9
Một vấn đề khác cũng cần phải đề cập tới khi phân tích những tồn tại trên
đó là công tác xây dựng và áp dụng mức vào sản xuất ở ta từ trước tới nay,
nhất là ở các doanh nghiệp thuỷ nông chưa được quan tâm một các đúng mức
đó chính là kết quả của một thời gian dài hoạt động trong cơ chế hành chính
quan liêu bao cấp, hạch toán lỗ lãi trong sản xuất của các đơn vị mang tính
hình thức, các đơn vị quản lý khai thác công trình thuỷ lợi còn trông chờ ỷ lại
cấp trên.
Hiện nay Đảng và nhà nước ta đã mở ra cho các xí nghiệp hướng làm ăn
mới là mở rộng quyền chủ động trong sản xuất và kinh doanh của các xí
nghiệp. Các xí nghiệp phải chuyển sang hạch toán kinh tế. Với cách làm ăn
mới này chúng ta tin rằng năng lực của mỗi xí nghiệp sẽ được thể hiện rõ
hơn,đầy đủ hơn. tuy vậy không thể ngay một lúc chúng ta có thể áp dụng hạch
toán kinh tế và các xí nghiệp , mà công việc này đòi hỏi phải có một quá trình
và những điều kiện tiền đề nhất định.
Một trong những công tác cần phải tiến hành trước tiên là chúng ta phải
xây dựng được hệ thống các mức kinh tế kỹ thuật để làm cơ sở xác định một
loạt các yếu tố khác như giá thành sản phẩm, kế hoạch lao động vật tư, tính
vốn và làm cơ sở để tiến hành hạch toán nội bộ, xây dựng chế độ khoán, xác
định cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý xí nghiệp, hạch định biên xã hội của các
bộ phận sản xuất của xí nghiệp.
1.1.2. Định mức kinh tế - kỹ thuật
Định mức kinh tế - kỹ thuật là đại lượng biểu thị trực tiếp dùng để tính
toán lượng tiêu hao cần thiết lớn nhất của một loại nguồn lực nào đó để sản
xuất một đơn vị sản phẩm, bảo đảm những yêu cầu nhất định về chất lượng
và phù hợp với các nhân tố ảnh hưởng khách quan về địa chất tự nhiên, kỹ
Với định nghĩa trên, mức kinh tế - kỹ thuật luôn luôn là một chỉ tiêu (một
thuật, công nghệ và tổ chức quản lý.
phạm trù định lượng), tức là được biểu thị bằng những con số cụ thể. Định
10
mức kinh tế - kỹ thuật có nhiều loại thường được chia ra các nhóm căn cứ vào
tính chất nguồn lực hay lĩnh vực áp dụng như :
- Các định mức tiêu hao vật tư (các mức vật tư);
- Các định mức hao phí lao động (các mức lao động);
- Các mức khấu hao tài sản cố định và sử dụng năng lực sản xuất;
- Các mức đầu tư xây dựng cơ bản;
- Các mức tài chính; v.v…
Theo Nghị định số 201/CP của Hội đồng Chính phủ, ngày 26 tháng 5 năm
1981 về Quản lý định mức kinh tế - kỹ thuật thì: Định mức kinh tế - kỹ thuật
(Economic - Technical Norm) là lượng lao động sống và lao động quá khứ
biểu hiện bằng thời gian lao động, bằng giá trị hoặc hiện vật được phép sử
dụng để sản xuất một đơn vị sản phẩm hoặc thực hiện một khối lượng công
việc theo tiêu chuẩn, chất lượng quy định và theo quy trình công nghệ hợp lý,
trong những điều kiện trang thiết bị kỹ thuật, tổ chức sản xuất và trình độ
quản lý cụ thể. Lượng lao động sống và lao động vật hoá đối với các quá trình
hoạt động sản quản lý vận hành của các hệ thống công trình thuỷ lợi được
nhiên vật liệu để hoàn thành nhiệm vụ tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp,
dân sinh kinh tế và các dịch vụ theo kế hoạch được giao.
hiểu là các mức hao phí cần thiết về lao động, vật tư, máy móc thiết bị, nguyên
1.1.3. Định mức chi phí
Định mức chi phí là chi phí dự tính bằng tiền tối đa của các hao phí các
yếu tố công cụ lao động, đối tượng lao động và sức lao động để sản xuất ra
một đơn vị sản phẩm hay thực hiện một dịch vụ cho khách hàng theo kế
hoạch, trong một điệu kiện tổ chức sản xuất kinh doanh cụ thể.
Như vậy có thể hiểu, định mức chi phí là cơ sở để doanh nghiệp lập dự
toán chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy móc thiết bị và
tài sản cố định cho các hoạt động sản xuất từ đó có cơ sở lập kế hoạch quản
lý sản xuất, cung cấp dịch vụ trong kinh doanh của doanh nghiệp. Góp phần
11
thông tin kịp thời cho các nhà quản lý ra quyết định giá bán sản phẩm, chấp
nhận hay từ chối một đơn đặt hàng, phân tích khả năng đạt kết quả lợi nhuận
trong kinh doanh. Là cơ sở để tổ chức, điều hành sản xuất, giao khoán và
nâng cao tinh thần trách nhiệm của bộ, công nhân viên đối với việc sử dụng
các nguồn tài nguyên tiết kiệm nhất.
1.1.4. Định mức chi phí cấp nước thô
1. Khái niệm nước thô
Nguồn nước cấp từ công trình thuỷ lợi, từ hệ thống sông ngòi tự nhiên
cho các nhà máy và công trình sản xuất cấp nước sạch cho công nghiệp và
sinh hoạt và các hoạt động sản xuất gọi là nước thô. Như vậy, có thể hiểu:
nước thô là nguồn nước tự nhiên, chưa qua công đoạn làm sạch.
2. Khái niệm Định mức chi phí cấp nước thô
Định mức chi phí cấp nước thô là chi phí tối đa cho phép mà một doanh
nghiệp quản lý khai thác công trình thủy lợi bỏ ra trong một chu kỳ sản xuất,
ứng với điều kiện năm sản xuất bình thường, mặt bằng giá cả nhất định, để
hoàn thành việc cung cấp một khối lượng nước thô đảm bảo chất lượng thảo
thuận đến vị trí lấy nước của các công trình cấp nước của các đơn vị dùng
nước trên hệ thống.
Vậy định mức chi phí cấp nước thô được hiểu là việc xác định giới hạn
tối đa cho phép của các khoản mục chi phí sử dụng trong quá trình quản l ý
vận hành cung cấp nguồn nước thô cho các đối tượng dùng nước từ các công
trình thuỷ lợi, trong một chu kỳ sản xuất, ứng với một điều kiện tổ chức sản
xuất cụ thể.
Chi phí cấp nước thô ở với hệ thống thuỷ lợi, thường bao gồm các
thành phần chi phí sau: Chi phí tiền lương; Chi phí các khoản theo lương; Chi
phí nạo vét kênh mương; Chi phí dụng cụ, vật tư dùng trong viêc duy trì vệ
sinh kênh mương; Chi phí vật tư, nguyên nhiên liệu để bảo dưỡng, vận hành
12
công trình; Chi phí sửa chữa thường xuyên tài sản cố định phục vụ cấp nước
thô; Chi phí khấu hao tài sản cố định; Chi phí quản lý doanh nghiệp; Các chi
phí khác; Chi phí chi trả tạo nguồn.
Như vậy, thực chất của các khái niệm định mức chi phí, định mức chi
phí cấp nước thô, chỉ là khái niệm về một nhóm định mức kinh tế - kỹ thuật
trong trường hợp nghiên cứu cụ thể. Cũng có thể hiểu, chúng là các khái niệm
định mức kinh tế - kỹ thuật cho từng trường hợp riêng, mà bản thân mỗi định
mức đều bao hàm yếu tố kinh tế và kỹ thuật.
1.1.5. Chất lượng định mức kinh tế - kỹ thuật
Chất lượng mức kinh tế kỹ thuật là tổng thể những tiêu chí cho phép nhận
định được tác dụng của mức trong quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh ở
doanh nghiệp.
Để phản ánh chất lượng của định mức kinh tế - kỹ thuật được xây dựng áp
dụng, người ta sử dụng những tiêu chí cơ bản sau đây:
1. Tính thuyết phục:
Là căn cứ khoa học của mức được truyền đạt tới người thực hiện bằng các
hình thức công bố, hướng dẫn thực hiện cũng như bằng bản thân sự tham gia
chủ động sáng tạo của người thực hiện vào việc hoàn thiện định mức.
2. Tính khuyến khích:
Là khả năng định hướng cho người thực hiện hoàn thành và hoàn thành
vượt mức nhờ cố gắng cá biệt (tăng trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề, thể
lực, tinh thần trách nhiệm, sáng kiến, ý thức,…) nhờ hệ thống quy định đi
kèm về phương pháp đòn bẩy kinh tế áp dụng và xem xét sửa đổi mức.
3. Tính pháp lý:
Là giá trị pháp lý của mức được dùng trong các công tác quản lý áp dụng
như trả lương, thưởng, lập kế hoạch lao động tiền lương, tổ chức sản xuất.
4. Tính phù hợp:
13
Là sự phù hợp giữa định mức được công bố và định mức áp dụng về thời
hạn, điều kiện áp dụng.
5. Tính tiện ích:
Thể hiện thông qua việc dễ hiểu, dễ nắm bắt đối với người áp dụng, dễ lưu
trữ và truy cập mức đối với cán bộ quản lý.
6. Tính công bằng:
Biểu thị qua sự công khai minh bạch, đồng đều về “độ căng” giữa các mức
áp dụng trong doanh nghiệp.
7. Tính hiệu quả:
Là tiêu chí thể hiện tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí định mức và
quản lý mức (Tiêu chí tổng hợp của các tiêu chí trên).
Những tiêu chí trên có quan hệ lẫn nhau, khó định lượng và chịu ảnh hưởng
của nhiều nhân tố.
1.2. Vai trò, chức năng của định mức kinh tế - kỹ thuật
1.2.1. Vai trò của định mức kinh tế - kỹ thuật đối với sản xuất kinh doanh
Định mức kinh tế kỹ thuật là một trong những công cụ quan trọng mà
các chính phủ các nước, các tập đoàn kinh tế thường hay áp dụng. Ở Việt
Nam công tác lập và áp dụng nhiều loại định mức khác nhau được Chính phủ
công bố thực hiện nhằm hướng dẫn hoặc kiểm soát nhiều hoạt động kinh tế.
Trên thực tế, ngoài những định mức kinh tế kỹ thuật do nhà nước công
bố, để cụ thể và chi tiết hoá các quá trình quản lý sản xuất kinh doanh, các
ngành kinh tế, các cơ quan đơn vị cũng cần có những loại định mức chuyên
ngành, định mức nội bộ của mình. Ví dụ, trong ngành Xây dựng, rất nhiều
định mức cho các đơn vị trong ngành triển khai và áp dụng vào các hoạt động
quản lý sản xuất. Nhiều bộ định mức đã và đang được công bố áp dụng như:
Định mức dự toán xây dựng công trình (Phần xây dựng); Định mức chi phí
quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng công trình; Định mức khảo sát xây
14
dựng; Định mức vật tư trong xây dựng,… Trong ngành Giao thông, nhiều loại
định mức KTKT được công bố áp dụng như: Định mức kinh tế - kỹ thuật
quản lý, bảo trì đường thủy nội địa; Định mức kinh tế - kỹ thuật sửa chữa
thường xuyên đường sông,…
Trong thực tiễn quản lý xã hội, quản lý kinh tế, quản lý quá trình sản xuất
kinh doanh nhà nước hay doanh nghiệp phải thực hiện để xác định và công bố
những định mức kinh tế - kỹ thuật. Định mức kinh tế - kỹ thuật được xây
dựng, được công bố có những chức năng, nhiệm vụ khách quan, khái quát
như sau:
1. Chức năng thông tin và thước đo:
Đó là tạo ra những định mức dùng làm căn cứ xúc tiến những thỏa ước
(hợp đồng) kinh tế - kỹ thuật theo quy định của hệ thống pháp luật; lập kế
hoạch sản xuất kinh doanh; tổ chức các quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh, hoạt động quản lý, thanh quyết toán,…
2. Chức năng kinh tế:
Là việc tạo ra những định mức mang tính định hướng cho các tổ chức, cá
nhân cùng tham gia vào quá trình tổ chức quản lý điều hành và người lao
động trực tiếp cùng tích cực thực hiện chính sách tiết kiệm các nguồn tài
nguyên, nguồn lực của quá trình sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất lao
động, hiệu quả trong kinh doanh, tiết kiệm chi phí vì lợi ích của cá nhân và
tập thể doanh nghiệp.
3. Chức năng xã hội:
Các định mức kinh tế kỹ - thuật có tác dụng bảo đảm yêu cầu công khai,
công bằng, minh bạch trong sử dụng các nguồn lực và phân phối thu nhập của
doanh nghiệp, của tổ chức, bảo đảm ngày càng giảm cường độ lao động nặng
nhọc trên cơ sở khuyến khích áp dụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến…
15
Các chức năng trên đây vừa có tính độc lập vừa có tính thống nhất với
nhau, được hình thành khách quan bởi vị trí của nguồn lực lao động trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay.
1.2.2. Vai trò và sự cần thiết của công tác xây dựng định mức kinh tế - kỹ
thuật trong công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi
Trong ngành Thủy lợi, những hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc lĩnh
vực đầu tư xây dựng cơ bản thường áp dụng một số định mức kinh tế kỹ thuật
chung thống nhất, được công bố bởi Bộ Xây dựng ban hành. Còn trong lĩnh
vực quản lý khai thác các công trình thuỷ lợi hầu như chưa có hệ thống định
mức kinh tế kỹ thuật trong hoạt động sản xuất. Hoặc nếu có, thì cũng chỉ là
những định mức được xây dựng từ lâu, bằng phương pháp kinh nghiệm, độ
chính xác không cao, không đầy đủ, không còn phù hợp và không đáp ứng
được yêu cầu quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong điều
kiện hiện tại. Hiện nay vấn đề thâm hụt tài chính trong hoạt động sản xuất
kinh doanh ở các hệ thống thuỷ lợi là vấn đề nổi cộm một bài toán chưa có lời
giải. Nguồn kinh phí thu được của các hệ thống công trình thủy lợi từ cấp
nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp và các ngành tham gia hưởng lợi
không đủ để trang trải cho duy tu bảo dưỡng và vận hành các công trình của
hệ thống. Do thiếu kinh phí trong hoạt động vận hành và duy tu cải tạo, nên
các hệ thống thuỷ lợi hiện ngày càng bị xuống cấp, hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp ngày càng gặp nhiều khó khăn. Từ thực tế nêu
trên cho thấy, việc xây dựng và áp dụng các định mức kinh tế - kỹ thuật trong
quản lý khai thác các hệ thống công trình thuỷ lợi là hết sức cần thiết và quan
trọng.
Việc xây dựng và áp dụng hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật trong
quản lý khai tác các công trình thuỷ lợi có các vai trò quan trọng sau đây:
1. Đối với các tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi:
16
Hệ thống định mức kinh tế kỹ - thuật là căn cứ để:
- Lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch sử dụng lao động, kế hoạch tài chính
hàng năm của đơn vị;
- Sắp xếp và sử dụng lao động hợp lý, nhằm nâng cao năng suất lao
động, tinh gọn bộ máy và là cơ sở để thực hiện cơ chế khoán cho công tác
quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi trong đơn vị (tổ, cụm, trạm
thuỷ nông,…) thực hiện phương châm gắn quyền lợi với trách nhiệm và kết
quả lao động của người lao động;
- Là căn cứ pháp lý để đơn vị thanh quyết toán với các cơ quan quản lý
nhà nước và các đơn vị liên quan trong việc thực hiện các hợp đồng kinh tế
cung cấp dịch vụ kỹ thuật từ hệ thống.
2. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước:
Hệ thống định mức kinh tế kỹ - thuật đã được phê duyệt là căn cứ để:
- Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm tra, thẩm định kế hoạch
sản xuất, kế hoạch tài chính của đơn vị và là cơ sở để xây dựng đơn giá đặt
hàng, giao kế hoạch, xác định giá gói thầu quản lý, khai thác và bảo vệ công
trình thuỷ lợi theo Nghị định 31/2005/CP ngày 11/3/2005 của Chính phủ và
Quyết định 256/2006/QĐ-TTg ngày 9/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ;
- Là căn cứ để nghiệm thu, thanh quyết toán chi phí quản lý, khai thác
và bảo vệ công trình thuỷ lợi cho các đơn vị khi hoàn thành nhiệm vụ được
giao.
1.3. Tình hình xây dựng và áp dụng định mức kinh tế - kỹ thuật trong
công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi ở nước ta
1.3.1. Tình hình xây dựng và áp dụng định mức kinh tế - kỹ thuật qua các thời kỳ
1. Giai đoạn trước thời kỳ đổi mới (trước năm 1990)
17
Từ việc nhận thức rõ tầm quan trọng và cần thiết của công tác xây dựng
và áp dụng định mức trong quản lý sản xuất, năm 1976, Hội đồng chính phủ
đã ban hành Quyết định số 133 - CP về tăng cường chỉ đạo công tác xây dựng
và quản lý chặt chẽ việc thực hiện các định mức lao động. Ngay sau đó các
bộ, ngành đã đều có các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện Quyết định
này. Ngày 15/11/1977, Bộ Thuỷ lợi cũ (nay là Bộ Nông nghiệp và PTNT) đã
có Văn bản số 17TT-/LĐTL hướng dẫn thực hiện Quyết định 133-CP về công
tác định mức lao động trong ngành thuỷ lợi. Văn bản này đã chỉ rõ tầm quan
trọng của công tác xây dựng định mức lao động:
- Định mức lao động là một trong những vấn đề cơ bản của quản lý
kinh tế, quản lý sản xuất, dùng để giao nhiệm vụ và thanh toán tiền
lương cho người lao động.
- Công tác định mức lao động phải được tăng cường và củng cố, nhằm
khai thác khả năng tiềm tàng trong sản xuất và động viên mọi người
đẩy mạnh sản xuất.
- Mức lao động trong ngành đảm bảo sao cho hợp lý và tiên tiến thể
hiện được yêu cầu tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng
sản phẩm.
- Phản ánh được tính pháp lệnh, tính khoa học kỹ thuật và tính quần
chúng.
Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ngày một mạnh mẽ của công tác thuỷ
lợi, đồng thời thực hiện chủ trương của Nhà nước về việc xây dựng và áp
dụng định mức trong ngành, trong thời kỳ này, ngành Thuỷ lợi đã có nhiều cố
gắng trong việc vận dụng định mức của Nhà nước, nghiên cứu xây dựng định
và áp dụng các định mức, tiêu chuẩn nội bộ. Việc áp dụng các loại định mức
của Nhà nước, của ngành đã được thể hiện qua việc thực hiện trong giao
khoán trả lương theo sản phẩm cho cả dây chuyền sản xuất cho các công tác
18
chủ yếu có khối lượng lớn như công tác làm đất, đá, xây lát, đổ bê tông xây
dựng công trình thuỷ lợi.
Do trong giai đoạn này, có nhiều hệ thống công trình thuỷ lợi được chú
trọng đầu tư xây dựng mới và cải tạo nâng cấp, hơn nữa chi phí cho đầu tư
xây dựng tiêu dùng nguồn vốn ngân sách lớn, để có công cụ giúp cho việc
quản lý trong lĩnh vực này Bộ Thuỷ lợi (Nay là Bộ NN và PTNT) hầu như
mới chỉ tập trung vào việc xây dựng và ban hành áp dụng định mức lao động
cho các loại: công tác đất đá; công tác xây lắp; công tác lắp đặt; công tác sản
xuất vật liệu tại xí nghiệp, công tác khảo sát; công tác cơ khí để áp dụng thực
hiện. Định mức kinh tế kỹ thuật cho công tác quản lý khai thác các công trình
thuỷ lợi trong giai đoạn này hầu như chưa được xây dựng và áp dụng.
2. Giai đoạn từ năm 1990 đến 1999
Trong giai đoạn này, nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển khá
mạnh mẽ sang cơ chế thị trường, ở các doanh nghiệp quản lý khai thác công
trình thuỷ lợi đã bộc lộ những khó khăn trong hoạt động vì thiếu cơ chế quản
lý phù hợp trong điều kiện mới. Bộ máy quản lý khai thác ở các Công ty quản
lý khai thác công trình thuỷ lợi cồng kềnh, hiệu quả quản lý khai thác thấp.
Trước thực trạng đó, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ra chỉ thị số
14-HĐBT ngày 14/1/1991 về việc: “Đẩy mạnh công tác quản lý khai thác bảo
vệ các hệ thống CTTL”.
Thực hiện Chỉ thị số 14 - HĐBT, Bộ Thuỷ lợi cũ đã có Công văn số
1026 CV/NCKT ngày 13/10/1992, chỉ đạo UBND các tỉnh, các sở Thuỷ lợi
phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế - Viện Khoa học Thuỷ lợi tiến
hành xây dựng các chỉ tiêu định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức lao động
trong quản lý thuỷ nông, định mức tiền lương trên đơn vị sản phẩm phục vụ,
nghiên cứu phương thức và cách trả lương khoán trong các đơn vị thủy nông.
Cũng trong thời kỳ này, Bộ NN và PTNT có Công văn số 2846 NN-QLN/CV
gửi các sở Nông nghiệp và PTNT, các công ty khai thác công trình Thuỷ lợi
19
phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức nghiên cứu xây dựng các loại định
mức dùng cho công tác sửa chữa thường xuyên công trình thuỷ lợi . Công tác
xây dựng và áp dụng định mức đã được tăng cường tại nhiều đơn vị.
Trong thời kỳ này đã có nhiều doanh nghiệp quản lý khai thác công
trình thuỷ lợi ở nhiều địa phương ở Miền Bắc như Công ty thuỷ nông Liễn
Sơn - Vĩnh Phú, Xí nghiệp thuỷ nông Mỹ Văn - Hưng Yên, Xí nghiệp thuỷ
nông Bắc Đuống - Bắc Ninh, Công ty thuỷ nông Kẻ Gỗ, Xí nghiệp thuỷ nông
Đông Anh – Hà Nội, Công ty thuỷ nông Sông Rác,...
Các loại định mức kinh tế kỹ thuật được các địa phương và các doanh
nghiệp quan tâm xây dựng gồm: Định mức lao động và đơn giá tiền lương;
Định mức tiêu thụ điện năng cho công tác bơm tưới, tiêu; Định mức tiêu thụ
điện năng cho công tác bơm tưới, tiêu;...
Kết quả của các nghiên cứu xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật ở các
đơn vị nói trên là căn cứ khoa học và pháp lý trong việc xác định biên chế,
quỹ lương, bố trí sắp xếp lại lực lượng lao động trực tiếp và bộ máy quản lý,
khoán tiêu thụ vật tư, sử dụng trang thiết bị được áp dụng trong công tác hạch
toán chi phí, giá thành và giao khoán nội bộ trong các công ty, xí nghiệp thủy
nông.
Bảng 1.1: Các đơn vị thực hiện xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật
trong giai đoạn 1990-1999
TT Loại định mức Công ty, xí nghiệp và năm xây dựng định mức
1 Định mức lao động và đơn giá tiền lương
- Xí nghiệp thuỷ nông Hưng Nguyên - Nghệ An (1991) - Công ty thuỷ nông Bắc Nghệ An (1992) - Công ty thuỷ nông Liễn Sơn – Vĩnh Phú (1992) - Xí nghiệp thuỷ nông Mỹ Văn – Hưng Yên (1992) - Xí nghiệp thuỷ nông Bắc Đuống - Bắc Ninh
20
(1992 – 1993) - Công ty thuỷ nông Linh Cảm (1993) - Công ty thuỷ nông Kẻ Gỗ (1993) - Xí nghiệp thuỷ nông Từ Liêm – Hà Nội (1994) - Xí nghiệp thuỷ nông Đông Anh – Hà Nội (1998) - Công ty thuỷ nông Sông Rác (1999) - Công ty thuỷ nông Kim Sơn – Ninh Bình (1999) - Công ty thuỷ nông Bắc Đuống (1999)
2
Định mức tiêu thụ điện năng cho tác bơm công tưới, tiêu - Xí nghiệp thuỷ nông Bắc Đuống (1992) - Xí nghiệp thuỷ nông Mỹ Văn (1992) - Công ty thủy nông Linh Cảm (1993) - Công ty thuỷ nông Bắc Nam Hà (1998) - Công ty thuỷ nông Sông Cầu (1999)
3 - Xí nghiệp thuỷ nông Đông Anh – Hà Nội (1998) - Công ty thuỷ nông Linh Cảm – Hà Tĩnh (1999)
tiêu Định mức tư, hao vật nguyên nhiên liệu; định mức sửa chữa thường xuyên máy móc thiết bị cơ điện
Nguồn: Viện Kinh tế và Quản lý thuỷ lợi
Trong giai đoạn này, các loại định mức kinh tế kỹ thuật được xây dựng
chủ yếu do các công ty, xí nghiệp thuỷ nông thuê đơn vị tư vấn thực hiện. Các
chỉ tiêu định mức này được các đơn vị áp dụng để lập kế hoạch, thanh quyết
toán các hạng mục chi phí và làm cơ sở để các cơ quan nhà nước cấp bù.
3. Giai đoạn từ năm 2000 đến nay
Để chỉ đạo đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng định mức kinh tế kỹ
thuật trong quản lý khai thác các công trình thuỷ lợi cả về quy mô và chiều
sâu, Bộ NN và PTNT đã ban hành Công văn số 790 BNN/QLN ngày
26/3/2001, về việc tiến hành nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu định mức kinh
21
tế - kỹ thuật ở các đơn vị quản lý khai thác công trình thuỷ lợi, trong đó nhấn
mạnh việc cần thiết phải xây dựng các lợi định mức như: định mức tiêu hao
điện năng; định mức lao động; định mức sửa chữa thường xuyên tài sản cố
định (SCTX TSCĐ); định mức sửa chữa lớn (SCL); định mức sử dụng nước
tưới; định mức sử dụng vật tư trong quản lý vận hành; định mức quản lý thuỷ
nông mặt ruộng;… Để đẩy tiến trình nhanh và hiệu quả, Bộ NN và PTNT đã
yêu cầu các Sở Nông nghiệp và PTNT chỉ đạo các công ty khai thác công
trình thuỷ lợi tiến hành xây dựng các chỉ tiêu định mức trênđồng thời Bộ
Nông nghiệp và PTNT giao Cục Quản lý nước và Công trình Thuỷ lợi giúp
Bộ chỉ đạo và thẩm định các định mức đã được xây dựng.
Từ khi có chủ trương này của Bộ NN và PTNT về công tác xây dựng
định mức, nhiều đơn vị quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của các địa
phương đã tiến hành xây dựng hệ thống chỉ tiêu định mức kinh tế - kỹ thuật
trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi. Công tác xây dựng hệ thống định
mức kinh tế - kỹ thuật này được các đơn vị tiến hành thực hiện dưới hai hình
thức: Thuê đơn vị tư vấn xây dựng hệ thống định mức và đơn vị tự thành lập
tổ định mức để xây dựng hệ thống định mức cho đơn vị.
Hình 1.1. Đoàn điều tra số liệu xây dựng mức tại Công ty khai thác công
trình thuỷ lợi Vĩnh Bảo - Hải Phòng
22
Dựa trên số liệu điều tra khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế
thuỷ lợi (Nay là Viện Kinh tế và Quản lý Thủy lợi) tính đến cuối tháng 4 năm
2009, cả nước có 28 trên tổng số 63 tỉnh thành đã xây dựng định mức kinh tế
kỹ thuật cho công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi, và có 5 tỉnh đang
tiến hành xây dựng định mức này. Hầu hết các đơn vị này đều thuê đơn vị tư
vấn thực hiện công tác xây dựng định mức, tuy nhiên, cũng có một số đơn vị
ở tỉnh Thái Bình, Thanh Hóa,... tự xây dựng định mức. Nhìn chung, ở các đơn
vị tự xây dựng định mức, công tác xây dựng định mức gặp nhiều khó khăn do
không có tài liệu hướng dẫn về phương pháp xây dựng định mức. Phương
pháp chủ yếu mà các đơn vị này áp dụng trong xây dựng định mức của đơn
vị mình là phương pháp thống kê kinh nghiệm.
Theo số liệu điều tra, thì Vùng đồng bằng sông Hồng là nơi có nhiều
đơn vị quản lý khai thác công trình thuỷ lợi tham gia và hoàn thành công tác
xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật nhất (27/39 đơn vị). Toàn quốc có
50/101 (chiếm 49,5%) doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi đã xây
dựng và được UBND tỉnh ban hành áp dụng định mức kinh tế kỹ thuật trong
quản lý khai thác công trình thuỷ lợi (Bảng 1.2). Đồng bằng sông Hồng, Miền
núi phía Bắc và Tây Nguyên là các vùng có tỷ lệ doanh nghiệp khai thác công
trình thuỷ lợi triển khai áp dụng định mức kinh tế kỹ thuật cao (trên 60%).
Tiếp đến là Đồng bằng sông Cửu Long có 50% số doanh nghiệp áp dụng định
mức kinh tế - kỹ thuật . Các vùng còn lại đều có tỷ lệ dưới 30% số đơn vị xây
dựng định mức kinh tế - kỹ thuật trên tổng số các đơn vị, riêng vùng Bắc
Trung Bộ chỉ có 10% số đơn vị áp dụng định mức kinh tế - kỹ thuật.
23
Hình 1.2. Giám đốc Công ty TN Đan Hoài báo cáo tình hình áp dụng ĐM
Theo kết quả điều tra, tỷ lệ bình quân các doanh nghiệp khai thác công
trình thuỷ lợi xây dựng và được ban hành áp dụng định mức kinh tế - kỹ thuật
trên toàn quốc còn chưa cao. Còn có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng miền
về việc chỉ đạo cũng như thực hiện chủ trương của Bộ NN và PTNT trong xây
dựng, ban hành và áp dụng các định mức kinh tế - kỹ thuật trong quản lý khai
thác công trình thuỷ lợi. Đồng bằng sông Hồng không những có tỷ lệ doanh
nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi cao nhất cả nước (gần 40%) mà còn có số
lượng doanh nghiệp triển khai áp dụng định mức kinh tế kỹ thuật cao nhất
chiếm 54% (27/50 doanh nghiệp). Trong khi đó, vùng Bắc Trung Bộ có tới
gần 20% số doanh nghiệp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi so với toàn
quốc nhưng chỉ có 4% (2/50) số đơn vị xây dựng và áp dụng định mức kinh tế
- kỹ thuật trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi.
24
Bảng 1.2: Số lượng doanh nghiệp đã xây dựng và áp dụng định mức kinh
tế - kỹ thuật giai đoạn 1990 - 1999
TT Vùng, miền
1 Miền núi phía Bắc Số doanh nghiệp đã xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật 12/19 Tỷ lệ (%) 63,2
2 Đồng bằng sông Hồng 27/39 69,2
3 Bắc Trung Bộ 2/20 10,0
4 Duyên hải miền Trung 2/7 28,6
5 Tây Nguyên 3/4 75,0
6 Đông Nam Bộ 2/8 25,0
7 ĐB sông Cửu Long 2/4 50,0
(Nguồn: Viện Kinh tế và Quản lý Thuỷ lợi)
Tổng 50/101 49,5
Hình 1.3. Báo cáo kết quả xây dựng định mức KT-KT của 1 đơn vị tư vấn
(Hình ảnh trên trang web của Viện KT và QL Thuỷ lợi)
Cũng theo kết quả khảo sát của Viện Kinh tế và Quản lý Thuỷ lợi, tính
đến thời điểm tháng 4/2009, do sự cố gắng của một số đơn vị và địa phương,
25
trên cả nước đã có 28 trên tổng số 63 tỉnh, thành đã có các đơn vị quản lý khai
thác công trình thuỷ lợi tiến hành xây dựng hệ thống định mức kinh tế - kỹ
thuật trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi và đã được UBND tỉnh phê
duyệt áp dụng (số liệu ghi ở Bảng 1.3). Kết quả áp dụng bước đầu khi áp
dụng đã cho thấy những kết quả rất quan.
Bảng 1.3: Thống kê số đơn vị đã xây dựng định mức từ năm 2000 đến 2009
ĐM kinh tế - kỹ thuật đã được XD và áp dụng
TT
Tỉnh
Công ty khai thác công trình
thuỷ lợi
Lao động
Điện tưới
Điện tiêu
Sử dụng nước
VTư, NN liệu
SChữa thường xuyên
Chi phí quản lý
I Khu vực miền núi phía bắc
x x x
x x x
x x x
x
x x x
x x x
x x x
Phú Thọ
4 5 Quảng
x x
x x
x x
x x
x x
x x
x x
1 Cao Bằng Cao Bằng 2 Lạng Sơn Lạng Sơn 3 Bắc Giang Sông Cầu, Cầu Sơn, Yên Thế, Nam Yên Dũng, Lục Ngạn Phú Thọ Yên Lập; Miền Đông; Đông Triều Hoà Bình
Ninh 6 Hoà Bình II Khu vực ĐBSH 7 Hà Nội
x x
x x
x
x
x x
x x
x
8 Hải Phòng
x
x
x
x
x
x
x
Sóc Sơn; Đông Anh; Đa Độ; An Hải; Thuỷ Nguyên; Tiên Lãng; Vĩnh Bảo Bắc Đuống Tỉnh Hải Dương Tỉnh Hưng Yên Hà Nam
9 Vĩnh phúc 10 Bắc Ninh 11 Hải Dương 12 Hưng Yên 13 Hà Nam 14 Nam Định Bắc Hà Nam, Nam
x x x x x
x x x x x
x x x x x
x x x x x
x x x x
x x x x
x x
Hà Nam
x
x
x
x
x
15 Ninh Bình Kim Sơn, Hoa Lư, Yên Khánh, Gia Viễn, Yên Mô, Nho Quan
16 Thái Bình 10 Công ty III Khu vực Trung Bộ 17 Thanh Hoá
Bắc Sông Mã,
x x
x x
x x
x x
x x
x x
Sông Chu
18 Quảng Trị Công ty KTCTTL
x
x
x
x
x
x
x
Quảng Trị
26
19 Quảng Nam Tỉnh Quảng Nam 20 Quảng Ngãi Quảng Ngãi IV Khu vực Tây Nguyên 21 Kon tum
Tỉnh Kon Tum
x x x
x x x
x x x
x
x x x
x x x
x x x
22 Gia Lai
Tỉnh Gia Lai
x
23 Đắc Lắc Tỉnh Đắc Lắc V Khu vực ĐNB và ĐB SCL 24 Tây Ninh Tây Ninh 25 Ninh Thuận Tỉnh Ninh Thuận 26 Bình Phước Bình Phước 27 An Giang An Giang 28 Trà Vinh
Tỉnh Trà Vinh
x x x x x x
x x x
x x x x x
x x x
x x x x x x
x x x x x x
x x x x
(Nguồn: Viện Kinh tế và Quản lý Thuỷ lợi)
1.3.2. Những kết quả đạt được và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu,
hoàn thiện trong xây dựng và áp dụng định mức kinh tế - kỹ thuật
1. Kết quả công tác xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật
Trên cơ sở nghiên cứu về tình hình và kết quả các định mức đã được
xây dựng và áp dụng có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
a. Kết quả tính toán cho thấy, cùng một loại định mức kinh tế kỹ thuật
trong quản lý khai thác CTTL, nhưng kết quả tính toán xây dựng ở mỗi
hệ thống khác nhau cho ra các kết quả khác nhau. Kết quả này là hoàn
toàn phù hợp, vì chỉ tiêu định mức kinh tế - kỹ thuật quản lý khai thác
công trình thuỷ lợi phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như, hiện
trạng và loại hình công trình, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội,… Vì
vậy, để các chỉ tiêu định mức phù hợp và áp dụng vào thực tiễn thì cần
phải tính toán xây dựng cụ thể cho từng hệ thống công trình, không thể
lấy định mức của hệ thống này để áp dụng cho hệ thống khác, thậm chí
của đơn vị bộ phận này cho đơn vị bộ phận khác trong cùng một hệ
thống;
27
b. Chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật có sự khác biệt rất đáng kể giữa các
vùng, miền, thậm chí giữa các đơn vị trong cùng một vùng. Định mức
lao động có sự chênh lệch lớn giữa các vùng, thấp nhất là vùng Đồng
bằng sông Cửu Long trong khoảng từ 0,33 – 3,93 công/ha và cao nhất
là vùng Đông bắc từ 3,55 - 8,36 công/ha (gấp từ 2 đến gần 10 lần).
Định mức lao động phụ thuộc rất lớn vào loại hình hệ thống công trình,
đặc điểm địa hình và loại hình sản xuất nông nghiệp;
c. Định mức sử dụng nước tưới lúa tại mặt ruộng cũng có sự khác biệt lớn, thấp nhất là ở vùng Đồng bằng sông Hồng, khoảng 5000 m3/ha vụ đông xuân và 3000 m3/ha vụ hè thu, cao nhất ở vùng Tây Bắc và Tây Nguyên, ở một số khu vực, định mức đạt gần 11.000 m3/ha vụ đông
xuân. Kết quả tính toán cho thấy, định mức sử dụng nước phụ thuộc rất
lớn vào điều kiện tự nhiên, nhất là các yếu tố khí tượng thủy văn, đặc
điểm đất đai thổ nhưỡng và thời vụ canh tác;
d. Về Định mức tiêu thụ điện năng cho bơm tưới lúa, có mức thấp nhất ở
vùng Đồng bằng sông Hồng, mức tiêu thụ trong khoảng từ 196 - 268
kwh/ha vụ đông xuân và cao nhất là khu vực Tây Nguyên từ 549 - 880
kwh/ha vụ đông xuân. Như vậy, có thể thấy rằng, định mức điện bơm
không những phụ thuộc đáng kể vào chất lượng máy bơm, độ cao cột
nước bơm mà còn có mối liên quan chặt chẽ với định mức sử dụng
nước của mỗi vùng;
e. Định mức sửa chữa thường xuyên TSCĐ hàng năm có mức hao phí
thấp nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trong khoảng từ 0,41% -
0,43% so với nguyên giá TSCĐ và cao nhất là vùng Đồng bằng sông
Hồng từ 0,66% - 3,18% nguyên giá TSCĐ. Định mức sửa chữa thường
xuyên TSCĐ ở nhiều đơn vị vượt mức khung tỷ lệ % quy định cho từng
loại hình hệ thống công trình tại Quyết định 211/1998/QĐ-BNN-QLN
của Bộ Nông nghiệp và PTNT. Tuy nhiên, trên thực tế tỷ lệ % cao do
28
nhiều đơn vị chưa đánh giá lại hoặc quy đổi giá trị TSCĐ về thời điểm
tính toán;
f. Định mức chi phí quản lý doanh nghiệp có sự dao động tương đối lớn
giữa các đơn vị, từ 5,82% đến 30% trên tổng quỹ tiền lương kế hoạch
của đơn vị. Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt phụ
thuộc vào tính chất phức tạp và quy mô của hệ thống công trình thuỷ
lợi;
g. Các phương pháp xây dựng định mức được vận dụng trong xây dựng
mức là tương đối mềm dẻo, được tính toán, phân tích, lập luận, xác lập
có căn cứ khoa học, có xem xét đề cập đến các hệ số điều chỉnh bởi các
yếu tố ảnh hưởng của tự nhiên, giá cả và tổ chức quản lý.
2. Tình hình áp dụng định mức được xây dựng vào thực tiễn
Kể từ sau khi có chỉ thị số 14-HĐBT ngày 14/1/1991 đến thời điểm
năm 2009, đã có 50 đơn vị quản lý khai thác công trình thủy lợi thuộc 28 tỉnh
thành xây dựng và thực hiện định mức kinh tế kỹ thuật trong quản lý khai
thác công trình thuỷ lợi, tuy nhiên hầu hết các đơn vị này mới chỉ áp dụng
định mức kinh tế - kỹ thuật cho công tác lập kế hoạch và thanh quyết toán các
khoản mục chi phí (Theo báo cáo của Viện Kinh tế và Quản lý Thuỷ lợi).
Công tác quản lý áp dụng hình thức giao khoán trên cơ sở định mức cũng đã
được thực hiện ở một số đơn vị. Tuy nhiên, phạm vi áp dụng công tác khoán
còn hạn chế ở một hoặc hai khoản mục chi phí như chi phí tiền lương hoặc chi
phí điện năng. Một số đơn vị làm tốt công tác khoán đã thực hiện khoán
nhiều khoản mục chi phí. Ví dụ, tỉnh Hải Dương đã thực hiện khoán 5 khoản
mục: (1) chi phí tiền lương, (2) chi phí tiêu hao điện năng tưới tiêu, (3) chi phí
sửa chữa thường xuyên TSCĐ, (4) chi phí vật tư nguyên nhiên liệu cho công
tác vận hành bảo dưỡng máy móc thiết bị, và (5) chi phí quản lý doanh
nghiệp. Một số công ty, có số chỉ tiêu giao khoán ít hơn, nhưng lại giữ vững
được trong nhiều năm, ví dụ Công ty thuỷ nông Sông Chu (tỉnh Thanh Hoá),
29
Công ty khai thác CTTL Đông Anh (Hà Nội) đã thực hiện khoán chi phí tiền
lương, chi phí điện năng cho các xí nghiệp, cụm trạm quản lý. Việc giao
khoán đã làm giảm được rất nhiều thủ tục và chi phí cho công tác quản lý,
nhưng lại đem lại kết quả chất lượng công việc cao, nâng cao được ý thức của
các đơn vị bộ phận cũng như người lao động.
Từ việc thống kê, phân tích số liệu điều tra khảo sát về thực hiện khoán
chi phí ở một số địa phương thấy rằng, sau khi hệ thống định mức kinh tế kỹ
thuật trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi được xây dựng và áp dụng,
cơ chế giao khoán đến nhóm và người lao động được thực hiện thuận lợi và
có cơ sở pháp lý, kết quả quản lý khai thác ở các hệ thống đạt được rất đáng
khích lệ. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được nâng cao, hệ thống công
trình được vận hành bảo dưỡng tốt hơn, giảm ngân sách cấp bù hàng năm,
giảm bộ máy quản lý và tăng thu nhập cho người lao động, ý thức tự giác và
tinh thần trách nhiệm của người lao động được nâng cao rõ rệt.
Có thể nói rằng, kể từ khi có chủ trương triển khai xây dựng và áp dụng
dụng định mức kinh tế - kỹ thuật trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi
của chính phủ, của Bộ NN và PTNT, công tác xây dựng và áp dụng định mức
kinh tế - kỹ thuật trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi trong cả nước đã
đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Việc áp dụng định mức kinh tế - kỹ
thuật trong công tác quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi đã góp phần nâng
cao hiệu quả quản lý khai thác công trình. Các công trình có điều kiện mở
rộng diện tích phục vụ, tiết kiệm nước và điện năng tiêu thụ, tiết kiệm vật tư
thiết bị, tài sản cố định của hệ thống được bảo quản và duy tu tốt hơn. Sau khi
triển khai áp dụng, có nhiều đơn vị quản lý khai thác công trình thuỷ lợi đã
nâng cao được kết quả phục vụ, tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng phúc lợi, nâng
cao được đời sống cho người lao động, giảm bớt được một số khó khăn trong
tổ chức, quản lý sản xuất, đáp ứng kịp thời yêu phục vụ sản xuất nông nghiệp.
30
Rõ ràng, việc xây dựng và áp dụng định mức kinh tế - kỹ thuật trong
công tác quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi ở một số hệ thống thuỷ lợi trên
phạm vi cả nước đã chứng tỏ, đây là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn và là
việc làm cấp thiết, nhất là trong điều kiện chúng ta đang cố gắng xoá bỏ nền
sản xuất trì trệ, lạc hậu, cách quản lý quan liêu, bao cấp, trông chờ, ỷ lại. Tiến
tới phấn đấu xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, tiên tiến theo
đúng chủ trương của Đảng.
3. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện
Những mục trên, luận văn đã tập trung chứng minh và đánh giá những
kết quả, những mặt đã đạt được trong công tác xây dựng và áp dụng định mức
kinh tế - kỹ thuật trong quản lý khai thác các hệ thống công trình thuỷ lợi ở
nước ta trong thời gian trước năm 2010. Tuy vậy, đánh giá một cách khách
quan, chúng ta còn quá nhiều việc cần thiết và cấp bách cần phải tiếp tục điều
chỉnh, thực hiện, hoàn thiện từ cấp vĩ mô đến cấp doanh nghiệp cũng như các
đơn vị tư vấn trong lĩnh vực này. Có thể nêu ra một số vấn đề chính sau đây:
a. Nhà nước, Bộ NN và PTNT cần ban hành các văn bản mang tính pháp
lý, có tính ràng buộc cao về kinh tế, có hướng dẫn cụ thể và chi tiết để
các địa phương, các sở NN và PTNT, các đơn vị quản lý khai thác công
trình thuỷ lợi thực hiện nghiêm chỉnh và có hiệu quả công tác xây dựng
và áp dụng định mức kinh tế kỹ thuật trong quản lý khai thác công trình
thuỷ lợi;
b. Tuy đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng các định mức kinh tế kỹ
thuận một cách có cơ sở khoa học, nhưng trên thực tế, vì nhiều lý do
khác nhau mà phần nhiều các định mức được xây dựng vẫn còn mang
tính chủ quan, kinh nghiệm, suy đoán, độ chính xác và phù hợp chưa
cao, thiếu cơ sở khoa học và không mang tính tiên tiến;
31
c. Các bước triển khai áp dụng thí điểm, theo dõi điều chỉnh mức cho phù
hợp với thực tế chưa được tuân thủ, nên nhiều định mức tính phù hợp
không cao, không khả thi;
d. Mở các lớp đào tạo, hướng dẫn cán bộ làm định mức của các đơn vị
quản lý khai thác công trình thuỷ lợi, để các cán bộ này kết hợp với các
đơn vị tư vấn xây dựng và quản lý tốt hệ thống định mức được xây
dựng, mang lại hiệu quả thực sự, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng
hệ thống công trình. Thực tế, khi đơn vị không có người am hiểu về
công tác xây dựng định mức, rất có thông tin phản biện đối với các cán
bộ tư vấn xây dựng định mức, vì thế, có nhiều định mức được tư vấn
xây dựng mang tính áp đặt, khó triển khai áp dụng, không phù hợp;
e. Có nhiều định mức còn đưa ra nhiều hệ số hiệu chỉnh và cách tính toán
khá phức tạp, khó hiểu, khó áp dụng nhất là đối với các đối tượng trình
độ khoa học kỹ thuật không cao như công nhân quản lý vận hành hệ
thống công trình thuỷ lợi;
f. Thực tế có nhiều định mức tính trực tiếp là định mức chi phí tính bằng
tiền, vì vậy khi yếu tố giả cả thị trường và chế độ quy định của nhà
nước thay đổi, lại phải tiến hành tính toán lại rất tốn thời gian và công
sức, vì thế tính tiện tích và hiệu quả sử dụng chưa cao;
g. Theo quy định hiện nay, trong hệ thống quản lý khai thác công trình
truỷ lợi gồm có 19 thành phần chi phí sản xuất năm, nhưng thực tế cách
đơn vị quản lý khai thác công trình thuỷ lợi mới xây dựng và áp dụng
được tối đa là 5 loại định mức chi phí chính. Thực tế còn rất nhiều loại
công tác, công việc chưa được xây dựng mức. Chúng ta cần phải tiếp
tục xây dựng một hệ thống định mức đầy đủ và đồng bộ cho các hệ
thống khai thác công trình thuỷ lợi;
h. Bước vào nền kinh tế thị trường, do đòi hỏi của nền kinh tế phát triển,
hoạt động sản xuất kinh doanh của rất nhiều hệ thống quản lý khai thác
32
công trình thuỷ lợi đã có những bước thay đổi lớn lao. Ngoài việc phục
vụ tưới tiêu cho nông nghiệp thì các hệ thống đang có xu hướng sản
xuất kinh doanh đa mục tiêu, như du lịch sinh thái, bảo vệ môi trường,
phát điện, giao thông thuỷ, phát triển nuôi trồng thuỷ sản, và đặc biệt là
việc cấp nước thô cho các đơn vị sản xuất nước sạch phục vụ công
nghiệp và dân sinh. Như vậy, ngoài việc tiếp tục xây dựng bổ sung
hoàn thiện hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật trong quản lý khai thác
các công trình thuỷ lợi tưới, chúng ta còn cần thiết phải xây dựng và áp
dụng hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý,
điều hành sản xuất kinh doanh, thanh toán hợp đồng kinh tế đối với các
đối tượng khách hàng mới, trong đó phải kể tới định mức chi phí cấp
nước thô, một nguồn thu rất đáng kể.
Kết luận chương 1
Định mức kinh tế - kỹ thuật là một trong những công cụ quan trọng và
cần thiết trong tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh của bất kỳ một doanh
nghiệp nào. Ở các doanh nghiệp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi cũng
vậy, tuy nhiên, khác với các loại hình doanh nghiệp công nghiệp, định mức
kinh tế - kỹ thuật trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi ở mỗi hệ thống
công trình khác nhau là không giống nhau, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như: Giá cả thị trường, loại hình công trình, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã
hội,… vì vậy, để các chỉ tiêu định mức phù hợp và có thể áp dụng vào thực
tiễn cần phải tính toán riêng cho từng hệ thống công trình, không thể lấy định
mức của hệ thống này để áp dụng cho hệ thống khác. Trong thời gian qua,
chúng ta đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng và áp dụng hệ thống định
mức kinh tế - kỹ thuật ở các hệ thống quản lý khai thác công trình thuỷ lợi.
Bên cạnh những thành công, những kết quả đạt được, công tác này cũng còn
33
có những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung hoàn thiện và đẩy mạnh hơn
nữa.
Trong tình hình mới, nền kinh tế phát triển, nhất là vấn đồ biến đổi khí
hậu và suy kiệt nguồn nước, hoạt động sản xuất kinh doanh cung cấp dịch vụ
của các hệ thống công trình thuỷ lợi được mở rộng theo hướng cung cấp nước
thô phục vự công nghiệp và dân sinh. Đã đến lúc chúng ta phải bắt tay ngay
vào việc xây dựng hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật đầy đủ và đồng bộ cho
các hệ thống, trong đó có việc quan tâm xây dựng định mức chi phí cấp nước
thô từ hệ thống công trình thuỷ lợi cho các hệ thống có dịch vụ này.
34
CHƯƠNG 2. NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG
ĐỊNH MỨC CHI PHÍ CẤP NƯỚC THÔ TỪ HỆ THỐNG CÔNG
TRÌNH THUỶ LỢI
2.1. Vấn đề cấp nước thô cho nhu cầu sản xuất nước sạch phục vụ sinh
hoạt và công nghiệp
Để tiến hành sản xuất nước sạch phục vụ đời sống và sinh hoạt của
cộng đồng dân cư, cũng như cung cấp cho các hoạt động kinh tế khác của con
người, các nhà máy và hệ thống cấp nước sạch chủ yếu lấy nước từ nguồn
nước mặt. Tuy nhiên, đối với các đô thị vùng ven biển, những vùng nước tự
nhiên bị ô nhiễm hoặc không đảm bảo chất lương và nơi xa nguồn nước mặt
tự nhiên, thì các đơn vị này thường phải lấy nước từ hệ thống công trình thuỷ
lợi. Nguồn nước được nguyên liệu lấy vào cho quá trình sản xuất nước sạch
chưa qua xử lý này được gọi là nước thô. Với tốc độ tăng trưởng của nền kinh
tế và tốc độ tăng dân số mạnh mẽ, không những nhu cầu nước thô cho sản
xuất nông nghiệp tăng cao mà lượng nước thô cấp cho quá trình sản xuất
nước sạch luôn tăng lên không ngừng. Nhu cầu nước sạch không những tăng
cao vì những nguyên nhân kể trên, mà còn vì đòi hỏi nâng cao chất lượng
cuộc sống của xã hội hiện đại.
2.1.1. Vấn đề nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt
Trong cuộc sống hàng ngày của con người, nước sạch đóng vai trò hết
sức quan trọng, nhất là trong việc bảo vệ sức khỏe. Hiện nay trên thế giới có
khoảng 1 tỷ người thiếu nước sạch để sử dụng, cũng vì vậy hàng năm có
khoảng 1,5 triệu trẻ em chết vì thiếu nước sạch. Đặc biệt là căn bệnh tiêu chảy
đã làm chết từ 1,5 đến 1,9 triệu trẻ em chết mỗi năm, mà 88% trong số này là
do việc sử dụng nguồn nước thiếu vệ sinh, nước không được khử trùng. Ở
Việt Nam, hàng năm có khoảng 250.000 người phải nhập viện vì bị bệnh tiêu
chảy – căn bệnh có liên quan đến vấn đề thiếu nước.
35
Theo tiêu chuẩn quốc tế thì quốc gia được xem là thiếu nước khi chỉ lượng nước bình quân đầu người 4.000 m3 nước/người/năm, còn ở mức 2.000 m3 nước/người/năm thì được xem là hiếm nước. Việt Nam không nằm trong
số các quốc gia thiếu nước hay hiếm nước (năm 2010 lượng nước bình quân đầu người ở nước ta dự tính khoảng 8.500 m3 nước/người/năm).
Việt Nam có hệ thống sông ngòi dày đặc với 2.360 con sông, cung cấp một nguồn nước dự trữ dồi dào khoảng 255 tỷ m3/năm. Bên cạnh đó, tài
nguyên nước dưới lòng đất có tiềm năng khai thác được ước tính khoảng 60 tỷ m3 mỗi năm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây do sự gia tăng dân số,
sự phát triển công nghiệp và đô thị, đặc biệt do công tác quản lý của chúng ta
đối với nguồn tài nguyên quý giá này vẫn còn nhiều bất cập, nên tình trạng ô
nhiễm nước mặt, nước dưới đất và các vùng nước ven bờ của Việt Nam ngày
càng trở nên rõ rệt hơn. Mặt khác, môi trường thiên nhiên Việt Nam rất dễ bị
tổn thương trước thiên tai do các điều kiện địa lý, địa hình của đất nước và
vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới. Mặc dù chất lượng nước ở các vùng thượng
lưu còn khá tốt, nhưng các đoạn sông hạ lưu của các con sông chính của nước
ta thì chất lượng lại kém. Hầu hết các hồ, ao, kênh mương trong các khu đô
thị đang nhanh chóng trở thành các bể chứa nước thải. Nước dưới đất cũng đã
có hiện tượng ô nhiễm và nhiễm mặn ở một số nơi. Theo một số nghiên cứu,
hiện nay, chỉ khoảng 60% dân số Việt Nam được cung cấp nước sạch dùng
cho sinh hoạt.
Hệ thống lưu vực của một số sông chịu tác động mạnh mẽ và trực tiếp
của các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt là các khu công nghiệp, khu khai
thác và chế biến khoáng sản, các đô thị và các điểm dân cư… Chất lượng
nước thuộc lưu vực các sông ngày càng xấu đi, nhiều đoạn sông đã bị ô nhiễm
tới mức báo động. Trong khi đó, vấn đề quản lý, bảo vệ môi trường các lưu
vực sông còn nhiều hạn chế, như hệ thống chính sách, quy định, quy chế liên
quan đến bảo vệ môi trường lưu vực sông còn thiếu và chưa đồng bộ; sự phân
36
công trách nhiệm giữa các bộ, ngành, giữa Trung ương và địa phương cũng
chưa cụ thể. Hiện nay, các bộ, ngành, địa phương có liên quan đang tập trung
xây dựng các biện pháp xử lý cụ thể, hoàn thiện thể chế quản lý môi trường
lưu vực sông theo hướng quản lý tổng hợp (bao gồm các biện pháp quản lý,
công nghệ phù hợp cho từng khu vực, cho từng thành phần môi trường)…
Đặc biệt là việc chỉ đạo việc xử lý ô nhiễm môi trường do các cơ sở nằm trên
các lưu vực sông gây ra theo “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng” (được ban hành kèm theo Quyết định số
64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ). Tuy nhiên việc
quản lý lưu vực sông là công việc không đơn giản do tính đa dạng, sự khác
biệt giữa các khu vực, giữa các tỉnh với nhau về điều kiện tự nhiên, điều kiện
phát triển kinh tế - xã hội, sự chênh lệch về nhận thức bảo vệ môi trường của
cộng đồng, năng lực quản lý của các cơ quan nhà nước về bảo vệ môi trường
không đồng đều.
Thời gian trước, chính sách môi trường thường mang tính kêu gọi,
khuyến khích và đôi khi hệ thống chính sách, pháp luật về môi trường vừa
thiếu, vừa không đồng bộ, có nhiều điểm không còn phù hợp với tình hình
thực tế hiện nay. Do trước đây, vấn đề môi trường ở nước ta chưa phải là vấn
đề bức xúc cần ưu tiên giải quyết. Nhưng hiện nay do yêu cầu phát triển và
đặc biệt do quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Để khắc phục vấn đề này
chính phủ đã sửa đổi, bổ sung và đổi mới quy trình xây dựng các văn bản quy
phạm pháp luật để nâng cao tính đồng bộ, tính khả thi, khắc phục được bệnh
quan liêu trong việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
1. Vấn đề nước sạch ở nông thôn Việt Nam
Nước, theo cách hiểu của nhiều người dân nông thôn nước ta là nguồn
tài nguyên thiên nhiên vô tận và do tự nhiên ban tặng nên được sử dụng miễn
phí. Cách hiểu này đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân và được củng cố
qua nhiều thế hệ. Lý do của sự hiểu này là do người dân nông thôn có thể sử
37
dụng nhiều nguồn nước khác nhau cho ăn uống, sinh hoạt mà không cần qua
xử lý và cũng không chịu sự quản lý của ai. Với họ không ai làm ra nước và
vì thế không có sự mua và bán nước như các loại hàng hóa khác. Thêm vào
đó người dân nông thôn cũng chưa có một khái niệm một khái niệm đúng và
đủ nghĩa về “nước sạch”. Thông thường, người dân đánh giá mức độ sạch của
nước chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và cảm quản của mình chứ chưa dựa vào
các xét nghiệm mang tính khoa học, chính vì thế không ít người cho rằng cứ
nước mưa, nước giếng, nước suối, hồ… trong, không có vẩn đục là sạch và có
thể sử dụng. Cách hiểu nước là miễn phí đã theo những lý do đó mà tồn tại từ
hàng nghìn năm nay.
Khác với khu vực đô thị, đa phần các công trình cấp nước sạch ở nông
thôn là công trình nhỏ lẻ, các hệ thống cấp nước công cộng bằng đường ống
dùng chung cho nhiều hộ chưa phổ biến. Trong truyền thống, việc sử dụng
nước giếng, nước mưa, nước suối,… đã trở thành thói quen và hình thành nên
những đặc trưng văn hóa riêng của người dân nông thông với biểu tượng “cây
đa – bến nước – sân đình”. Bên cạnh đó, do điều kiện sống còn thấp và nguồn
nước cho sinh hoạt khá dồi dào nên người dân nông thôn chỉ quan tâm đến
việc sử dụng nước chứ ít quan tâm đến việc tích trữ nước. Chỉ từ sau năm
1945, khi Chính phủ phát động các phong trào về vệ sinh môi trường… thì
người dân mới quan dần và có ý thức hơn với khái niệm “trữ nước”. Tuy
nhiên theo báo cáo của văn phòng chương trình mục tiêu quốc gia
NS&VSMTNT thì đến năm 2000 khu vực nông thôn vẫn còn hơn 50% số hộ
nông thôn dùng nước giếng đào, 25% dùng nước sông, suối, ao, hồ và hơn
10% dùng nước mưa. Bộ phận còn lại dùng nước giếng khoan và nước cấp
bằng hệ thống đường ống.
Một đặc trưng khác nữa, là dân cư nông thôn sống phân tán, mật độ dân
cư trên cùng một địa bàn thường thấp hơn nhiều so với khu vực đô thị nên
làm cho việc đầu tư xây dựng các công trình cấp nước tập trung và chi phí
38
vận hành, quản lý thường tốn kém hơn; Thêm vào đó, khả năng đầu tư xây
dựng và chi trả phí sử dụng nước của người dân nông thôn có hạn, mức sống
của người dân nông thôn nói chung còn rất thấp, tỷ lệ đói nghèo còn cao do
đó khả năng huy động vốn đóng góp của dân và khả năng chi trả cho “phí sử
dụng nước” là rất hạn chế.
Tuy nhiên bên cạnh những đặc thù trên, cũng phải thừa nhận, thị trường
nước sạch nông thôn ở Việt Nam là rất có tiềm năng để phát triển. Và khác
với quá khứ, mức độ đòi hỏi về chất lượng nước của người dân nông thôn
ngày càng cao hơn và những người có thu nhập cao sẵn sàng chi trả cho việc
được sử dụng nước sạch ngày càng nhiều. Những thống kê mới đây cho thấy
nhiều địa phương trong cả nước đã bước đầu có thể tự trang trải các chi phí
cho việc cấp nước sạch thông qua việc thí điểm kinh doanh nước nông thôn.
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành cũng đã và đang
tạo điều kiện để phát triển thị trường nước sạch nông thôn.
2. Tình hình cấp nước tại các đô thị ở Việt Nam
Trong thời gian qua, hệ thống cấp nước đô thị ở Việt Nam đã được
Chỉnh phủ quan tâm ưu tiên đầu tư cải tạo xây dựng và nâng cấp, nhờ vậy tình
hình cấp nước đã được cải thiện một cách đáng kể. Nhiều dự án với vốn đầu
tư trong nước, vốn tài trợ của các Chỉnh phủ, các tổ chức Quốc tế đã và đang
được triển khai.
Hiện nay trong cả nước đã có các dự án cấp nước ở các mức độ khác nhau. Tổng công suất thiết kế đạt khoảng 3,5 triệu m3/ngày đêm. Nhiều các
nhà máy được xây dựng trong thời gian gần đây có dây chuyền công nghệ sử
lý và thiết bị hiện đại. Tuy vậy, tình hình cấp nước đô thị còn rất nhiều bất
cập: Tỷ lệ cấp nước còn thấp (trung bình dạt 45% tổng dân số đô thị được cấp
nước, trong đó đô thị loại I và II đạt tỷ lệ 67%, các đô thị loại IV và loại V chỉ
đạt 10 đến 15%); Công suất thiết kế của một số nơi chưa phù hợp với thực tế
(nhiều nơi thiếu nước, nhưng cũng có những nơi thừa nước, không khai thác
39
hết công suất, cá biệt tại một số thị xã chỉ khai thác khoảng 15 đến 20% công
suất thiết kế); Tỷ lệ thất thoát thất thu nước còn cao (tỷ lệ thất thu cao không
chỉ chứng tỏ sự yếu kém về mặt năng lực quản lý mà còn thể hiện kết quả của
quá trình đầu tư không đồng bộ giữa việc tăng công suất với công tác phát
triển mạng lưới đường ống; Chất lượng nước tại một số nhà máy chưa đạt tiêu
chuẩn.
3. Vấn đề cấp nước sạch tại ở một số nước trên thế giới
Không những ở Việt Nam, tại một số nước phát triển trên thế giới vấn
đề nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt cũng là vấn đề hết sức quan tâm của
các nước: Theo báo cáo của Tổ chức Bảo tồn Toàn cầu mang tên Những nước
giàu thiếu nước, sự thay đổi khí hậu, khô hạn và mất đi các khu đất ngập nước
để dự trữ nước cùng vơi sự đầu tư nghèo nàn cho cơ sở hạ tầng của hệ thống
nước và quản lý yếu kém nguồn nước đang khiến cho cuộc khủng hoảng này
thực sự là vấn đề của toàn cầu. Bản báo cáo nhấn mạnh tác động của các vấn
đề về nước sạch tại các nước như Úc, Tây Ban Nha, một vài khu vực của
Anh, Mỹ và Nhật Bản.
Ông Jamie Pittick, Giám đốc Chương trình Nước ngọt Toàn cầu của
WWF cho biết: “Nền kinh tế giàu không có nghĩa là có nhiều nước ngọt.
Nước ngọt cần được sử dụng hiệu quả hơn trên toàn thế giới – việc khan hiếm
và ô nhiễm đang ngày càng gia tăng và trách nhiệm tìm ra những giải pháp
thuộc về các quốc gia cả giàu lẫn nghèo”.
Tại châu Âu, các nước ở khu vực Đại Tây Dương đang phải chịu đựng
những cơn hạn hán, trong khi nguồn nước tập trung cho du lịch và nông
nghiệp đang đe dọa nguồn nước ngọt của khu vực Địa Trung Hải. Tại Úc, lục
địa khô nhất thế giới, độ mặn của nước là mối đe dọa lớn đến một phần lớn
diện tích canh tác nông nghiệp của khu vực này.
Mặc dù Nhật Bản có lượng mưa cao nhưng ô nhiễm nguồn cung cấp
nước ngọt đang là một vấn đề cực kỳ nghiêm trọng tại nhiều khu vực ở đây.
40
Tại Mỹ, một số khu vực rộng lớn đã và đang sử dụng nhiều nước hơn những
gì mà nguồn nước tự nhiên có thể cung cấp được. Tình hình này sẽ càng trở
nên trầm trọng khi tình trạng ấm lên toàn cầu sẽ dẫn đến lượng mưa thấp hơn,
nước bốc hơi nhiều hơn và làm thay đổi hình thức tan băng.
Một số thành phố khan hiếm nước nhất thế giới như Houston và
Sydney đang sử dụng nhiều nước ngọt hơn khả năng cung cấp. Tại London,
sự rò rỉ và thất thoát nước mỗi ngày ước tính bằng với lượng nước cung cấp
cho 300 bể bơi tiêu chuẩn Olympic, do hệ thống đường ống dẫn nước đã quá
cũ. Đáng chú ý là những thành phố ít gặp phải các vấn đề gay go về nước, ví
dụ như New York, thường có truyền thống bảo tồn các khu vực chứa nước và
liên tục mở rộng các vùng cây xanh trong thành phố.
Tại Brazil, mặc dù dẫn đầu thế giới với kế hoạch nguồn nước ngọt quốc
gia nhưng vẫn còn những lo ngại về một số dự án đập nước hiện có. Tại Ấn
Độ, phần lớn nền nông nghiệp của nước này đang bị đe doạ từ việc không
kiểm soát được tình trạng khai thác quá mức các nguồn nước ngọt. Ở một nơi
khác, cộng đồng quốc tế thì lo ngại cho Trung Quốc về quy mô cũng như các
chi phí về con người và sinh thái của một số dự án hạ tầng cơ sở lớn về nước
tại quốc gia này.
2.1.2. Nhu cầu sử dụng nước thô từ hệ thống công trình thuỷ lợi cho sản
xuất nước sạch
1. Nguồn nước sử dụng ở những vùng không được cấp từ hệ thống công
trình thuỷ lợi
Hiện nay, hầu hết ở các khu vực nông thôn, miền núi, vùng ven biển,
những nơi không có hệ thống cấp nước sạch và không có hệ thống công trình
thuỷ lợi người dân phải tự lo nguồn nước sinh hoạt cho mình. Họ sử dụng đủ
loại nguồn nước. Nước mặt bao gồm: sông, suối, ao, hồ, kênh rạch và các
giếng mạch nông như giếng làng. Nước mưa hứng trực tiếp hoặc thu tà các
mái nhà. Nước ngầm bao gồm: Nước ngầm mạch nông, mạch nước lộ thiên
41
và nước ngầm sâu. Nước mưa không thiếu, nhưng tới 85 – 90% tổng lượng
mưa chỉ tập trung vào mùa mưa, khoảng 4 – 5 tháng. Một vấn đề đáng quan
tâm là chất lượng của các nguồn nước này bị ô nhiễm ở mức độ cao, đặc biệt
là ở vùng Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long. Hàng ngày, người dân
nghèo vẫn tắm giặt, ăn uống bằng những nguồn nước này do không đảm bảo
vệ sinh nên nguy cơ mắc các bệnh đường ruột, bệnh ngoài da là rất cao.
Qua khảo sát tình hình sử dụng nước sinh hoạt của người dân ở những
vùng này cho thấy, ở nhiều nơi người dân sử dụng nguồn nước mưa để phục
vụ cho nhu cầu ăn, uống, nguồn nước ngầm lấy lên từ các giếng khoan và
giếng khơi để tắm, giặt và phục vụ cho các sinh hoạt thường ngày khác. Đối
với nước mưa, do sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp, nhà
máy, xí nghiệp kéo theo lượng khí thải thoát ra từ các nhà máy tăng lên nhanh
chóng. Khi mưa xuống, những chất thải độc hại theo nước mưa rơi xuống bể
chứa nước của người dân. Người dân trực tiếp sử dụng nguồn nước này, rất dễ
mắc bệnh.
Còn đối với các nguồn nước ngầm, không phải ở đâu nước lấy lên từ
giếng khoan và giếng khơi cũng đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Nhiều nơi, hàm lượng
sắt trong nước cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, chính vì vậy nếu sử
dụng nguồn nước này sẽ gây ra những hậu quả không tốt cho sức khoẻ. Để
hạn chế lượng sắt có trong nước, người dân đã thực hiện loại bỏ bằng cách
xây bể lọc nước nhỏ, nhưng với phương pháp và trình độ kỹ thuật hạn chế,
những giải pháp mà người dân nghèo đang thực hiện thì hiệu quả không cao.
Lượng nước ngầm giờ đây ngày càng bị ô nhiễm do lượng chất thải và nước
thải trong sinh hoạt, đặc biệt nguồn nước thải công nghiệp từ các nhà máy, xí
nghiệp ngày càng tăng. Ở những khu bên cạnh những làng nghề truyền thống
như làm hương, dệt nhuộm, thu gom chất phế thải, đúc đồng, thuộc da... thì
nguồn nước ngầm lại càng bị ô nhiễm nặng nề hơn. Nguồn nước ngầm người
dân đang khai thác để sử dụng không những ngày càng bị ô nhiễm, mà còn có
42
nguy cơ cạn kiệt. Ở nhiều nơi, nguồn nước ngầm không đủ cung cấp cho nhu
cầu sinh hoạt tăng đột biến của người dân nghèo trong những tháng hè.
Đặc điểm của việc cấp nước trong các khu vực này là thường phân tán
nhỏ, lẻ. Lãnh thổ nước ta trải dài trên 2000 km, điều kiện địa chất, thuỷ văn,
khí hậu các vùng khác nhau rõ rệt. Vì vậy, việc lấy nước và sử dụng nước cho
các nhu cầu sinh hoạt của người dân cũng khác nhau:
Đối với khu nghèo vùng ven biển. Nguồn nước ngọt khan hiếm, nước
mặt và nước mạch ngang bị nhiễm mặn. Nguồn nước họ dùng chủ yếu là
nước mưa. Phương tiện chứa là chum, vại, bể gạch... Nhiều nơi, người dân
vẫn dùng nước giếng khơi bị nhiễm mặn (nước lợ).
Các khu ở vùng trung du (độ cao 25 – 300m so với mặt nước biển). Có
mạch nước ngầm nông, chất lượng nước tốt và đầy đủ. Nước mưa chỉ là
nguồn hỗ trợ thêm.
Ở vùng núi thấp (độ cao 300 – 600m so với mặt nước biển). Các khu ở
vùng này chủ yếu là dân tộc thiều số. Nguồn nước tự nhiên bị ảnh hưởng do
nạn phá rừng. vào mùa khô, hồ chứa cạn nước, giếng đào cũng cạn. Đây là
vùng khó khăn nhất về nguồn nước sinh hoạt.
Vùng núi cao (độ cao từ 600m trở lên). Ở đây, chủ yếu là dân tộc thiểu
số sinh sống, phong tục tập quán lạc hậu. Nguồn nước sinh hoạt của họ chủ
yếu dựa vào nguồn nước ngầm mạch lộ thiên chảy từ các khe núi.
Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, nguồn nước mặt phong phú, các hộ
dân chủ yếu dùng nước sông, nước ở các kênh rạch để uống còn rất phổ biến.
Qua khảo sát ngẫu nhiên ở 100 hộ gia đình trong một khu thuộc tỉnh Long An
cho thấy: Hơn 50% hộ nghèo uống nước sông, kênh, rạch trong mùa nắng.
Trong mùa mưa, tỉ lệ này giảm xuống những vẫn ở mức cao hơn 30%.
Còn ở Vĩnh Long, qua khảo sát ngẫu nhiên ở 100 hộ gia đình trong một
khu nghèo cho thấy: Vào một mùa nắng, có 61% hộ gia đình sử dụng nước
43
sông để uống. Vào mùa mưa, tỷ lệ này có thấp hơn nhưng vẫn ở mức trên
10%.
Vấn đề đáng lo ngại ở đây là hầu như nước lấy lên từ sông, rạch chỉ
được xử lý qua loa trước khi uống. Đa số người sử dụng nước sông, mưa hoặc
giếng đều nói là họ có xử lý nước trước khi uống. Tuy nhiên, khái niệm xử lý
của những người được phỏng vấn có thể không hoàn toàn giống nhau. Đối với
85,2% người dùng nước sông, kênh có xử lý trong mùa mưa và 98,8% có xử
lý trong mùa nắng, cách xử lý phổ biến nhất là cho lắng trong bằng phèn hoặc
để lắng trong tự nhiên.
Chưa có một khảo sát quy mô về tình hình ô nhiễm của các dòng sông
và kênh rạch ở Đông bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Nhưng trên thực tế dễ
dàng thấy sự ô nhiễm trầm trọng của những con sông, kênh rạch bởi phân
người từ những “cầu tiêu ao cá” trên sông, từ thói quen vứt tất cả xuống kênh,
rạch của người dân. Khuynh hướng sử dụng thuốc trừ sâu ngày càng tăng dẫn
đến một dư lượng thuốc trừ sâu tích lũy ngày càng nhiều trong nước sông.
Trong tình hình dịch cúm gia cầm đang hoành hành như hiện nay, mức độ ô
nhiễm ngày càng lớn bởi xác gia cầm, bởi phân và chất thải của loài thuỷ cầm
bị bệnh. Lắng phèn và lắng trong tự nhiên không thể tách các độc chất như
thuốc trừ sâu, các mầm gây bệnh nguy hiểm ra khỏi nước uống. Hàng ngày,
người dân đang tự đầu độc cơ thể họ thông qua uống nước sông, kênh, rạch.
Có hai nguyên nhân khiến các hộ trong khu nghèo ở các tỉnh ĐBSCL
vẫn uống nước sông:
Nguyên nhân khách quan: Khan hiếm nước ngọt, nhất là trong mùa
nắng (không còn nước mưa “trời cho”). Chỉ có những hộ khá giả mới có lu
chứa đủ nước để uống nước trong mùa khô. Những hộ nghèo, không có khả
năng trữ nước mưa, trong khi đó, các giếng đào thì cạn kiệt. Một số địa
phương như Đồng Tháp Mười có 6 tháng mùa nước nổi, người dân có khuynh
hướng không sắm nhiều lu chứa nước mưa để khỏi mất công di chuyển chúng
44
theo con nước, và cớ sao họ phải lo trữ nước khi xung quanh họ bốn bề là
nước? Các độc chất khác trong nước như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc
cá có khuynh hướng tích luỹ nồng độ dần dần trong cơ thể. Do vậy, sẽ làm
hao mòn sức khoẻ từ từ chứ không xảy ra tức thời. Tất cả đã tạo cho người
nghèo tâm lý phớt lờ, mặc kệ, thậm chí họ không tin uống nước như vậy là có
hại cho sức khoẻ. Khi được hỏi, câu trả lời của họ thường là “uống vậy từ đời
nào tới giờ có ai bị bệnh đâu”.
Nguyên nhân chủ quan: Người dân hiểu và tin rằng: Nước sạch là nước
trong. Trong đợt khảo sát trên 500 người ở 5 tỉnh ĐBSCL (Long An, Vĩnh
Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Đồng Tháp) vào tháng 2 năm 2007, thì có đến
400 người (chiếm tỷ lệ 80%) trả lời: “Nước sạch là nước trong”. Chính vì tin
như vậy nên người dân chỉ cần lấy nước sông lên lắng phèn hoặc để lắng bùn
cho nước trong là uống.
Vấn đề cung cấp nước sạch cho các khu dân cư trên thực tế còn nhiều
khó khăn. Nhìn chung, các khu dân cư nghèo ở nước ta hiện nay chưa có hệ
thống cấp nước công cộng, mà chỉ có nguồn nước công cộng với phương thức
khai thác thủ công là sức người gánh nước từ các nguồn về nhà. Hơn nữa, sự
hiểu biết về vệ sinh và sức khoẻ của người dân trong các khu nghèo còn thấp.
Số đông dân cư ít quan tâm đến vệ sinh, xem việc cải thiện điều kiện cấp
nước và vệ sinh chỉ là phụ. Phần lớn người dân không ý thức được hậu quả
của việc dùng nước mất vệ sinh. Hơn nữa, họ còn có thói quen xem cấp nước
và vệ sinh là lính vực được Nhà nước bao cấp và đầu tư.
Thiên tai cũng là nguyên nhân gây trở ngại không nhỏ trong quá trình
cải thiện việc cấp nước sạch. Nguồn nước ở nhiều vùng bị nhiễm mặn, các
vùng núi cao và vùng đá vôi thường thiếu nguồn nước phục vụ sinh hoạt.
Trong những năm vừa qua, khí hậu thời tiết có nhiều biến đổi bất thường, lũ
lụt và hạn hán thường xuyên xảy ra làm cho tình hình cấp nước ngày càng
45
khó khăn hơn. Chỉ một cơn lũ cũng có thể phá huỷ hoặc làm hỏng hàng nghìn
giếng nước, công trình vệ sinh của người dân trong các khu nghèo.
2. Sử dụng nước thô từ hệ thống công trình thuỷ lợi để cấp nước
a. Khái niệm nước thô
Từ trước tới nay, nhiệm vụ chủ yếu của các công trình thuỷ lợi là phục
vụ sản xuất nông nghiệp. Hiện nay, hoạt động sản xuất của của các hệ thống
công trình thuỷ lợi đa dạng và mang tính tổng hợp hơn. Nhiều hệ thống phục
vụ tưới tiêu hiện có đang được đầu tư, nâng cấp để đảm nhiệm nhiệm vụ
chiến lược mới như cấp nguồn nước phục vụ cho các nhà máy nước sạch phục
vụ công nghiệp và dân sinh; cấp nước cho nuôi trồng thuỷ sản, du lịch,...
Nguồn nước cấp từ công trình thuỷ lợi, từ hệ thống sông ngòi tự nhiên cho
các nhà máy và công trình sản xuất cấp nước sạch cho công nghiệp và sinh
hoạt gọi là nước thô. Như vậy, nước thô là nguồn nước tự nhiên, chưa qua
công đoạn làm sạch.
b. Nhu cầu sử dụng nước thô từ hệ thống công trình thuỷ lợi phục vụ cấp
nước công nghiệp và sinh hoạt
Như đã trình bày, vì nhiều lý do như, nguồn nước tự nhiên trên hệ
thống sông suối, hồ ao ngày một cạn kiệt và ô nhiễm nặng, do nước biển
dâng, xâm nhập mặn ngày càng gia tăng,... nên nước thô từ các nguồn tự
nhiên ngày càng không đáp ứng tiêu chuẩn đầu vào của các cơ sở sản xuất và
cung cấp nước sạch. Vì vậy, nguồn nước thô từ các công trình thuỷ lợi cho
các cơ sở sản xuất này ngày một tăng cao và là nguồn không thể thiếu. Dự án
lấy nước từ Hoà Bình về Hà Nội là một minh chứng mới nhất.
Dự án được khởi công vào giữa năm 2004 hoàn thành vào năm 2010.
Tổng công ty Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam - Vinaconex làm chủ đầu
tư, với số vốn trên 2.545 tỷ đồng. Đây là một dự án lấy nước thô lớn lớn nhất
Việt Nam, do Việt Nam tự thiết kế và thi công. Nhà máy Nước Hoà Bình - Hà Nội có công suất thiết kế 600.000 m3/ngày đêm, cung cấp nước cho thành phố
46
Hà Nội, thị xã Hà Đông, Sơn Tây, thị trấn Xuân Mai, Miếu Môn và Đại học
Quốc gia, Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, các đô thị và khu công nghiệp
dọc trục đường cao tốc Láng – Hòa Lạc. Dự kiến sau năm 2020, sẽ nâng công
suất của Nhà máy lên gấp đôi so với hiện nay. Quy trình xử lý nước sạch
được thực hiện như sau: Nước từ sông Đà theo kênh dẫn đến hồ Đầm Bài. Hồ
Đầm Bài có vai trò là hồ trung chuyển nước thô, sơ lắng, đồng thời là nơi dự
trữ nước thô. Nước từ hồ được đưa lên nhà máy xử lý bằng trạm bơm. Sau khi
được xử lý, khử trùng, nước chảy vào bể chứa, rồi tự chảy về các hộ tiêu thụ
bằng 2 tuyến đường ống. Nước sạch khi về đến Hà Nội giá khoảng 2.400
đ/m3.
Thực tế cho thấy, hầu hết các địa phương thuộc vùng đồng bằng Bắc
Bộ, đều có nhiều cơ sở sản xuất nước sạch lấy nước thô từ hệ thống công
trình thuỷ lợi, với tổng lượng nước sử dụng hàng năm rất lớn. Có thể nói rằng,
nước thô từ hệ thống các công trình thuỷ lợi ngày càng trở nên quan trọng và
không thể thiếu cho quá trình sản xuất và cung cấp nước sạch cho công đồng
và cho nền kinh tế nước ta.
2.1.3. Sự cần thiết của công tác xây dựng định mức chi phí cấp nước thô ở
các hệ thống công trình thủy lợi
1. Vai trò của công tác định mức trong quản lý
Định mức là một trong những nội dung quan trọng mà hầu hết chính phủ
của các nước thường hay áp dụng. Ở Việt Nam công tác lập và áp dụng nhiều
loại định mức khác nhau được Chính phủ công bố thực hiện nhằm hướng dẫn
hoặc kiểm soát nhiều hoạt động kinh tế.
a. Vai trò của công tác định mức
b. Vai trò của công tác định mức trong quản lý
Phương pháp quản lý có vai trò hết sức quan trọng đến sự thành công
trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên trong lĩnh vực quản lý thì
47
định mức thể hiện vai trò quan trọng nhằm mục đích cho công tác quản lý
được dễ hơn, đem lại những kết quả cao hơn và đảm bảo hiệu quả về lợi ích
chi phí trong các hoạt động sản xuất kinh doanh.
2. Khái niệm về định mức chi phí cấp nước thô từ hệ thống công trình thủy
lợi phục vụ công nghiệp và sinh hoạt:
Định mức chi phí cấp nước thô là chi phí tối thiểu cần thiết mà một
doanh nghiệp quản lý khai thác công trình thủy lợi cần phải bỏ ra trong một
chu kỳ sản xuất, ứng với điều kiện năm sản xuất bình thường, mặt bằng giá cả
nhất định, để doanh nghiệp hoàn thành việc cung cấp một khối lượng nước
thô đảm bảo chất lượng thảo thuận đến vị trí lấy nước của các công trình cấp
nước của các đơn vị dùng nước trên hệ thống.
Đối với hệ thống thuỷ lợi, chi phí cấp nước thô thường bao gồm các
thành phần chi phí sau: Chi phí tiền lương công tác vệ sinh, thu gom rong rác,
phế thải; Chi phí các khoản theo lương; Chi phí nạo vét kênh mương; Chi phí
dụng cụ, vật tư dùng trong việc duy trì vệ sinh kênh mương; Chi phí vật tư
nguyên nhiên liệu để bảo dưỡng, vận hành công trình; Chi phí sửa chữa
thường xuyên tài sản cố định; Chi phí khấu hao tài sản cố định; Chi phí quản
lý doanh nghiệp và các chi phí khác......
Vậy định mức chi phí cấp nước thô được hiểu là việc xác định giới hạn
tối đa cho phép của các khoản mục chi phí sử dụng trong quá trình quản l ý
vận hành các công trình thuỷ lợi kể trên trong một chu kỳ sản xuất, ứng với
một điều kiện tổ chức sản xuất cụ thể.
3. Vai trò và sự cần thiết của công tác xây dựng định mức chi phí cấp nước
thô từ hệ thống công trình thuỷ lợi
Định mức là một trong những nội dung quan trọng mà hầu hết chính
phủ của các nước thường hay áp dụng. Ở Việt Nam công tác lập và áp dụng
48
nhiều loại định mức khác nhau được Chính phủ công bố thực hiện nhằm
hướng dẫn hoặc kiểm soát nhiều hoạt động kinh tế.
Trên thực tiễn quản lý sản xuất trong bất cứ ngành kinh tế nào cũng cần
có những loại định mức chuyên ngành khác nhau. Ngành Xây dựng (Định
mức dự toán xây dựng công trình (Phần xây dựng); Định mức chi phí quản lý
dự án và tư vấn đầu tư xây dựng công trình; Định mức dự toán xây dựng công
trình; Định mức khảo sát xây dựng; Định mức vật tư trong xây dựng, …)
Ngành Giao thông (Định mức kinh tế - kỹ thuật quản lý, bảo trì đường thủy
nội địa; Định mức kinh tế - kỹ thuật sửa chữa thường xuyên đường sông,…)
Trong ngành Thủy lợi, đối với lĩnh vực xây dựng cơ bản thường áp
dụng một số định mức công bố bởi Bộ Xây dựng. Tuy nhiên, trong lĩnh vực
quản lý khai thác do điều kiện đặc thù trong quản lý ngành nên nhiều định
mức kinh tế kỹ thuật cũng đã và đang được áp dụng tại nhiều đơn vị trong
ngành, phục vụ cho công tác quản lý.
2.2. Tổng quan những nghiên cứu về chi phí cấp nước
2.2.1. Những nghiên cứu về chi phí cấp nước trên thế giới
Trên thế giới hiện nay, các quốc gia cùng với nhiều các tổ chức đã có
những công trình nghiên cứu về tính toán giá trị kinh tế cho việc sử dụng
nước:
1. Những nghiên cứu của các tổ chức:
Đối với các quốc gia đang phát triển, WHO đã nghiên cứu về kinh phí
bỏ ra để đầu tư cho hệ thống cung cấp nước sạch phục vụ cho cộng đồng.
WHO đã lây năm 2005 làm mốg tính toán rồi cộng thêm số dân gia tăng mỗi
năm, từ đó các nhà nghiên cứu đã tính toán được số tiền cầu phải đầu tư mỗi
năm. Với kết quả tính toán, nếu tính tính cộng hai khoản chi phí xây dựng các
hệ thống cung cấp nước sạch mới cho cads quốc gia đang phát triển và chi phí
bảo dưỡng các hệ thống hiện có, chủ yếu ở các quốc gia phát triển, trong gia
49
đoạn từ năm 2005 đến 2014, mỗi năm trên thế giới sẽ hải chi trả lên tới
khoảng 70 tỷ USD.
Với các công trình nghiên cứu, ngân hàng thế giới đã xuất bản rất nhiều
các tài liệu hướng dẫn và công bố nhiều công trình khoa học về việc tính toán
và định giá nước, các kinh nghiệm trong việc tính toán và xác định giá trị và
giá kinh tế cũng như việc áp dụng những kết quả vào trong thực tiễn quản lý
tài nguyên nước ở một số nước trên thế giới như Thái Lan, Braxin…
Đối với ngân hàng phát triển Châu Á: Đây là tổ chức có rất nhiều các
hoạt động trong việc hướng dẫn, phân tích lợi ích trong các dự án phát triển
trong lĩnh vực tài nguyên nước.
Ngoài ra trên thế giới còn rất nhiều các tổ chức và các viện nghiên cứu
có những nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này.
2. Nghiên cứu ở các quốc gia trên thế giới
Tại một số nước châu Á như Ấn Độ, Ai Cập, Thái lan, … đã có rất
nhiêu công trình liên quan đến việc tính toán giá trị và giá nước. Đặc biệt đối
với đất nước đông dân nhất thế giới (Trung Quốc) đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu về tính giá trị của nước cho các ngành sử dụng nước như giá nước
sinh hoạt, giá nước công nghiệp, giá nước tưới…
Tại một số các nước phát triển như Hoa kỳ, Canada, Pháp, Anh…. và
một số các quốc gia đang phát triển như Mexico, Arhentina…. và các quốc
gia thuộc châu phi như Nam phi, Kenya… đều có những cơ quan chuyên môn
nghiên cứu và tính toán về giá nước, trong đó có các công trình nghiên cứu về
việc tính toná và xác định giá nước và định giá nước.
2.2.2. Những nghiên cứu về chi phí cấp nước ở Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam có hơn 600 đô thị. Bộ Xây dựng có chức năng
quản lý nhà nước về việc cung cấp nước đô thị, và hiện đang quản lý hơn 70
công ty cấp nước với trên 250 hệ thống cấp nước để phục vụ sinh hoạt và
50
công nghiệp của các thành phố, thị xã tỉnh lị và thị xã trực thuộc tỉnh. Tổng
công suất thiết kế của các nhà máy trên khoảng 3.5 triệu m3/ngày đêm. Đối
với các đô thị nhỏ, thị trấn huyện lị mới chỉ có khoảng gần 25% các hệ thống
cung cấp nước tập trung với tổng công suất cấp nước đạt khoảng 450.000
m3/ngày đêm. Tuy nhiên tất cả các đô thị đều dược cấp nước nhưng không
những tỷ lệ dân số được cấp còn thấp (60-70)% mà tiêu chuẩn định lượng
cũng chỉ đạt 40-50% theo tiêu chuẩn thiết kế.
Hầu hết hiện nay, việc cung cấp nước sinh hoạt được thực hiện bởi các
doanh nghiệp Nhà nước với cơ sở hạ tầng của ngành được Nhà nước đầu tư
xây dựng. Công tác quản lí vận hành, bảo dưỡng hệ thống này được giao cho
các xí nghiệp hoặc công ty cấp nước ở các tỉnh, thành phố đảm nhiệm. Tỷ lệ
cấp nước bình quân tại các đô thị mới chỉ đáp ứng khoảng 60% nhu cầu cấp
nước cho nhân dân với tiêu chuẩn bình quân 70 lít/người/ngày.
Giá nước sạch do UBND tỉnh, thành phố trực tiếp quyết định vì vậy
khác nhau ở mỗi tỉnh và thường dao động từ 1200 đồng/m3 - 2800 đồng/m3.
Doanh thu về nước sạch hiện không đủ bù đắp chi phí sản xuất. Do vậy, hầu
hết các doanh nghiệp cấp nước chưa có khả năng tự chủ về tài chính trong sản
xuất kinh doanh, hàng năm Nhà nước vẫn phải phải bù lỗ. Để giải quyết tình
trạng này Chính phủ dự định ban hành khung giá nước sạch cho toàn quốc để
làm cơ sở cho các doanh nghiệp cấp nước tự chủ về tài chính để phát triển sản
xuất, kinh doanh.
Quan điểm nước là tài nguyên, nước là hàng hóa chưa được thể chế hóa
thành cơ chế, chính sách, nhất là các chính sách kinh tế, tài chính một cách
đầy đủ để tạo nội lực và động lực phát triển bền vững, bảo đảm khai thác
nước hợp lý, cung ứng nước thỏa mãn các nhu cầu của xã hội, tạo cơ sở để sử
dụng nước tiết kiệm, có hiệu quả và bảo vệ tốt tài nguyên nước.
Các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành các quy định về quyền và
nghĩa vụ tài chính trong khai thác tài nguyên nước, cung ứng và sử dụng dịch
51
vụ nước theo Luật Tài nguyên nước chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ. Ngân sách
Nhà nước vẫn phải gánh chịu hầu hết các khoản vốn đầu tư phát triển và chi
phí vận hành các công trình cấp, thoát nước.
Trong suốt thời gian dài, giá tiêu thụ nước sạch bị chi phối quá lớn bởi
các yếu tố xã hội, công ích, ít quan tâm đến ảnh hưởng của nó đối với đơn vị
hoạt động cấp nước trong việc bảo đảm hiệu quả sản xuất kinh doanh, nhất là
sau khi cổ phần hoá, bảo đảm tích luỹ để đầu tư. Giá tiêu thụ nước sạch hiện
tại đối với số đông khách hàng sử dụng nước sạch cho nhu cầu sinh hoạt chỉ
mới bằng 60% giá bán bình quân. Chính điều này khiến các doanh nghiệp
không đảm bảo được tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh và phần
lớn còn phụ thuộc vào nguồn ngân sách cấp phát để phục vụ nhu cầu nước
cho người dân.
Các nhà máy và hệ thống cấp nước chủ yếu lấy nước từ nguồn nước
mặt. Tuy nhiên, đối với các đô thị vùng ven biển, những vùng nước tự nhiên
bị ô nhiễm hoặc không đảm bảo chất lương và nơi xa nguồn nước mặt tự
nhiên, thì các đơn vị này thường phải lấy nước từ hệ thống công trình thuỷ
lợi.
Trước đây, nhiệm vụ chủ yếu của các công trình thuỷ lợi là phục vụ sản
xuất nông nghiệp và dân sinh. Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất
nước trong tình hình mới, thực hiện chương trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, trong điều kiện không có các công trình chuyên phục vụ cấp nước thô
cho công nghiệp và sinh hoạt, nên hệ thống công trình thuỷ lợi phục vụ tưới
tiêu hiện có đang được đầu tư, nâng cấp để đảm nhiệm nhiệm vụ chiến lược
mới này. Như vậy, việc quản lý, vận hành các công trình thuỷ lợi của Công ty
sẽ phức tạp, thường xuyên, chính xác hơn. Công tác kiểm định, đánh giá,
giám sát chất lượng nước và xử lý ô nhiễm nguồn nước ngặt nghèo và chuẩn
mực hơn so với chỉ có một nhiệm vụ phục vụ tưới tiêu, và vì vậy, chi phí cho
dịch vụ cấp nước từ hệ thống cũng ngày một tăng cao.
52
Để tài nguyên nước được phát triển bền vững, việc khai thác, sử dụng
tiết kiệm, hiệu quả, tổng hợp và đa mục tiêu nguồn tài nguyên này, cần phải
coi sản phẩm nước là hàng hoá, sớm xóa bỏ cơ chế bao cấp, thực hiện xã hội
hoá các hoạt động bảo vệ, phát triển nguồn nước và cung ứng dịch vụ nước.
Xây dụng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, tiêu chuẩn, định mức
trong lĩnh vực tài nguyên nước và phát triển các dịch vụ về nước nhằm quản
lý chặt chẽ tài nguyên nước, tạo động lực phát triển bền vững ngành kinh tế
nước nhiều thành phần phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa
Để xoá bỏ bao cấp trong các dịch vụ cung ứng nước, bảo đảm giá của
dịch vụ cung ứng nước được tính đúng, tính đủ. Thực hiện chính sách chia sẻ
lợi ích và trách nhiệm tài chính giữa các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng
tài nguyên nước, đảm bảo nguồn tài chính bổ sung cho việc vận hành công
trình thuỷ lợi đáp ứng nhiệm vụ mới, nâng cao chất lượng phục vụ khách
hàng, phấn đấu giảm chi phí, giảm thất thoát nước, đồng thời khuyến khích
khách hàng sử dụng tiết kiệm nước và để có cơ sở pháp lý thanh toán giữa
công ty và các tổ chức dịch vụ nói trên, cần thiết phải xây dựng được các định
mức chi phí các công tác cấp nước thô theo đúng chế độ chính sách của Nhà
nước.
Danh mục các công trình nghiên cứu có liên quan đến Đề tài:
a. Trung tâm nghiên cứu kinh tế,Viện Nghiên cứu Kinh tế thuỷ lợi với
nhiều nghiên cứu về xây dựng định mức lao động, định mức chi phí,
tính toán chi phí và giá nước cho các hệ thống công trình thuỷ lợi
b. Nghiên cứu, xây dựng hệ thống các chỉ tiêu khoản mục chi phí hợp
lý trong sản xuất 1 m3 nước để tính giá nước lấy từ công trình thuỷ
lợi cho các mục đích sử dụng khác nhau, Nguyễn Xuân Phú. Đề tài
NCKH cấp bộ, 2006.
53
c. Nguyễn Bá Uân, Xác định chi phí và giá nước ở một số công trình
thuỷ lợi, Tập san Trường Đại học thuỷ lợi, Hà Nội, 1999.
d. Báo cáo tổng hợp đề tài “ Nghiên cứu tính giá thành 1m3 nước tưới
tiêu của hệ thống thuỷ lợi sáu trạm bơm Hà Nam“. Viện Kinh tế &
QLTL.
e. Nghiên cứu cơ sở khoa học và phương pháp luận xác định giá nước
lấy từ công trình thủy lợi trong nền kinh tế Việt Nam (1996-1998).
Trung tâm NC kinh tế.
g. Nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý các hệ thống thuỷ nông trong cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước (Đề tài trọng điểm cấp bộ
năm 2001-2003). Trung tâm NC kinh tế.
h. Nghiên cứu sửa đổi hệ thống chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật
trong công tác QLKT CTTL tỉnh Thanh Hoá (năm 2005); tỉnh Hải
Dương (năm 2007).
i. Một số đề tài của các tác giả khác đang nghiên cứu về giá nước ở các
hệ thống công trình đang trong quá trình nghiên cứu,...
2.2.3. Đánh giá chung về các nghiên cứu
Các nghiên cứu của các nước và nhiều tác giả đã khẳng định, nước ngọt
là tài nguyên có hạn dễ bị xâm hại và đóng vai trò thiết yếu đối với cuộc sống.
Một nửa dân số trên thế giới nằm trong số những người có nguy cơ không có
điều kiện để tiếp cận nguồn nước sạch và dịch vụ nước sạch. Để đảm bảo duy
trì, quản lý bảo tồn, khai thác, phân phối và sử dụng nguồn tài nguyên này
công bằng, hợp lý và tiết kiệm, đòi hỏi phải dựa trên cách tiếp cận coi nước là
hàng hoá có giá trị trong mọi sử dụng cạnh tranh.
Ở Việt Nam, chúng ta cũng đã và đang nhận thức ngày một rõ hơn tầm
quan trọng của việc tính toán đầy đủ và rõ ràng giá cấp nước cho các đối
tượng sử dụng nước từ các hệ thống thuỷ lợi. Là hệ thống phục vụ công ích là
54
chính, nhưng công trình thuỷ lợi cần phải có nguồn kinh phí để duy trì các
hoạt động sản xuất của mình, ngoài ra nó cũng cần một khoản kinh phí không
nhỏ để duy tu, bảo dưỡng, cải tạo nâng cấp, mở rộng quy mô và chất lượng
phục vụ. Đáp ứng ngày một tốt hơn xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nền kinh tế, Thoả mãn ngày một cao hơn chất lượng cuộc sống của người dân,
giảm dần gánh nặng bao cấp của Nhà nước.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, mở cửa, để giúp các đơn vị kinh
tế của ngành thuỷ lợi (trong một thời gian dài được bao cấp) bước vào hội
nhập, Nhà nước cần phải tạo điều kiện từ chủ trương, chính sách đến các hành
lang pháp lý, để các đơn vị sớm tính toán xác định được năng lực thực sự, khả
năng cạnh tranh của mình. Việc các doanh nghiệp cần phải thực hiện trước
hết là xây dựng hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật làm căn cứ để xác định
giá dịch vụ cấp nước từ các hệ thống hiện có.
2.3. Nghiên cứu đề xuất phương phát xây dựng định mức chi phí cấp
nước thô từ hệ thống công trình thuỷ lợi
Khái niệm và vai trò của định mức nói chung
Mức (ngôn ngữ phổ thông thường gọi là định mức) được hiểu là tiêu
chuẩn, quy định (cho phép) tối đa về nguồn lực: Lao động, vật tư, tiền vốn,
thời gian lao động,... để hoàn thành một công việc, nhiệm vụ, chức năng, một khối lượng sản phẩm nhất định trong điều kiện tổ chức sản xuất cụ thể.1
Như vậy chúng ta có thể coi mức lao động như một thước đo để tính
toán, định liệu, tổ chức, kiểm tra, kiểm soát quá trình sản xuất nói chung.
Nhiệm vụ của công tác định mức kinh tế - kỹ thuật là dùng phương
pháp khoa học, tiên tiến để nghiên cứu, tính toán xác định quan hệ giữa số
lượng sản phẩm với sự tiêu hao cần thiết về nhân lực và vật lực, định ra một
tiêu chuẩn hợp lý trong sản xuất xây dựng, phát hiện và sử dụng một cách đầy
55
đủ nhất mọi khả năng tiềm tàng trong quá trình sản xuất để ngày càng hoàn
thiện và phát triển nền sản xuất xã hội, không ngừng tăng năng suất lao động
và giảm giá thành xây dựng.
Định mức là một hoạt động thực tiễn trong việc xây dựng các mức
kinh tế - kỹ thuật nói chung. Định mức xuất hiện trong mọi lĩnh vực, từ các
doanh nghiệp tư nhân, các công ty, nhà máy, công ty, xí nghiệp cho đến các
cơ quan quản lý nhà nước, từ lĩnh vực kinh doanh cho đến hoạt động sản xuất,
nghiên cứu, quản lý,... Mỗi lĩnh vực hoạt động đều đã xây dựng cho mình
những định mức riêng, đồng thời cũng áp dụng các định mức chung do nhà
nước quy định để dễ dàng hơn trong công việc tính toán chi phí (như chi phí nhân công, chi phí nguyên vật liệu, chi phí nguồn lực khác…)2, giúp nhà nước
quản lý tốt hơn sự hoạt động của các doanh nghiệp, cũng như giúp các doanh
nghiệp quản lý tiết kiệm, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình;
giúp các nhà đầu tư trong việc so sánh, đánh giá để từ đó quyết định phương
hướng đầu tư,…
Tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành
sản phẩm là điều kiện chủ yếu và quyết định để một doanh nghiệp phát triển.
Muốn sản xuất phát triển thì nhất thiết doanh nghiệp phải hoàn thiện về tổ
chức sản xuất, tổ chức lao động, phương thức quản lý, chiến lược kinh doanh
đáp ứng mọi nhu cầu cho xã hội trong nền kinh tế thị trường,... Bộ phận
chính để thực hiện tổ chức lao động hợp lý là phải hoàn thiện công tác định
mức kinh tế - kỹ thuật.
Định mức kinh tế - kỹ thuật là tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn do Nhà nước,
địa phương, doanh nghiệp hoặc bộ phận sản xuất quy định, nó phản ánh trình
độ và điều kiện sản xuất của tổ chức sản xuất trong từng giai đoạn nhất định.
Định mức kinh tế - kỹ thuật dùng để khống chế việc sử dụng tiền vốn, vật tư,
thiết bị, máy móc, nhân lực một cách hợp lý. Trong hoạt động quản lý vận
56
hành các hệ thống thuỷ lợi, thì định mức kỹ thuật là tiêu chuẩn biểu thị mối
quan hệ giữa sự tiêu dùng nguồn tài nguyên (nhân lực, vật liệu, máy móc thiết
bị xây dựng ) với số lượng sản phẩm có chất lượng, hợp quy cách trong điều
kiện tổ chức sản xuất cụ thể.
Khái niệm và vai trò của định mức chi phí cấp nước thô
Định mức chi phí cấp nước thô phục vụ sản xuất công nghiệp và sinh
hoạt từ hệ thống công trình thuỷ lợi (gọi tắt là Định mức chi phí cấp nước thô)
là chi phí tối thiểu cần thiết, bình quân mà một Doanh nghiệp quản lý khai
thác công trình thuỷ lợi cần phải bỏ ra trong một chu kỳ sản xuất (thường là
một năm), ứng với điều kiện năm sản xuất bình thường, mặt bằng giá cả nhất
định, phù hợp với những quy định của hệ thống văn bản pháp luật hiện hành,
để Doanh nghiệp hoàn thành việc cung cấp một khối lượng nước thô đảm bảo
chất lượng thoả thuận đến vị trí lấy nước của các công trình cấp nước của các
đơn vị dùng nước trên hệ thống.
Trong điều kiện hiện nay, ở Hải Phòng, Định mức chi phí cấp nước thô
là cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương giám sát
quá trình quản lý vận hành công trình thuỷ lợi, đảm bảo chất lượng nước thô
theo thoả thuận và thanh quyết toán chi phí cho doanh nghiệp theo sản lượng
nước thô cấp cho các nhà máy sử dụng nước. Ngoài ra, Định mức này cũng là
căn cứ để các công ty quản lý khai thác công trình thuỷ lợi quản lý vận hành
công trình theo đúng quy trình, quy phạm, quy định; Bố trí, sắp xếp và sử
dụng lao động hợp lý trong hệ thống, nâng cao năng suất lao động; chủ động
trong việc lập kế hoạch sản xuất, tài chính và chi phí sản xuất hàng năm; có
quyền được thanh quyết toán các khoản mục chi phí theo kết quả sản xuất đã
đạt được.
2.3.1. Các căn cứ để xây dựng định mức chi phí cấp nước thô
57
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Ở thời kỳ lao động của con người còn là thủ công và mức độ cơ giới
hoá, xã hội hoá lao động chưa cao, quy mô sản xuất nhỏ, thì chỉ cần dựa vào
kinh nghiệm của một số người đã có thể tổ chức sản xuất tốt. Ngày nay, khi
lao động của con người dần được máy móc thay thế, quy mô sản xuất ngày
càng lớn, mức độ xã hội hoá lao động ngày càng cao, thì tổ chức và định mức
kinh tế kỹ thuật trở nên vô cùng quan trọng và trở thành một bộ phận không
thể tách rời của mọi tổ chức sản xuất.
Trước đây, chúng ta tự quy định và áp đặt mức thu phí dịch vụ đối với
các đối tượng sử dựng nước từ hệ thống công trình thuỷ lợi. Giá nước sạch do
UBND tỉnh, thành phố trực tiếp quyết định cũng có sự khác nhau rất lớn.
Doanh thu về nước sạch hiện không đủ bù đắp chi phí sản xuất. Do vậy, hầu
hết các doanh nghiệp cấp nước chưa có khả năng tự chủ về tài chính trong sản
xuất kinh doanh, hàng năm Nhà nước vẫn phải phải bù lỗ. Và vì vậy, nguồn
phí cấp nước thô mà các hệ thống thuỷ lợi thu được hàng năm từ các cơ sở
này lại càng cách biệt với chi phí mà hệ thống bỏ ra để phục vụ cho các đối
tượng này trong mỗi chu kỳ sản xuất. Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã có
chủ chương xoá bỏ bao cấp, cho phép các địa phương xây dựng khung giá cấp
nước sạch để tiến tới thực hiện nền kinh tế thị trường, đảm bảo sự công bằng
trong sử dụng tài nguyên nước. Muốn làm được điều đó, chúng ta cần thiết
phải tính đúng, tính đủ các yếu tố đầu vào cho công tác cấp nước. Mốn làm
được điều này, yếu tố trước hết chúng ta cần thiết phải xác định được đó là
xây dựng được hệ thống định mức chi phí cấp nước thô ở các hệ thống thuỷ
lợi.
2. Căn cứ pháp lý
Ngoài căn cứ về lý luận và thực tiễn, việc xây dựng định mức chi phí cấp
nước thô ở các hệ thống thuỷ lợi Hải Phòng còn được dựa trên những căn cứ
pháp lý sau đây:
58
Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi số: 32/2001/PL-
UBTVQH10 ngày 04/4/2001.
Chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công
trình thuỷ lợi; Nghị định số 115/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 về việc
sửa đổi một số điều Nghị định 143/2003/NĐ-CP.
Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05/2/2009 của Chính phủ về việc
ban hành quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý
vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác.
Nghị định 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ quy định
hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp lương trong các
công ty Nhà nước.
Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 của Chính phủ về
quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình;
Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2009 về việc Ban
hành Quy chế quản lý tài chính của công ty Nhà nước và theo Thông
tư liên tịch số 90/1997/TTLT/TC-NN ngày 19/12/1997 của liên Bộ Tài
chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn chế độ
quản lý tài chính đối với doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích
trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi.
Thông tư số 10/1998/TT-BLĐTBXH ngày 28/5/1998 của Bộ Lao động
- Thương binh và xã hội về chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân
trong lao động
Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ Tài Chính về
việc hướng dẫn chế độ quản lý, sự dụng và trích khấu hao tài sản cố
định.
Thông tư số 04/2010/TT-BXD ngày 26/5/2010 của Bộ xây dựng về
việc hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình;
59
Thông tư số 05/2009/TT-BXD ngày 15/4/2009 của Bộ xây dựng về
việc hướng dẫn điều chỉnh dự toán xây dựng công trình;
Thông tư 90/1997/TTLT/TC-NN ngày 19 tháng 12 năm 1997 của liên
Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn
chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp Nhà nước hoạt động
công ích trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi.
Thông tư số 23/2007/TT-BTC ngày 21/3/2007 quy định chế độ công
tác phí, chế độ chi hội nghị đối với các cơ quan hành chính và đơn vị
sự nghiệp công lập trong cả nước; Thông tư 142/2009/TT-BTC ngày
14/7/2009 sửa đổi một số điều của thông tư số 23/2007/TT-BTC.
Thông tư số 96/2002/TT-BTC ngày 24 tháng 10 năm 2002 của Bộ Tài
chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 75/2002/NĐ-CP ngày 30
tháng 8 năm 2002 của Chính phủ về việc điều chỉnh mức thuế môn bài.
Thông tư số 42/2003/TT-BTC ngày 7/5/2003 về việc sửa đổi một số
điều của Thông tư số 96/2002/TT-BTC.
Thông tư số 83 TC/TCT ngày 7 tháng 10 năm 1994 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thi hành Nghị định 94/CP ngày 25 tháng 8 năm 1994 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế nhà, đất. Thông tư
71/2002/TT-BTC ngày 19/8/2002 về việc sửa đổi bổ sung một số điều
thông tư số 83TC/TCT ngày 7/10/1994.
Thông tư số 33/2005/TT-BTC ngày 29/4/2005 của Bộ Tài chính
Hướng dẫn một số điều tại Quy chế quản lý tài chính của công ty Nhà
nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác. Thông tư
số 87/2006/TT-BTC ngày 27/9/2006 vể việc sửa đổi, bổ sung thông tư
33/2005/TT-BTC.
60
Thông tư số 03/2005/TT-BLĐTBXH ngày 05/01/2005 của Bộ Lao
động thương binh &XH hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp trách
nhiệm công việc trong các Công ty nhà nước.
Thông tư số 06/2005/TT-BLĐTBXH ngày 05/01/2005 của Bộ Lao
động thương binh &XH hướng dẫn phương pháp xây dựng định mức
lao động trong các Công ty nhà nước.
Quy trình, quy phạm quản lý khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ Thuỷ lợi trước đây).
Quyết định số 36/2003/QĐ-BNN ngày 09 tháng 01 năm 2003 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc ban hành tiêu
chuẩn trang thiết bị quản lý trong hệ thống công trình thủy lợi phục vụ
tưới tiêu.
Quyết định số 37/2005/QĐ-BXD ngày 02/11/2005 của Bộ trưởng Bộ
Xây dựng về việc ban hành định mức dự toán duy trì hệ thống thoát
nước đô thị.
Quyết định số 124/QĐ/UB ngày 7/10/2003 của UBND Thành phố Hà
Nội về việc ban hành định mức dự toán công tác duy trì vệ sinh môi
trường.
Quyết định số 1532/2005/QĐ-UB ngày 17/5/2005 của UBND thành
phố Hải Phòng về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật trong công
tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi trên địa bàn thành thố Hải
Phòng.
Đơn giá số 2542/QĐ-UBND ngày 17/12/2009; 2538/QĐ-UBND ngày
17/12/2009; 2539/QĐ-UBND ngày 17/12/2009; 2541/QĐ-UBND ngày
17/12/2009 của UBND thành phố Hải Phòng.
Quyết định số 5753/2002/QĐ-UB ngày 05/12/2002 của Uỷ ban ban
nhân dân tỉnh Hải Dương về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật
61
trong công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh
Hải Dương.
Hiện trạng hệ thống công trình thuỷ lợi, công trình cấp nước thô, quy
trình quản lý vận hành công trình thuộc Công ty khai thác công trình
thuỷ lợi An Hải và Kim Thành (Hải Dương) quản lý.
Quyết định số 211/1998/QĐ-BNN-QLN ngày 19/12/1998 của Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn về quy định chế độ sử dụng chi
phí sửa chữa thường xuyên tài sản cố định của doanh nghiệp khai thác
công trình thủy lợi
Quyết định số 15-TC/QĐ/CĐKT ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ
trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ kế toán doanh nghiệp.
Quyết định số 5753/2002/QĐ-UB ngày 05/12/2002 của Uỷ ban ban
nhân dân tỉnh Hải Dương về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật
trong công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh
Hải Dương.
Quyết định số 35/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 25/6/2002 của Bộ
trưởng Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường về việc công bố danh
mục tiêu chuẩn Việt nam về môi trường bắt buộc áp dụng
2.3.2. Các phương pháp xây dựng định mức
Trên thực tế có nhiều phương pháp khác nhau để xây dựng định mức.
Mỗi phương pháp có những ưu điểm và nhược điểm nhất định. Do vậy việc
lựa chọn phương pháp phù hợp để lập định mức là điều hết sức quan trọng,
ảnh hưởng đến độ chính xác, tin cậy và phù hợp của các chỉ tiêu định mức.
a. Phương pháp thống kế, kinh nghiệm
b. Phương pháp so sánh
c. Phương pháp phân tích theo mô hình toán
62
d. Phương pháp tổng hợp.
2.3.3. Phân tích lựa chọn phương pháp xây dựng định mức chi phí cấp
nước thô
Trong thực tế, tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà người ta có những
quan niệm khác nhau về phương pháp xây dựng định mức. Xét theo mức độ
chi tiết và tổng hợp người ta phân ra làm 2 phương pháp là phương pháp phân
tích và phương pháp tổng hợp. Rồi trong mỗi phương pháp đó, người ta lại
phân ra phương pháp nhỏ hơn tuỳ theo công cụ và cách tiến hành tính toán
xác định. Còn căn cứ theo mức độ tiên tiến của phương pháp xây dựng mức,
người ta phân ra thành phương pháp định mức khoa học và phương pháp định
mức thống kê kinh nghiệm,... Dựa trên nội dung, cách thức xác định định
mức, Đề tài phân chia và áp dụng 4 phương pháp xây dựng định mức sau đây:
1. Phương pháp thống kê, kinh nghiệm
Định mức được tính toán trên cơ sở thống kê tình hình sử dụng lao
động, nhân công, vật tư, nguyên nhiên liệu, máy móc và thiết bị cho công tác
quản lý vận hành từng công trình cấp nước thuộc công ty quản lý từ đó xác
định được chi phí cần thiết cho mỗi công tác.
Là phương pháp xây dựng định mức trên cơ sở những kinh nghiệm tích
luỹ được của ban chỉ đạo, nhân viên định mức và các công nhân tiên tiến, hay
trên cơ sở tổng hợp và phân tích những số liệu thống kê được về hao phí
nguồn lực cho một quá trình trong thời kỳ trước. Rồi căn cứ vào điều kiện sản
xuất, tình hình quản lý thực tế, điều chỉnh và xác định lại trị số định mức theo
phương pháp trung bình tiên tiến. Phương pháp này đơn giản dễ làm, tốn ít
công sức, đã đúc kết được kinh nghiệm tốt của cán bộ công nhân. Tuy nhiên,
do dùng kinh nghiệm, nên căn cứ khoa học cuả phương pháp này không thực
sự thuyết phục, vì nó loại trừ sự nghiên cứu phân tích, nó không đảm bảo tính
chất tiên tiến của định mức
63
2. Phương pháp so sánh
Phương pháp được xây dựng trên cơ sở kết quả tính toán hao phí theo
mức điển hình về lao động, nhân công, vật tư, nguyên nhiên liệu, máy móc và
thiết bị trong quản lý vận hành. Mức hao phí điển hình được xây dựng theo
phương pháp phân tích khảo sát, có căn cứ khoa học đại diện cho nhóm công
việc có những đặc trưng công nghệ hay nội dung kết cấu tương tự thực hiện
giống nhau nhưng khác nhau về kích cỡ.
3. Phương pháp phân tích theo mô hình toán
Định mức được xây dựng dựa vào tài liệu tiêu chuẩn được xây dựng
sẵn (tiêu chuẩn thời gian, các mức hao phí về vật tư, nguyên nhiên liệu và
nhân công, tiêu chuẩn số lượng), vận dụng các phương pháp toán, sử dụng các
công thức để tính toán các thời gian chính, thời gian tác nghiệp phụ trong mức
và từ đó tính toán ra các chi phí cần thiết cho công tác cấp nước từ hệ thống
4. Phương pháp tổng hợp
Phương pháp tổng hợp là cách sử dụng phối hợp một số phương pháp
lập định mức khác nhau nhằm hạn chế những điểm yếu và phát huy mặt mạnh
của mỗi phương pháp.
2.4. Nội dung các bước xây dựng và triển khai áp dụng định mức chi phí
cấp nước thô
Xét một cách tổng thể có thể phân chia công tác xây dựng định mức
thành các bước sau:
Bước 1: Điều tra, khảo sát thực địa, thu thập tài liệu liên quan đến:
Hiện trạng kỹ thuật và tổ chức sản xuất, tổ chức lao động cung cấp dịch vụ
của hệ thống;
Quá trình, quy trình, quy định quản lý, khai thác, vận hành, sửa chữa, bảo
dưỡng hệ thống công trình trong hệ thống;
64
Các hao phí và kết quả sản xuất thực tiễn đã diễn ra trong những năm gần
đây.
Bước 2: Thu thập các văn bản về chế độ chính sách liên quan đến các nội
dung chi phí, các quy trình quy phạm kỹ thuật trong quá trình quản lý, khai
thác, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống công trình trong hệ thống.
Bước 3: Nghiên cứu, tính toán xác định định mức chi phí lao động tiền
lương, vật tư thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị công
trình, quản lý doanh nghiệp, chi tra tạo nguồn,... phục vụ cho công tác lấy
nước thô từ nguồn nước đến cấp cho các công trình lấy nước phục vụ công
nghiệp và sinh hoạt thuộc hệ thống.
Kết luận chương 2
Biến đổi khí hậu và chất lượng môi trường biến động mạnh mẽ làm cho
nguồn nước sạch tự nhiên ngày càng cạn kiệt, phạm vi sử dụng ngày càng bị
thu hẹp. Cộng thêm áp lực gia tăng dân số và phát triển kinh tế, sản xuất và
cung cấp nước sạch trở thành vấn đề quan trọng của tất cả các quốc gia. Trong
nền kinh tế thị trường, cần phải dựa trên cách tiếp cận coi nước là hàng hoá, có
giá trị. Việc tính toán xây dựng hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật làm căn cứ
để xác định giá dịch vụ cấp nước từ các hệ thống công trình thuỷ lợi hiện có
cho các nhà máy sản xuất nước sạch là việc làm cần thiết và quan trọng.
Định mức chi phí cấp nước thô từ hệ thống công trình thủy lợi phục vụ
công nghiệp và sinh hoạt ở mỗi hệ thống khác nhau cho kết quả khác nhau, vì
vậy, để các chỉ tiêu định mức phù hợp và có thể áp dụng vào thực tiễn cần
phải tính toán cụ thể cho từng hệ thống công trình.
Trong chương 2, tác giả đã tổng kết, phân tích và lựa chọn phương pháp
xây dựng định mức chi phí cấp nước thô phù hợp. Phương pháp xây dựng định
mức có ý nghĩa quan trọng và quyết định trong việc xác định hệ thống định
mức phù hợp và khoa học.
65
CHƯƠNG 3: ÁP DỤNG NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC CHI PHÍ CẤP NƯỚC THÔ TỪ HỆ THỐNG THUỶ LỢI AN KIM HẢI - HẢI PHÒNG
Hệ thống công trình thuỷ lợi là cơ sở kinh tế kỹ thuật thuộc kết cấu hạ tầng. Kết quả thực tế sản xuất và xã hội nhiều năm qua đã khẳng định những hiệu quả mà các hệ thống công trình thuỷ lợi mang lại là hết sức to lớn, không chỉ đối với sản xuất nông nghiệp, các ngành kinh tế khác mà còn đối với sự nghiệp phát triển nông thôn, môi trường sinh thái.
Theo số liệu thống kê của sở NN&PTNT thì Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm phía Đông miền Duyên hải Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 102 km, có tổng diện tích tự nhiên là 152.318 ha chiếm 0,45% diện tích tự nhiên cả nước. Sản xuất nông nghiệp vẫn được coi là lĩnh vực quan trong trong chiến lược phát triển kinh tế của Thành phố. Theo số liệu thống kê, toàn thành phố có trên 1,793 triệu người trong đó khu vực nông thôn có 0,972 triệu chiếm 54,21% tổng số dân toàn thành phố. Dân số nông nghiệp chiếm trên 80% dân số nông thôn. Hiện tại, Thành phố Hải Phòng có 5 hệ thống công trình thuỷ lợi phục vụ tưới, tiêu cho gần 70.000 ha diện tích nông nghiệp, ngoài ra còn cấp nước, tiêu thoát nước cho công nghiệp và dân sinh
Về nông nghiệp, bằng nhiều biện pháp, như đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất thực phẩm, phát triển cây trồng, vật nuôi có chất lượng, hiệu quả kinh tế cao và an toàn vệ sinh thực phẩm. Mở rộng qui mô trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, các loại rau xuất khẩu (cà chua, dưa chuột, ớt...), chăn nuôi gia súc (lợn, bò,…), gia cầm theo phương thức công nghiệp, kinh tế trang trại, mô hình VAC. Gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến, từ sản xuất nguyên liệu - chế biến đến sản phẩm hàng hoá. Kiên cố hoá và nâng cấp các tuyến đê biển xung yếu. Đẩy mạnh triển khai và hoàn thành cơ bản chương trình kiên cố hoá kênh mương. Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, thuỷ lợi, điện, nước sinh hoạt, mở mang các làng nghề, khu công nghiệp nhỏ. Phấn đấu giá trị sản xuất tăng bình quân là 4%- 5%/năm. Năng suất lúa đạt trên 10.68 tấn/ha/năm trở lên. Tổng giá trị sản
66
phẩm thu nhập trên 1đơn vị diện tích là 40 triệu đồng/ha/năm, tăng bình quân 2,2%/năm. Chăn nuôi đạt trên 50 vạn con lợn, 2 vạn con bò và hơn 5 triệu con gia cầm. Đạt mục tiêu giá trị sản xuất nông nghiệp tăng trưởng bình quân trong suốt 10 năm là 3,5% - 4%.
Để đạt được kết quả nêu trên, thuỷ lợi đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Trong những năm qua, bằng các nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức Quốc tế, cùng với sự đóng góp tiền của, công sức của nhân dân, đến nay, trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã xây dựng được hàng trăm cống, đập điều tiết các loại, hàng trăm trạm bơm, hàng nghìn km kênh mương và công trình trên kênh, phục vụ tưới trực tiếp cho 38.625 ha đất canh tác, tạo nguồn 50.771 ha, cấp nước cho công nghiệp, dân sinh trên địa bàn thành phố và tham gia xoá đói giảm nghèo, cải tạo môi trường sinh thái.
Hệ thống công trình thuỷ lợi An - Kim - Hải do Xí nghiệp Khai thác công trình thuỷ lợi Kim Thành (Hải Dương) và Công ty khai thác công trình thuỷ lợi An Hải (Hải Phòng) quản lý, ngoài nhiệm vụ cấp nước thoát nước cho sản xuất nông nghiệp hệ thống còn đảm nhiệm phục vụ cấp nước thô cho các nhà máy nước sạch của thành phố Hải Phòng. Hệ thống công trình nằm trên địa bàn của cả hai tỉnh Hải Dương và Hải Phòng. Nguồn nước cấp cho hệ thống vào vụ đông xuân (5 tháng) do hai đầu cống mối Bằng Lai và Quảng Đạt thuộc thuộc Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành quản lý; Thời gian còn lại nguồn nước được bổ sung qua các cống Kim Sơn, Song Mai, Bãi Mắm thuộc Công ty KTCTTL An Hải quản lý. Do yêu cầu đảm bảo chất lượng nước phục vụ công nghiệp và sinh hoạt của thành phố Hải Phòng nên phải tăng cường tiêu nước qua các công Cái Tắt, Tiên Sa, Nhu Kiều và Hà Liên, là những công trình do Công ty KTCTTL An Hải quản lý. Hệ thống thuỷ lợi An - Kim - Hải chuyển nguồn nước tiêu trong khu vực qua cống Cái tắt thuộc Công ty An Hải. Hệ thống công trình được phân khu quản lý như sau:
3.1. Giới thiệu khái quát về hệ thống thuỷ lợi An Kim Hải
67
Hình 3.1. Bản đổ quy trình vận hành cấp nước thô hệ thống thuỷ lợi An Kim Hải
68
3.1.1 Hệ thống công trình phục vụ cấp nước thô do Xí nghiệp KTCTTL Kim
Thành quản lý
1. Cống tưới tiêu đầu mối:
Cống đầu mối Bằng Lai, nhiệm vụ hiện nay lấy nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp, cấp nước thô và dân sinh kinh tế cho hệ thống thuỷ nông An - Kim - Hải (chủ yếu là 5 tháng vụ đông xuân).
Cống đầu mối Quảng Đạt, nhiệm vụ hiện nay cùng với cống Bằng Lai kết hợp lấy nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp, cấp nước thô và dân sinh kinh tế cho hệ thống thuỷ nông An - Kim - Hải (chủ yếu là 5 tháng vụ đông xuân).
2. Hệ thống kênh mương:
Kênh chính Bằng Lai – Kim Khê, kết cấu kênh đất làm nhiệm vụ tưới tiêu kết hợp có các thông số kỹ thuật: chiều dài 8,0 km, chiều rộng kênh 55,5 m, mái kênh m = 1÷ 1,5.
Kênh chính Quảng Đạt – Kim Khê, kết cấu kênh đất làm nhiệm vụ tưới tiêu kết hợp có các thông số kỹ thuật: chiều dài 14,8 km, chiều rộng kênh 45,0 m, mái kênh m = 1 ÷ 1,5.
Kênh chính Kim Khê – Cử, kết cấu kênh đất làm nhiệm vụ tưới tiêu kết hợp có các thông số kỹ thuật: chiều dài 3,4 km, chiều rộng kênh 55,0 m, mái kênh m = 1 ÷ 1,5.
3.1.2 Hệ thống công trình cấp nước thô do Công ty KTCTTL An Hải quản lý
1. Cống tưới tiêu đầu mối:
Cống đầu mối Cái Tắt, kích thước bxh = 6 x 3,25 m, nhiệm vụ hiện nay điều
tiết nước và tiêu thoát nước cho toàn hệ thống An - Kim - Hải.
Các cống lấy nước đầu mối Song Mai, Bãi Mắm, Kim Sơn, Tiên Sa, Nhu Kiều và Hà Liên; nhiệm vụ của 06 cống này là hỗ trợ tưới cho cống Bằng Lai và Quảng Đạt vào 5 tháng vụ đông xuân, thời gian còn lại 6 cống trên đảm bảo cấp nước thô cho toàn hệ thống của An Hải.
2. Hệ thống kênh mương:
Kênh chính Cử - Hà Liên, kết cấu kênh đất làm nhiệm vụ tưới tiêu kết hợp có các thông số kỹ thuật: chiều dài 10,0 km, chiều rộng kênh 59,0 m, mái kênh m = 1 ÷ 1,5.
Kênh chính Hà Liên - Cái Tắt, kết cấu kênh đất làm nhiệm vụ tưới tiêu kết hợp
có các thông số kỹ thuật: chiều dài 9,1 km, chiều rộng kênh 65,0 m.
Kênh chính Hà Liên – Cống Luồn, kết cấu kênh đất làm nhiệm vụ tưới tiêu kết hợp có các thông số kỹ thuật: chiều dài 10,0 km, chiều rộng kênh 12,0 m, mái kênh m = 1 ÷ 1,5.
Hệ thống kênh cấp 1 bao gồm 6 tuyến kênh kết cấu kênh đất (kênh Kim Xá, Tân Hưng Hồng, Hoàng Lâu, Nhu Kiều, Đặng Quốc Hồng và Song Mai) có tổng chiều dài là: 22,6 km và chiều rộng trung bình từ 5 ÷ 25m.
69
3.1.3 Đánh giá chung về hệ thống thuỷ lợi An Kim Hải
Do đặc điểm địa hình bị chia cắt bởi các con sông trên địa bàn thành phố chia làm 5 hệ thống độc lập nhau. Do đặc điểm vùng duyên hải sát biển ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thuỷ triều vịnh Bắc Bộ, các hệ thống đều có điểm chung là hệ thống đồng bộ giữa tưới và tiêu, đề có kênh trục chính tưới tiêu kết hợp, các khu tưới và tiêu đều có đầu mối và kênh chính dẫn nước riêng không chồng chéo và không ảnh hưởng xấu đến nhau. Hướng tưới và tiêu được xác định cụ thể trong từng hệ thống, từng khu vực, từng mùa vụ, quy trình vận hành hợp lý, rõ ràng.
Hầu hết các công trình được xây dựng đã lâu, sau thời gian dài đưa vào vận hành khai thác đã bị xuống cấp. Hệ thống kênh bị bồi lắng, tình trạng lấn chiếm lòng kênh gây ách tắc dòng chảy, hạn chế khả năng dẫn và trữ nước thường xuyên xảy ra.
Nhìn chung các hệ thống công trình đầu mối tương đối đầy đủ năng lực lớn xong chưa phát huy hết khả năng vì một trong những nguyên nhân là
các công trình nội đồng chưa được tu sửa nâng cấp đồng bộ, tương xứng với công trình đầu mối. Do vậy chưa phát huy hết năng lực của công trình đầu mối nói riêng và của cả hệ thống nói chung.
70
Cống Bằng Lai Cống Quảng Đạt
Kim Khê
Cống Kim Sơn Cữ
TB.Vật Cách Cống Bãi Mắm
Cống Hoàng Lâu Cống Song Mai
Cống Hà Liên Cống Nhu Kiều
TB. Vĩnh Khê Cống Tiên Sa
Cống Cái Tắt
Cống Luồn
Hình 3.2 Sơ đồ tổng quát Hệ thống thuỷ lợi An - Kim - Hải phục vụ cấp nước thô.
Một số hệ thống do có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, mục đích sử dụng đất nên cũng ảnh hưởng tới khả năng phục vụ của công trình thuỷ lợi. Từ đó làm nảy sinh mâu thuẫn trong việc cung cấp nước tưới và tiêu nước đòi hỏi cần được giải quyết.
Các cống đầu mối tưới thường bị bồi lấp thượng lưu như cống Trung Trang, cống Rỗ, hàng năm phải nạo vét. Ngược lại phía hạ lưu cống đầu mối
71
thường bị xói lở sân tiêu năng, phạm vi phá huỷ ra ngoài sân tiêu năng, tạo thành vùng xói cả vè chiều rộng và chiều sâu gây mất an toàn cho công trình. Một trong những nguyên nhân dẫn đến điều này là chế độ quản lý vận hành chưa đúng quy trình kỹ thuật.
3.2. Các khoản mục chi phí cấp nước thô cần định mức
Để đảm bảo quản lý vận hành công trình một cách có hiệu quả nhất thiết phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật trên cơ sở quy trình quản lý vận hành và các đặc thù riêng của hệ thống. Các hạng mục chi phí cấp nước thô phục vụ sinh hoạt, công nghiệp của các công ty quản lý khai thác công trình thuỷ lợi Hải Phòng bao gồm:
3.2.1. Chi phí tiền lương công tác vệ sinh, thu gom rong rác, phế thải các tuyến kênh phục vụ cấp nước thô
Đây là khoản mục chi phí chi trả cho người lao động làm công tác vệ sinh, thu gom rong rác, phế thải các tuyến kênh nhằm đảm bảo chất lượng nước thô dẫn tới vị trí cấp nước thô trên hệ thống. Chi phí tiền lương được tính toán trên cơ sở định mức lao động và các chế độ tiền lương hiện hành của Nhà nước. Định mức lao động cho công tác vệ sinh, thu gom rong rác, phế thải các tuyến kênh phục vụ cấp nước thô phụ thuộc vào lượng nước thô cần dẫn qua hệ thống để cung cấp. Nhằm quản lý, khuyến khích và nâng cao trách nhiệm của người lao động cũng như doanh nghiệp định mức được tính bằng tỷ lệ phần trăm doanh thu cấp nước thô.
3.2.2. Chi phí các khoản theo lương
Chi phí các khoản được Nhà nước quy định tính theo tiền lương, bao gồm: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, công đoàn, quỹ khen thưởng, ăn ca được áp dụng theo chế độ chính sách hiện hành của Nhà nước.
3.2.3. Chi phí nạo vét kênh mương
Chi phí nạo vét kênh mương là hạng mục chi phí cho công tác nạo vét lượng bùn cát bị bồi lắng (Do lắng đọng bùn cát của lượng nước thô dẫn cấp) trên kênh trong quá trình dẫn nước. Các tuyến kênh liên quan đến việc dẫn,
72
cấp nước thô đều là những tuyến kênh lớn, sông trục chính, vì vậy khối lượng nạo vét lớn. Chi phí được tính toán trên cơ sở khối lượng nạo vét và các định mức, đơn giá xây dựng cơ bản hiện hành. Theo Quyết định số 211/1998/QĐ- BNN-QLN ngày 19/12/1998 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về quy định chế độ sử dụng chi phí sửa chữa thường xuyên tài sản cố định của doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi, để thực hiện hạng mục chi phí này cần phải lập dự án cụ thể, trình các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
3.2.4. Chi phí dụng cụ, vật tư dùng trong viêc duy trì vệ sinh kênh mương
Với nhiệm vụ tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp: Công tác quản lý vận hành kênh mương phục vụ sản xuất nông nghiệp chỉ làm nhiệm vụ khơi thông dòng chảy, tạo điều kiện đảm bảo lượng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Còn đối với nhiệm vụ cấp nước phụ vụ công nghiệp, sinh hoạt, ngoài đảm bảo về lượng nước cần cấp, đơn vị thuỷ nông còn phải chịu trách nhiệm bảo đảm về chất lượng nước theo quy định thoả thuận. Việc thường xuyên phải vớt rong rác, duy trì vệ sinh kênh mương là một yêu cầu mang tính thường xuyên và bắt buộc. Chi phí hao mòn dụng cụ, vật tư duy trì vệ sinh kênh mương phụ thuộc vào lượng nước dẫn trên kênh, lượng nước cấp. Hiện nay, Nhà nước chưa có chính sách cụ thể về nội dung chi phí này. Chi phí này phụ thuộc vào đặc thù của từng khu vực dân cư, đô thị mà hệ thống chuyển tải nước đi qua. Định mức chi phí dụng cụ, vật tư duy trì vệ sinh kênh mương được tính theo m3 nước cấp hoặc tính bằng tỷ lệ phần trăm doanh thu cấp nước thô.
3.2.5. Chi phí vật tư, nguyên nhiên liệu để bảo dưỡng, vận hành công trình
Là khoản chi phí cho việc mua sắm các loại vật tư, nguyên vật liệu phục vụ cho công tác bảo dưỡng máy móc, thiết bị vận hành công trình trên hệ thống cấp nước. Căn cứ vào yêu cần vận hành của từng công trình, định mức chi cơ sở đã lập trong “Định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý vận hành công trình phục vụ sản xuất nông nghiệp” và đơn giá hàng năm để xác định.
73
3.2.6. Chi phí sửa chữa thường xuyên tài sản cố định phục vụ cấp nước thô
Chi phí sửa chữa thường xuyên tài sản cố định thuộc doanh nghiệp quản lý đã được tính đầy đủ trong Quyết định số 1532/2005/QĐ-UB ngày 17/5/2005 của UBND thành phố Hải Phòng về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi trên địa bàn thành thố Hải Phòng. Căn cứ vào lượng nước thô cấp cho nhà máy nước và lượng nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp, các doanh nghiệp tiến hành phân bổ khoản chi phí này để hạch toán chi phí cho công tác cấp nước thô và nhiệm vụ tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp.
3.2.7. Chi phí khấu hao tài sản cố định
Chi phí khấu hao tài sản cố định hàng năm được tính toán theo Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ Tài chính ban hành quy định về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. khoản chi phí này để hạch toán chi phí cho công tác cấp nước thô và nhiệm vụ tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Cơ sở phân bổ là tỷ lệ lượng nước thô cấp cho nhà máy nước và lượng nước sử dụng để tưới.
3.2.8. Chi phí quản lý doanh nghiệp
Căn cứ Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2009 về việc Ban hành Quy chế quản lý tài chính của công ty Nhà nước và theo Thông tư liên tịch số 90/1997/TTLT/TC-NN ngày 19/12/1997 của liên Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi, Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm khoản mục chi phí là: Chi phí vật liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, chi phí thuế phí và lệ phí, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác.
1. Chi phí đào tạo, nghiên cứu khoa học: Tính toán theo yêu cầu thực tế về đào tạo, nâng cao trình độ chuyện môn, nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất hàng năm.
3.2.9. Các chi phí khác
1. Chi phí bảo hộ, an toàn lao động: Thực hiện theo Thông tư số 10/1998/TT- BLĐTBXH ngày 28/5/1998 của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội về chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động.
2. Chi phí lập quỹ dự phòng mất việc làm: Thực hiện theo theo Thông tư số 35/2009/TT-BLĐTBXH ngày 13/11/2009 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện điều chỉnh tiền lương và phụ cấp lương trong doanh nghiệp theo Nghị định số 97/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009 của chính phủ; Đối với lao động dôi dư theo Nghị định số 97/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009 của Chính phủ, thì trợ cấp mất việc làm cho thời gian làm việc trong khu vực nhà nước từ ngày 01/01/2010 trở đi, trợ cấp đi tìm việc làm được tính theo mức lương tối thiểu chung 880.000 đồng/tháng.
3. Chi phí tôn tạo bờ vùng, đắp bờ kênh mương: Chi phí này được tính toán phân bổ căn cứ vào hiện trạng hệ thống công trình, yêu cầu hoàn chỉnh đê bao bờ vùng hàng năm để đảm bảo cho việc cấp nước thô; căn cứ kế hoạch nâng cấp cải tạo công trình cấp nước thô đến năm 2015 của Công ty.
4. Chi phí xử lý ô nhiễm: Thực hiện theo Quyết định số 35/2002/QĐ- BKHCNMT ngày 25/6/2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường về việc công bố danh mục tiêu chuẩn Việt nam về môi trường bắt buộc áp dụng; Tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng nước phục vụ sinh hoạt bao gồm: TCVN 5942-1995 - Chất lượng nước - Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt. TCVN 6772:2000 - Chất lượng nước - Nước thải sinh hoạt - Giới hạn ô nhiễm cho phép.TCVN 6980:2001 - Chất lượng nước - Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp thải vào vực nước sông dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt.TCVN 6981:2001 - Chất lượng nước - Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp thải vào vực nước hồ dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt.
5. Chi phí giám sát chất lượng nguồn nước: Thực hiện theo hợp đồng với Trung tâm y tế dự phòng của thành phố Hải Phòng nhằm giám sát chất lượng nguồn nước.
6. Chi phí lãi vay ngân hàng: Nhằm chi trả tiền lãi vay ngân hàng khoản tiền vay để trả lương cho cán bộ công nhân viên trong thời gian chưa thu được tiền nước và thuỷ lợi phí theo hợp đồng.
74
75
3.2.10. Chi phí chi trả tạo nguồn
1. Chi phí quản lý vận hành công trình tạo nguồn cấp nước thô của Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành cho Công ty KTCTTL Hải Phòng: Chi phí tiền lương vận hành các công trình liên quan đến cấp nước thô; Chi phí nạo vét bồi lắng các tuyến kênh mương bị bồi lắng do dẫn nước phục vụ cấp nước thô.
2. Chi phí quản lý vận hành công trình tiêu nước của Công ty KTCTTL Hải Phòng cho diện tích 5.000 ha thuộc Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành đảm trách: Chi phí tiền lương vận hành các công trình liên quan đến tiêu nước; Chi phí nạo vét bồi lắng các tuyến kênh mương bị bồi lắng do tiêu nước.
3. Các chi phí khác Công ty KTCTTL Hải Phòng phải trả cho Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành: Các khoản theo lương; Chi phí nạo vét kênh mương; Chi phí dụng cụ vật tư duy trì vệ sinh kênh mương; Chi phí vật tư, nguyên nhiên liệu bảo dưỡng thiết bị vận hành công trình; Chi phí quản lý doanh nghiệp; Chi phí khấu hao; Chi phí đào tạo nghiên cứu khoa học; Chi phí bảo hộ an toàn lao động; Chi phí lập quỹ dự phòng mất việc làm; Chi phí lãi vay ngân hàng để trả lương.
Khoản mục chi phí chi trả tạo nguồn, là chi phí mà công ty khai thác công trình thuỷ lợi của An Hải chi trả cho việc sử dụng nước của hệ thống tạo nguồn là Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành Hải Dương. Thành phần chi phí này được xác định trên nguyên tắc tính toán xác định các chi phí mà Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành Hải Dương phải bỏ ra để thực hiện để thực hiện nhiệm vụ cấp nước tạo nguồn cho Công ty KTCTTL An Hải. Trong đó có xét đến chi phí của Công ty KTCTTL An Hải hỗ trợ tiêu nước cho cho phần diện tích mà hệ thống Kim Thành - Hải Dương đảm trách. Chi tiết các thành phần chi phí này bao gồm:
3.3. Tính toán xây dựng các định mức
3.3.1. Định mức lao động tổng hợp và chi phí tiền lương
a. Định mức lao động đối với cấp nước thô
Hệ thống công trình thuỷ lợi do Công ty khai thác công trình thuỷ lợi An
Hải, Hải Phòng quản lý thực hiện 2 nhiệm vụ chính là:
76
- Cấp nước tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh.
- Cấp nước thô phục vụ công nghiệp và sinh hoạt.
Đối với nhiệm vụ quản lý, vận hành công trình thuỷ lợi cấp nước tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp đã được UBND thành phố Hải Phòng ban hành định mức kinh tế kỹ thuật tại Quyết định số 1532/2005/QĐ-UB ngày 17/5/2005. Định mức này được xây dựng trên cơ sở yêu cầu sử dụng nước tại mặt ruộng, yêu cầu tiêu nước theo lượng mưa, khả năng chịu ngập của cây trồng, quy trình quy phạm đối với sản xuất nông nghiệp và dân sinh.
Đối với nhiệm quản lý vận hành công trình thủy lợi nhằm cung cấp nước thô cho các nhà máy nước, các khu công nghiệp và sinh hoạt khác thì việc đảm bảo chất lượng nước phải được nâng lên mức yêu cầu cao hơn. Để thực hiện được nhiệm vụ này Công ty phải tổ chức thêm lực lượng lao động để quản lý, vận hành và bảo vệ các công trình thủy lợi phục vụ công tác cấp nước thô.
Nhiệm vụ của công tác quản lý vận hành công trình thủy lợi cung cấp nước thô là làm vệ sinh, thu gom phế thải, vớt rau, rong rác, bèo hàng ngày trên hệ thống kênh cấp nước thô cho các nhà máy nước.
b. Định mức lao động tổng hợp
Căn cứ vào Thông tư số 06/2005/TT-BLĐTBXH ngày 05 tháng 01 năm 2005 của Bộ Lao động thương binh &XH hướng dẫn phương pháp xây dựng định mức lao động trong các công ty nhà nước.
Căn cứ vào kỹ thuật, quy trình công nghệ, tổ chức lao động và chủng loại sản phẩm của Công ty khai thác công trình thuỷ lợi chọn phương pháp định mức lao động tổng hợp trên đơn vị sản phẩm để xây dựng định mức lao động cho Công ty.
Công thức tổng quát:
Tsp = Tcn + Tql (3-1)
Trong đó:
77
Tsp: Định mức lao động tổng hợp trên đơn vị SP (công/km nghiệm thu). Tcn: Định mức lao động công nghệ. Tql: Định mức lao động quản lý.
Tính Tcn
Định mức lao động công nghệ Tcn bằng tổng thời gian lao động thực hiện các nguyên công công nghệ sản xuất sản phẩm trong điều kiện tổ chức, kỹ thuật xác định.
Lao động công nghệ là những lao động trực tiếp thực hiện nhiệm vụ sản xuất theo quy trình công nghệ như: những người trực tiếp xử lý đối tượng lao động, người trực tiếp điều khiển máy móc, thiết bị chuyên dùng,...
Định mức lao động công nghệ được xác định theo công thức sau:
(3-2) Tcnt = nt x LK x ĐM x kt
Trong đó:
Tcnt: Số công lao động thu gom ngày thứ t (thường, chủ nhật, lễ tết); nt: Số ngày (thường, chủ nhật, lễ tết); LK: Chiều dài đoạn kênh (km); ĐM: Định mức cơ sở (Công/km/ngày); Định mức cơ sở được xác định theo Quyết định số 37/2005/QĐ-BXD ngày 02 tháng 11 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã điều chỉnh theo khu vực Thành phố Hải Phòng;
công thức (3-2) trên còn được nhân với hệ số 0,417 (=5/12).
kt: Hệ số hiệu chỉnh ngày thường, chủ nhật, lễ tết; Riêng số công lao động của Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành chỉ tính 5 tháng trong một năm nên
Tcnt: Tính cho từng đoạn kênh tham gia cấp nước thô;
Tính Tql
Định mức lao động quản lý (Tql): được tính bằng tổng thời gian lao động quản lý sản xuất sản phẩm. Tql tính bằng tỷ lệ % so với mức lao động công nghệ Tcnt.
c. Kết quả tính toán định mức lao động
Xác định số ngày tính định mức trong năm
78
365 ngày 52 ngày 8 ngày
- Ngày trong năm dương lịch: - Ngày chủ nhật trong năm: - Ngày nghỉ lễ tết trong năm: Ngày tính định mức trong năm: 305 ngày
Xác định cấp bậc công việc bình quân
Dựa trên cơ sở tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, trình độ công nghệ hiện trạng và mức độ phức tạp việc quản lý vận hành công trình thuỷ lợi thuộc Công ty khai thác công trình thuỷ lợi An Hải và Kim Thành quản lý. Cấp bậc công việc bình quân tính toán như sau:
- Đối với công nhân quản lý, duy tu, bảo dưỡng và vận hành công trình thuỷ nông đầu mối, cấp bậc công việc bình quân là 4,5/6, áp dụng bảng lương A2.3 - nhóm II, hệ thống thang bảng lương theo Nghị định 205/NĐ-CP.
- Đối với công nhân thuỷ nông (quản lý vận hành hồ đập nhỏ, cống, kênh và công trình trên kênh, quản lý tưới), cấp bậc công việc bình quân là 4,5/6, áp dụng bảng lương A2.3 - nhóm I, hệ thống thang bảng lương theo Nghị định 205/NĐ- CP.
- Đối với cán bộ quản lý, phục vụ và phụ trợ áp dụng bảng lương chuyên môn nghiệp vụ, thừa hành phục vụ ở các doanh nghiệp và bảng phụ cấp chức vụ lãnh đạo doanh nghiệp. Đối với cán bộ lãnh đạo của Công ty áp dụng bảng lương chức vụ quản lý doanh nghiệp theo Nghị định 205/NĐ- CP.
d. Kết quả định mức lao động tổng hợp phục vụ cấp nước thô
- Đối với Công ty Khai thác công trình thuỷ lợi An Hải:
+ Công lao động trực tiếp: + Công lao động quản lý (gián tiếp): 16.936 công; 1.220 công.
- Đối với Xí nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi Kim Thành:
+ Công lao động trực tiếp: + Công lao động quản lý (gián tiếp): 3.189 công; 508 công.
79
Kết quả tính toán chi tiết thể hiện ở Phụ lục 3.2:Định mức lao động vệ sinh, thu gom phế thải và vớt rau, rong, bèo trên kênh hệ thống thuỷ lợi An Kim Hải
e. Chi phí tiền lương đối với cấp nước thô
a. Cơ sở tính toán định mức chi phí tiền lương
- Căn cứ vào kết quả tính toán định mức lao động cho công tác quản lý
- Thông tư số 35/2009/TT-BLĐTBXH ngày 13 tháng 01 năm 2009 của Bộ Lao động thương binh &XH hướng dẫn thực hiện Nghị định số 97/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ quy định quản lý lao động, tiền lương và thu nhập trong các công ty nhà nước.
vận hành hệ thống công trình cấp nước thô.
b. Định mức chi phí tiền lương quản lý, vận hành công trình cấp nước thô
Tổng quỹ tiền lương quản lý, vận hành công trình cấp nước thô của công
ty được tính theo công thức sau:
CTL =
(3-3)
Trong đó:
CTL: Chi phí tiền lương quản lý và vận hành CT cấp nước thô (đồng); Tsp: Số công lao động thu gom (công); DGNC: Đơn giá tiền lương ;
c. Kết quả định mức chi phí tiền lương cho cấp nước thô
- Đối với công nhân quản lý, duy tu, bảo dưỡng và vận hành công trình thuỷ nông đầu mối, cấp bậc công việc bình quân là 4,5/6, áp dụng bảng lương A2.3 - nhóm II, tương ứng với hệ số lương là 3,195.
- Công nhân thuỷ nông (quản lý vận hành hồ đập, cống, kênh và công trình trên kênh, quản lý tưới, dẫn nước tưới), cấp bậc công việc bình quân là 4,5/6, áp dụng bảng lương A2.3 - nhóm I, tương ứng với hệ số lương 2,915.
- Mức lương tối thiểu chung là 880.000 đồng/tháng.
Tổng quỹ tiền lương năm kế hoạch cho cấp nước thô:
80
- Đối với Công ty KTCTTL An Hải:
Quỹ tiền lương năm kế hoạch:
Trong đó: 2.366.536.557 đồng; * Quỹ tiền lương cho LĐ trực tiếp: 2.002.090.470 đồng; * Quỹ tiền lương cho LĐ gián tiếp: 147.826.452 đồng; 216.619.625 đồng. * Quỹ tiền lương bổ sung:
- Đối với Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành:
Quỹ tiền lương năm kế hoạch:
Trong đó: 479.311.761 đồng; * Quỹ tiền lương cho LĐ trực tiếp: 376.934.342 đồng; * Quỹ tiền lương cho LĐ gián tiếp: 61.594.359 đồng; 40.783.060 đồng. * Quỹ tiền lương bổ sung:
Kết quả tính toán chi tiết thể hiện ở Phụ lục 3.1: Định mức chi phí tiền lương nhặt, thu gom phế thải và vớt rau, rong, bèo trên kênh của hệ thống thuỷ lợi An Kim Hải
3.3.2. Chi phí các khoản theo lương
a. Chi phí bảo hiểm xã hội
Chi phí bảo hiểm xã hội được tính và trích theo tỷ lệ quy định (15% quỹ
tiền lương trực tiếp và gián tiếp ngày lao động theo quy định):
- Đối với Công ty KTCTTL An Hải: 251.736.974 đồng. - Đối với Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành: 52.459.069 đồng
b. Chi phí bảo hiểm y tế
Chi phí bảo hiểm y tế được tính và trích theo tỷ lệ quy định (2% quỹ tiền
lương trực tiếp và gián tiếp ngày lao động theo quy định):
- Đối với Công ty KTCTTL An Hải: 33.564.930 đồng; - Đối với Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành: 6.994.543 đồng;
c. Chi phí công đoàn
Kinh phí công đoàn được tính và trích theo tỷ lệ quy định (2%): - Đối với Công ty KTCTTL An Hải: 33.564.930 đồng; - Đối với Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành: 6.994.543 đồng;
81
d. Chi phí ăn ca
Chi phí ăn ca được tính với đơn giá 10.000 đồng/ngày/người. - Đối với Công ty KTCTTL An Hải: 181.560.000 đồng; - Đối với Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành: 36.970.000 đồng;
e. Chi phí lập Quỹ khen thưởng phúc lợi
Quỹ khen thưởng phúc lợi được tính và trích theo quy định (2 tháng
lương)
- Đối với Công ty KTCTTL An Hải: 385.917.227 đồng; - Đối với Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành: 39.942.647 đồng.
* Chi phí tiền lương Công ty An Hải phải trả cho Xí nghiệp Kim Thành Do đặc thù hệ thống công trình thuỷ lợi An - Kim - Hải, Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành cấp nước tưới tạo nguồn cho sản xuất nông nghiệp cho hệ thống tưới của Công ty KTCTTL An Hải vào vụ đông xuân (5 tháng). Như vậy phải xác định chi phí tiền lương Công ty An Hải phải trả cho Xí nghiệp Kim Thành do phần cấp nước tạo nguồn.
Việc xác định quỹ tiền lương này căn cứ vào định mức lao động và đơn giá tiền lương đã được duyệt tại quyết định số 5753/2002/QĐ-UB ngày 05 tháng 12 năm 2002 của Uỷ ban ban nhân dân tỉnh Hải Dương về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Hải Dương;
Tổng công lao động hàng năm mà Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành phải vận hành phục vụ cho diện tích tưới của Công ty KTCTTL An Hải là 1.528,4 công/năm (trong 5 tháng vụ đông xuân).
Tổng quỹ tiền lương mà công ty KTCTTL An Hải phải trả cho Xí nghiệp
KTCTTL Kim Thành là: 165.274.715 đồng.
* Chi phí tiền lương Xí nghiệp Kim Thành phải trả cho Công ty An Hải Hệ thống thuỷ nông An - Kim - Hải, đảm bảo cấp nước tưới (một phần) qua đầu mối Bằng Lai và Quảng Đạt phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn của hai tỉnh Hải Dương và Hải Phòng. Nhưng khi vận hành tiêu lại qua cống Cái Tắt thuộc hệ thống thuỷ nông An Hải quản lý. Như vậy chi phí tiền lương cho vận hành công trình tiêu đối với sản xuất nông nghiệp và dân sinh (cho 1 phần diện
f. Phân bổ chi phí tiền lương cấp nước tạo nguồn
tích của Kim Thành) mà Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành phải trả cho Công ty KTCTTL An Hải.
Việc xác định quỹ tiền lương do tiêu nước cho phần diện tích của Kim Thành phải căn cứ vào định mức lao động và đơn giá tiền lương đã được duyệt tại quyết định số 1532/2005/QĐ-UB ngày 17 tháng 5 năm 2005 của UBND thành phố Hải Phòng về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi trên địa bàn thành thố Hải Phòng.
Tổng công lao động hàng năm mà Công ty KTCTTL An Hải phải vận hành
tiêu cho diện tích của Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành là 3.310,5 công/năm.
Tổng quỹ tiền lương mà Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành phải trả cho Công ty
KTCTTL An Hải: 357.992.376 đồng.
82
Kết quả tính toán chi tiết xem thể hiện ở phụ lục 3.4 và 3.5: Định mức lao động và tiền lương phân bổ đối với sản xuất nông nghiệp
3.3.3. Chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do cấp nước thô
Hàng năm, các kênh mương của hệ thống công trình thủy lợi bị bồi lắng
do:
- Dẫn cấp nước tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. - Dẫn cấp nước thô phục vụ công nghiệp và sinh hoạt.
Đối với nhiệm vụ quản lý, vận hành công trình thuỷ lợi cấp nước tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp đã được UBND thành phố Hải Phòng ban hành định mức kinh tế kỹ thuật tại Quyết định số 1532/2005/QĐ-UB ngày 17/5/2005. Chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do cấp nước tưới, tiêu cho nông nghiệp được xây dựng trong định mức kinh tế kỹ thuật trên quy định chỉ tính chi phí khơi thông dòng chảy với khối lượng nhỏ, định mức này được xây dựng trên cơ sở yêu cầu sử dụng nước tưới tại mặt ruộng, yêu cầu tiêu nước theo lượng mưa. Như vậy, chi phí nạo vét kênh mương đối với sản xuất nông nghiệp chỉ theo tính chất thời vụ (lấy nước theo đợt tưới, thời vụ tưới và nhu cầu tưới tiêu).
Ngoài ra, thực tế hàng năm hệ thống công trình thủy lợi còn cung cấp nước thô cho các nhà máy nước, các khu công nghiệp và sinh hoạt khác. Công
83
việc này yêu cầu phải cấp nước thường xuyên và liên tục hàng ngày. Hơn nữa việc đảm bảo chất lượng nguồn nước là rất cao so với sản xuất nông nghiệp do vậy yêu cầu tiêu nước (khi chất lượng nguồn nước không đảm bảo) là rất lớn làm gia tăng lượng bồi lắng kênh mương. Đối với cấp nước thô phải nạo vét đảm bảo cao trình lấy nước của các trạm bơm.
Hình 3.3. Công tác nạo vét kênh mương do bị bồi lắng do cấp nước tưới
cho công ty khai thác công trình thuỷ lợi An Hải
Vì vậy, hàng năm ngoài việc nạo vét kênh mương bị bồi lắng do cấp nước tưới tiêu cho nông nghiệp, khi làm thêm nhiệm vụ dẫn cấp nước thô, Công ty còn phải bỏ ra một khoản chi phí để nạo vét lượng bùn cát bồi lắng do cung cấp nước thô nữa.
g. Chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do cấp nước thô * Cơ sở tính toán
Chi phí nạo vét kênh mương được xác định dựa vào khối lượng và đơn giá
nạo vét bùn cát. Các yếu tố này được xác định dựa trên cơ sở:
- Độ đục bình quân của nguồn nước thô tại đầu mối: 494g/m3; - Dung trọng bùn cát bồi lắng : 1.200.000g/m3;
84
- Đơn giá xây dựng cơ bản – QĐ 2542/QĐ-UBND ngày 17/12/2009 của
* Công thức tính toán
UBND thành phố Hải Phòng; - Lượng nước thô cấp hàng năm;
Chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do cấp nước thô được xác định:
CTh (3-4)
nv = GTh
nv.ĐGnc
Trong đó:
nv: Chi phí nhân công nạo vét bùn do cấp nước thô;
CTh
ĐGnc: Đơn giá nhân công 189.911 đồng/m3- QĐ2542/QĐ-UBND
nv: Khối lượng bùn cát bồi lắng do cấp nước thô cần nạo vét (m3):
GTh
(3-4a)
nv = 1000.Lk.Bđáy.hbl
bl: Chiều dày bồi lắng (m):
GTh Lk: Chiều dài đoạn kênh (km); Bđáy: Bề rộng đáy trung bình đáy kênh (m); hTh
(3-4b)
c: Lượng nước cấp thô (m3);
* Kết quả tính toán chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do cấp nước thô
Fđk: Tổng diện tích đáy kênh (m2); : Độ đục bình quân tính toán (g/m3); : Dung trọng (g/m3); QTh
- Chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do cấp nước thô của An Hải:
1566.467.344 đồng.
- Chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do cấp nước thô của Kim Thành trong một vụ chiêm xuân (Công thức tính toán trên đã điều chỉnh theo vụ 41,7%): 490.964.267 đồng.
Kết quả tính toán chi tiết thể hiện ở Phụ lục 3.3: Định mức chi phí nạo vét kênh mương cấp nước thô hệ thống thuỷ lợi An Kim Hải
85
h. Chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do cấp nước tưới cho Cty An Hải
Hàng năm, vào vụ chiêm xuân kênh mương của Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành và Công ty An Hải phải dẫn nước tưới cho nông nghiệp của An Hải. Vì vậy cần tính toán chi phí nạo vét bùn cát bồi lắng cho hệ thống kênh mương này.
* Cơ sở tính toán
Chi phí nạo vét kênh mương xác định dựa vào: - Độ đục bình quân: 494g/m3; - Dung trọng: 1.200.000g/m3; - Đơn giá xây dựng cơ bản – QĐ 2542/QĐ-UBND ngày 17/12/2009 của
UBND thành phố Hải Phòng;
- Lượng nước tưới hàng năm;
* Công thức tính toán
Chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do cấp nước tưới cho An Hải được xác
định:
CT (3-5)
nv = GT
nv.ĐGnc
nv: Chi phí nhân công nạo vét bùn do cấp nước tưới;
Trong đó: CT ĐGnc: Đơn giá nhân công 189.911 đồng/m3- QĐ2542/QĐ-UBND nv: Khối lượng bùn cát bồi lắng do tưới cần nạo vét (m3): GT
(3-5a)
nv = 1000.Lk.Bđáy.hT
bl
GT Lk: Chiều dài đoạn kênh (km); Bđáy: Bề rộng trung bình đáy kênh (m); hT bl: Chiều dày bồi lắng do tưới (m):
(3-5b)
Fđk: Tổng diện tích đáy kênh (m2); : Độ đục bình quân tính toán (g/m3); : Dung trọng (g/m3);
86
c: Lượng nước tưới cho An Hải (m3);
QT
* Kết quả tính toán chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do cấp nước tưới cho Công ty KTCTTL An Hải
- Chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do cấp nước tưới cho An Hải:
1.755.249.031 đồng;
- Chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do cấp nước tưới tính cho Kim
Thành (An Hải phải trả cho Kim Thành): 1.203.325.195 đồng
Kết quả tính toán chi tiết thể hiện ở phụ lục 3.7: Định mức chi phí nạo vét kênh mương cấp nước tưới vụ chiêm xuân của hệ thống thuỷ lợi An Kim Hải
i. Chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do tiêu nước cho XN Kim Thành
Hàng năm, vào vụ mùa kênh mương của Công ty KTCTTL An Hải phải tiêu nước cho Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành, vì thế chi phí nạo vét bùn cát trên kênh mương của An Hải phải tính toán và được XN Kim Thành trả.
Hình 3.4. Công tác nạo vét kênh mương bị bôi lắng do tiêu nước cho xí
nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi Kim Thành
* Cơ sở tính toán
87
Chi phí nạo vét kênh mương mà các công ty phải chi trả được xác định
dựa vào:
- Độ đục bình quân: 494g/m3;
- Dung trọng: 1.200.000g/m3;
- Đơn giá xây dựng cơ bản – QĐ 2542/QĐ-UBND ngày 17/12/2009 của UBND thành phố Hải Phòng;
- Lượng nước tiêu hàng năm;
* Công thức tính toán
CTi (3-6)
nv = GTi
nv.ĐGnc
nv: Chi phí nhân công nạo vét bùn do tiêu nước;
Trong đó: CTi ĐGnc: Đơn giá nhân công 189.911 đồng/m3- QĐ2542/QĐ-UBND GTi nv: Khối lượng bùn cát bồi lắng do tiêu nước cần nạo vét (m3):
(3-6a)
nv = 1000.Lk.Bđáy.hTi
bl
bl: Chiều dày bồi lắng do tiêu nước (m):
GTi Lk: Chiều dài đoạn kênh (km); Bđáy: Bề rộng trung bình đáy kênh (m); hTi
(3-6b)
c: Lượng nước tiêu cho Kim Thành (m3);
Fđk: Tổng diện tích đáy kênh (m2); : Độ đục bình quân tính toán (g/m3); : Dung trọng (g/m3); QTi
* Kết quả tính toán chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do tiêu nước cho Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành
Chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do tiêu nước cho Kim Thành (Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành phải thanh toán cho Công ty KTCTTL An Hải): 1.435.132.722 đồng.
Kết quả tính toán chi tiết thể hiện ở Phụ lục 3.6: Định mức chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng tiêu thoát nước vụ mùa của hệ thống An Kim Hải
88
3.3.4. Chi phí dụng cụ, vật tư để duy trì vệ sinh kênh mương
Đối với việc cung cấp nước tưới, tiêu cho sản xuất nông nghiệp, thì việc vớt rong, rác chỉ chủ yếu là để đảm bảo dòng chảy, chi phí này đã được tính trong định mức kinh tế kỹ thuật tại Quyết định số 1532/2005/QĐ-UB ngày 17/5/2005 của UBND thành phố Hải Phòng.
Khi hệ thống công trình thủy lợi đảm nhận thêm chức năng cung cấp nước thô thì việc đảm bảo chất lượng nước thô cấp cho các nhà máy nước là rất cần thiết, đòi hỏi phải thực hiện công tác vệ sinh kênh mương thường xuyên. Đó là việc nhặt, vớt bèo, rong, các phế thải... dọc tuyến kênh. Để thực hiện được công việc này ngoài nhân công, đòi hỏi phải có các công cụ, dụng cụ chuyên nghiệp như: thuyền tôn, vợt sắt, lưới sắt, xe cải tiến,...Công việc thực hiện bằng thủ công trên từng đoạn kênh cấp nước thô tính từ cống Bàng Lai, Quảng Đạt (Kim Thành) đến các nhà máy nước.
j. Cơ sở tính toán
- Định mức dụng cụ vệ sinh lấy theo Quyết định số 124/QĐ/UB ngày 7 tháng 10 năm 2003 của UBND Thành phố Hà Nội về việc ban hành định mức dự toán công tác duy trì vệ sinh môi trường;
Bảng 3.1: Định mức dụng cụ vệ sinh
Đơn vị tính: ha/ngày
TT
Tên dụng cụ
Định mức
Đơn vị
Sọt sắt
1
0,0021
Cái
Lưới thép
2
0,007
m2
Vợt sắt
3
0,0025
cái
Thuyền tôn
4
0,0002
cái
Xe cải tiến
5
0,0002
cái
6 Mái chèo
0,001
cái
Chổi tre ngắn
7
0,023
cái
Vật liệu khác
8
10
%
- Đơn giá dụng cụ, vật tư: Lấy theo giá mua trên thị trường.
k. Công thức tính toán
89
(3-7)
Trong đó:
CDCChi phí dụng cụ, vật tư dùng để vệ sinh kênh;
365: Số ngày làm việc trong năm;
Lk: Chiều dài đoạn kênh i (km);
Bk: Chiều rộng trung bình kênh i (m);
Pi: Đơn giá dụng cụ vật tư
mi: Định mức vật tư ([khối lượng]/ha/ngày);
n: Số loại dụng cụ vật tư;
Riêng dụng cụ, vật tư vệ sinh kênh của Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành: đoạn từ cống Bàng Lai đến Kim Khê, từ cống Quảng Đạt đến Kim Khê và Kim Khê đến Cữ thì chi phí dụng cụ vật tư để vệ sinh kênh mương này được tính cho 1 vụ (Vụ chiêm 5 tháng), khi đó Cvt được nhân với hệ số hiệu chỉnh 0,417 (5/12).
l. Kết quả tính toán chi phí dụng cụ, vật tư để duy trì vệ sinh kênh mương
- Chi phí dụng cụ, vật tư để duy trì vệ sinh kênh mương của Công ty
KTCTTL An Hải: 154.610.500 đồng.
- Chi phí dụng cụ, vật tư để duy trì vệ sinh kênh mương của Xí nghiệp
KTCTTL Kim Thành: 45.023.100 đồng.
Kết quả tính toán chi tiết thể hiện ở phụ lục 3.9 và 3.10
3.3.5. Chi phí vật tư, nguyên nhiên vật liệu để bảo dưỡng vận hành công trình cấp nước thô
a. Cơ sở tính toán
Căn cứ vào hiện trạng các kênh và công trình trên kênh của hệ thống công trình thuỷ lợi An Kim Hải ta thấy việc vận hành các công trình này là thực hiện chung cho cả công tác tưới, tiêu và cấp nước thô. Định mức chi phí vật tư, nguyên nhiên liệu để bảo dưỡng công trình phục vụ công tác tưới tiêu đã
90
được tính trong định mức kinh tế kỹ thuật tại Quyết định số 1532/2005/QĐ- UB ngày 17/5/2005.
Việc tính toán định mức chi phí vật tư, nguyên nhiên liệu bảo dưỡng, vận hành công trình riêng cho cấp nước thô sẽ phải căn cứ định mức kinh tế kỹ thuật của công ty đã lập cho tưới, tiêu, sản lượng nước tưới cho nông nghiệp và tính cho cấp nước thô.
b. Công thức tính toán
Công ty KTCTTL An Hải đã thực hiện định mức vật tư, nguyên nhiên liệu cho công tác bảo dưỡng cống và các thiết bị đóng mở theo định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi tại quyết định số 1532/2005/QĐ-UB ngày 17 tháng 5 năm 2005 của UBND thành phố Hải Phòng. Vấn đề đặt ra đối với định mức cho công tác bảo dưỡng hiện tại mới chỉ tính cho phần chi phí tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Phần chi phí vật tư tăng thêm cho vận hành công trình cấp nước thô phục vụ sinh hoạt, dân sinh và công nghiệp thì hiện tại chưa được xác định. Theo phân tích, với định mức đã ban hành áp dụng cho sản xuất nông nghiệp, nếu quy ra lượng nước tưới là 52.461.485 m3/năm. Như vậy, ngoài nguồn nước cấp cho nông nghiệp, hệ thống hàng năm phải cung cấp thêm 35.747.180 m3 nước thô cho công nghiệp, sinh hoạt. Để tính chi phí vật tư, nguyên nhiên liệu cho phần cấp nước thô ta lựa chọn tiêu thức phân bổ là theo sản lượng nước tưới tiêu cho nông nghiệp và tính cho lượng nước thô cấp trong một năm.
Chi phí vật tư, nguyên nhiên liệu bảo dưỡng, vận hành các công trình phục
vụ cho cấp nước thô được xác định theo công thức:
(3-8)
Trong đó:
CVTi Chi phí vật tư, nguyên nhiên liệu i (đồng/năm); DMi: Định mức vật tư i bảo dưỡng cống cho tưới tiêu lấy theo định mức kinh tế kỹ thuật theo quyết định số 1532/2005/QĐ-UB(kg/năm);
91
PVTi: Đơn giá vật tư i bảo dưỡng được lấy theo thông báo giá của thành
phố Hải Phòng quý I năm 2010 (đồng/kg); c: Lượng nước cấp thô (35.747.180 m3); c: Tổng lượng nước tưới cho cả hệ thống (52.461.485 m3); năm được tính bằng diện tích tưới mỗi vụ nhân với định mức sử c
QTh Qnn (Qnn dụng nước tưới tại mặt ruộng tương ứng của vụ đó).
c. Kết quả tính toán chi phí vật tư, nguyên nhiên liệu để bảo dưỡng vận
hành công trình cấp nước thô
- Chi phí vật tư, nguyên nhiên liệu để vận hành, bảo dưỡng công trình cấp nước thô của An Hải: 22.266.176 đồng, chi tiết như bảng sau:
- Chi phí vật tư, nguyên nhiên liệu để vận hành, bảo dưỡng công trình
cấp nước thô của Kim Thành: 5.530.567 đồng.
Kết quả tính toán chi tiết thể hiện ở phụ lục 3.8: Tổng hợp vật tư bảo dưỡng cống và thiết bị
3.3.6. Chi phí sửa chữa thường xuyên TSCĐ cho cấp nước thô
a. Căn cứ và nội dung xây dựng định mức
Căn cứ vào nội dung công tác sửa chữa thường xuyên tài sản cố định được quy định tại Chương I, điều 2 quyết định 211/1998/QĐ-BNN-QLN ngày 19/12/1998 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Căn cứ vào thực tế loại hình công trình và phạm vi quản lý khai thác hệ
thống công trình thuỷ lợi của Công ty đang quản lý vận hành.
Định mức sửa chữa thường xuyên tài sản cố định bao gồm 2 nội dung:
+ Định mức chi tiết: Xác định hao phí về nguyên liệu, nhân công, máy thi công cho từng nguyên công và công đoạn sửa chữa máy móc, thiết bị đóng mở cống. Đối với kênh mương và công trình là khối lượng sửa chữa cho từng đơn vị kênh mương, công trình tưới, tiêu, cửa cống.
92
+ Định mức tổng hợp: Xác định tổng mức chi phí sửa chữa thường xuyên tài sản cố định trong 1 năm cho từng nhóm tài sản, từ đó xác định tổng mức chi phí sửa chữa thường xuyên cho Công ty.
Hình 3.5. Công tác sửa chữa kênh mương của công ty An Hải
b. Phương pháp tính toán xác định
Thực tế hiện nay, việc sửa chữa thường xuyên công trình thuỷ lợi ở các Công ty KTCTTL đều dựa trên ý kiến của các nhà quản lý, phụ thuộc vào ngân sách cấp bù của từng địa phương hoặc các Công ty KTCTTL phải tự cân đối thu - chi tài chính từ đó sẽ quyết định nguồn kinh phí cho sửa chữa thường xuyên, và việc thanh quyết toán dựa trên một phần vào định mức xây dựng cơ bản.
Thống kê chi phí sửa chữa thường xuyên cho từng nhóm tài sản cố định
như: máy móc, thiết bị, cửa cống dưới đê,... của hệ thống.
Trên cơ sở tài liệu khảo sát, đo đạc, thí nghiệm hao phí vật tư, nguyên liệu và nhân công cho công tác sửa chữa thường xuyên tài sản cố định, quy trình quy phạm về công tác sửa chữa thường xuyên tài sản cố định và các điều kiện đặc thù của Công ty, tiến hành phân tích xác định các mức hao phí vật tư, nguyên nhiên liệu và nhân công cho công tác sửa chữa thường xuyên tài sản cố định.
93
Rồi từ đó tiến hành phân tích, so sánh, lựa chọn ra kết quả phù hợp sát với
thực tế, áp dụng cho công tác sửa chữa thường xuyên tài sản cố định .
c. Kết quả tính toán
Công ty KTCTTL An Hải đang áp dụng định mức chi phí sửa chữa thường xuyên TSCĐ (theo quyết định số 1532/2005/QĐ-UB ngày 17 tháng 5 năm 2005 của UBND thành phố Hải Phòng về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi) trong một năm cho từng nhóm tài sản máy móc thiết bị, kênh mương, công trình trên kênh, nhà xưởng và các phương tiện quản lý khác. Định mức đó được xác định bằng 2,93% nguyên giá TSCĐ và bằng 1.481.847.000 đồng. Vấn đề đặt ra là trong chi phí sửa chữa thường xuyên TSCĐ như trên thì chi phí sửa chữa thường xuyên TSCĐ phục vụ cho cấp nước thô là bảo nhiêu? Để tính chi phí chi phí sửa chữa thường xuyên TSCĐ cho cấp nước thô ta lựa chọn tiêu thức phân bổ là theo sản lượng nước tưới, tiêu cho sản xuất nông nghiệp và lượng nước thô cấp trong một năm:
- Lượng nước tưới cho nông nghiệp: 52.461.485 m3; 35.747.180 m3. - Lượng nước thô cấp một năm:
Kết quả tính toán chi phí sửa chữa thường xuyên TSCĐ phân bổ cho cấp
nước thô của Công ty KTCTTL An Hải là:
Chi phí sửa chữa công trình đầu mối: 126.319.460 đồng/năm; Chi phí sửa chữa kênh mương và công trình: 474.209.432 đồng/năm; Tổng chi phí sửa chữa thường xuyên TSCĐ: 600.528.892 đồng/năm.
3.3.7. Chi phí quản lý doanh nghiệp
a. Nội dung các khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp
Căn cứ Nghị định số 199/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 về việc Ban hành Quy chế quản lý tài chính của công ty Nhà nước và quản lý vốn Nhà nước đầu tư vào Doanh nghiệp khác và Quyết định 15- TC/QĐ/CĐKT ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ Kế toán doanh nghiệp, Chi phí quản lý doanh nghiệp
94
bao gồm 09 hạng mục chi phí: Chi phí nhân viên quản lý, chi phí vật liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí thuế phí và lệ phí, chi phí dự phòng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác. Tuy nhiên theo Thông tư liên tịch số 90/1997/TTLT/TC-NN ngày 19/12/1997 của liên Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi, chi phí quản lý doanh nghiệp được tính ở khoản mục số 9, còn chi phí nhân viên quản lý, chi phí khấu hao TSCĐ và chi phí dự phòng được tính ở các khoản mục khác. Vì vậy định mức chi phí quản lý doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực quản lý khai thác công trình thuỷ lợi được tính bao gồm các khoản mục sau:
1. Chi phí vật liệu quản lý: Phản ánh giá trị vật liệu xuất dùng cho công tác quản lý doanh nghiệp như giấy, bút mực, ... vật liệu sử dụng cho việc sửa chữa TSCĐ, công cụ, dụng cụ ...
2. Chi phí đồ dùng văn phòng: Phản ánh giá trị dụng cụ, đồ dùng văn
phòng dùng trong công tác quản lý.
3. Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh các chi phí về dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài như: tiền điện, nước, điện thoại, điện báo, thuê nhà, thuê ngoài sửa chữa TSCĐ thuộc văn phòng doanh nghiệp ...
4. Thuế, phí và lệ phí: Phản ánh các khoản chi phí về thuế, phí và lệ phí
như thuế môn bài, thuế nhà đất, ... và các khoản phí, lệ phí khác.
5. Chi phí bằng tiền khác: Phản ánh các chi phí khác thuộc quản lý chung của doanh
nghiệp ngoài các chi phí kể trên, như chi phí hội nghị, tiếp khách, công tác phí, tầu xe,...
b. Phương pháp xây dựng định mức
Căn cứ tài liệu thống kê thực tế các khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp đã được quyết toán của 3-5 năm gần đây của Công ty, tiến hành phân tích, tính toán, xác định mức chi phí bình quân thực tế đối với mỗi lao động quản lý của doanh nghiệp.
Bước 1: Tính toán giá trị quy đổi.
95
Ti’ = Ti x S’i (3-9)
(3-9a) S'i = Si+1 x Si+2 x ... x Si+(n-1)
Trong đó:
i : Hệ số giá quy đổi từ năm thứ i về năm thứ n.
Ti': Giá trị qui đổi từ năm thứ i về năm thứ n Ti : Giá trị thực tế của năm thứ i i : Thứ tự của năm cần qui đổi n : Thứ tự của năm làm chuẩn để qui đổi. Si : Chỉ số biến động giá của năm thứ i so với năm thứ i-1 S'
Bước 2: Tính toán bình quân quy đổi của từng năm.
Bước 3: Tính giá trị bình quân quy đổi của Công ty theo các năm.
Áp dụng công thức:
(3-10)
Trong đó:
: Giá trị bình quân qui đổi của Công ty theo các năm. : Giá trị bình quân qui đổi của năm thứ i trong Công ty.
n : Số năm tính toán.
Xác định mức chi phí hợp lý:
Căn cứ vào số liệu tính toán ở phần trên, căn cứ vào việc phân vùng và đặc thù của Công ty từ đó xác định chi phí quản lý doanh nghiệp cho Công ty.
c. Kết quả tính toán
Do mức chi phí quản lý doanh nghiệp thực tế cho cấp nước thô từ năm 2009 trở về trước là rất nhỏ (sản lượng cấp nước thô rất nhỏ) vì vậy phần chi phí này được hạch toán chung với chi phí quản lý của sản xuất nông nghiệp phục vụ công ích. Hiện tại mức chi phí quản lý doanh nghiệp cho sản xuất nông nghiệp đối với Công ty KTCTTL An Hải đã được UBND Thành phố
96
ban hành và áp dụng, đó là cơ sở và là tiêu chi để xây dựng mức chi phí quản lý doanh nghiệp cho dịch vụ cấp nước thô. Bằng phương pháp phân tích và so sánh ta tính được chi phí quản lý doanh nghiệp của Công ty KTCTTL phục vụ cấp nước thô được tính bằng 50% định mức chi phí tưới tiêu nông nghiệp.
Tổng chi phí quản lý phục vụ cấp nước thô với Công ty KTCTTL An
Hải: 222.506.400 đồng/năm.
Tổng chi phí quản lý phục vụ cấp nước thô với Xí nghiệp KTCTTL
Kim Thành: 55.267.085 đồng/năm.
3.3.8. Chi phí khấu hao tài sản cố định (TSCĐ )
a. Căn cứ tính toán
TSCĐ là những tư liệu lao động có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài, chúng tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. Theo quy định hiện hành (Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ Tài chính) những tư liệu lao động có giá trị từ 10.000.000 đồng và thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên thì được gọi là TSCĐ. TSCĐ trong quá trình sử dụng bị hao mòn dần, vì vậy Doanh nghiệp phải tính khấu hao đưa vào chi phí sản xuất để thu hồi vốn. Những TSCĐ phải trích khấu hao là nhà cửa, vật kiến trúc, máy bơm dưới 8000 m3/h, máy móc thiết bị khác, phương tiện vận tải,...
Căn cứ để tính toán chi phí khấu hao dựa vào:
- Thông tư số 203/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính; - Sổ chi tiết TSCĐ của Công ty K.T.C.T.T.L. An Hải năm 2009 ; - Quy trình vận hành và quản lý hệ thống kênh, công trình trên kênh
phục vụ cấp nước thô.
b. Phương pháp tính
Căn cứ vào quy trình vận hành hệ thống công trình cấp nước thô và đặc điểm quản lý của Công ty, từ đó xác định được những TSCĐ nào sử dụng chung cho cả tưới tiêu nông nghiệp và sử dụng cho cấp nước thô, những
97
TSCĐ nào sử dụng trực tiếp cho cấp nước thô và tưới nông nghiệp thuộc lưu vực đó.
Các trạm bơm
Các TSCĐ này gồm: trạm Cữ, Bạch Mai, Hà Liên, chúng được dùng chung cho việc vận hành công trình kênh, cống phục vụ cấp nước thô và nông nghiệp cho lưu vực thuộc hệ thống kênh này. Vì vậy, khấu hao các nhà trạm này được phân bổ theo lượng nước tưới thuộc lưu vực và lượng nước thô được cấp trong năm:
- Lượng nước tưới thuộc lưu vực: - Lượng nước thô cung cấp cho nhà máy nước: 27.542.548 m3; 35.747.180 m3;
Khấu hao phân bổ cho cấp nước thô 1 năm: 6.946.295 đồng
Nhà làm việc, nhà kho và nhà xưởng
Những TSCĐ này có công dụng là phục vụ cho toàn bộ công việc quản lý của công ty KTCTTL An Hải, tức là phục vụ cho công tác tưới tiêu của cả khu vực nông nghiệp mà công ty phụ trách và phục vụ cho cấp nước thô. Vì vậy, khấu hao các TSCĐ này được phân bổ cho cấp nước thô theo tiêu thức là tổng lượng nước tưới cho nông nghiệp và lượng nước thô được cấp trong 1 năm:
- Tổng lượng nước tưới cho nông nghiệp : 52.461.485 m3; - Lượng nước thô cấp cho nhà máy nước : 35.747.180 m3;
Khấu hao phân bổ cho cấp nước thô: 14.233.641 đồng
Nhà quản lý
Nhà quản lý được xem xét tính toán là các nhà quản lý cống nằm trên hệ thống kênh cấp nước thô. Tiêu thức phân bổ khấu hao TSCĐ này là lượng nước tưới cho nông nghiệp thuộc lưu vực và lượng nước thô đã được cấp.
- Tổng khấu hao TSCĐ là nhà quản lý: 24.474.134 đồng; - Khấu hao phân bổ cho cấp nước thô : 13.823.433 đồng;
Thiết bị quản lý, máy móc khác và phương tiện vận tải
98
Các TSCĐ này phục vụ chung cho toàn bộ công tác quản lý tưới và cho cấp nước thô của công ty KTCTTL An Hải. Vì thế tiêu thức phân bổ khấu hao giống như TSCĐ là nhà làm việc.
- Tổng khấu năm các TSCĐ là: 75.340.187 đồng; - Khấu hao năm phân bổ cho cấp nước thô: 30.532.139 đồng;
c. Kết quả tính toán
Số khấu hao năm TSCĐ của Công ty KTCTTL An Hải phân bổ cho
cấp nước thô là: 65.535.508 đồng;
Chi phí khấu hao TSCĐ của Công ty KTCTTL Kim Thành phân bổ
cho cấp nước thô là: 14.296.320 đồng;
Kết quả tính toán chi tiết thể hiện ở phụ lục 3.11 đến 3.15.
3.3.9. Chi phí tạo nguồn cấp nước thô
Khoản mục chi phí chi trả tạo nguồn, là chi phí mà công ty khai thác công trình thuỷ lợi của An Hải chi trả cho Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành, Hải Dương về những khoản chi phí mà Xí nghiệp này đã chi trả cho việc khai thác, điều hành nguồn nước thô từ nguồn tới đầu hệ thống An Hải hàng năm. Thành phần chi phí này được xác định trên nguyên tắc tính toán xác định các chi phí mà Xí nghiệp KTCTTL Kim Thành Hải Dương phải bỏ ra để thực hiện để thực hiện nhiệm vụ cấp nước tạo nguồn cho Công ty KTCTTL An Hải. Trong đó có xét đến chi phí của Công ty KTCTTL An Hải hỗ trợ tiêu nước cho cho phần diện tích mà hệ thống Kim Thành - Hải Dương đảm trách
Kết quả tính toán chi phí tạo nguồn mà Công ty QLKTCTTL An Hải
chi trả cho XN QLKTCTTL Kim Thành hàng năm: 2.641.62.598 đồng.
Bảng 3.2: Bảng tổng hợp định mức chi phí cấp nước thô
TT
Nội dung chi phí
1 Chi phí tiền lương
Chi phí (Đồng/năm) 2.366.536.557
Chi phí bảo hiểm xã hội
2 Chi phí các khoản theo lương
251.736.974
Chi phí bảo hiểm y tế
99
Kinh phí công đoàn
33.564.930
Chi phí ăn ca
33.564.930
Quỹ khen thưởng phúc lợi
181.560.000
385.917.227
3 Chi phí nạo vét kênh mương
1566.467.344
1.775.249.031 Chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do cấp nước thô Chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng do cấp nước tưới cho An Hải
4 Chi phí dụng cụ, vật tư duy trì vệ sinh kênh mương 154.610.500
5 22.266.176 Chi phí vật tư, nguyên nhiên liệu bảo dưỡng thiết bị vận hành công trình
6 Chi phí sửa chữa thường xuyên tài sản cố định 600.528.892
7 Chi phí quản lý doanh nghiệp 222.506.400
8 Chi phí khấu hao tài sản cố định 65.535.508
9 Các chi phí khác
Chi phí đào tạo, nghiên cứu khoa học 89.367.960
Chi phí bảo hộ, an toàn lao động 89.367.960
Chi phí lập quỹ dự phòng mất việc làm 70.996.097
Chi phí tôn tạo bờ vùng, đắp bờ kênh mương 4.894.505.078
Chi phí xử lý ô nhiễm 268.103.880
Chi phí giám sát chất lượng nguồn nước 194.204.000
Chi phí lãi vay ngân hàng để trả lương 59.045.336
TỔNG CHI PHÍ (chưa bao gồm chi trả tạo nguồn) 13.325.634.780
10 Chi phí chi trả tạo nguồn 2.641.062.598
Tổng chi phí cấp nước thô
15.966.697.378
Chi phí tính cho 1 m3 nước thô được cấp: 15.966.697.378:35747180 = 446,6 đ/m3
100
3.4. Bàn luận về kết quả tính toán
Theo kết quả tính toán ta thấy định mức chi phí tính cho 1m3 nước thô được cấp từ hệ thống thủy lợi An Kim Hải để phục vụ sinh hoạt và công nghiệp là 446,6 đồng/m3. Tuy nhiên, trong thực tế đơn giá nước mà đơn vị được thanh toán bình chỉ là 250 đồng/m3. Chính vì chi phí được thanh toán thấp hơn giá thành tính toán, nên dẫn đến tình trạng nguồn kinh phí thu được của hệ thống công trình thủy lợi từ cấp nước nông nghiệp và các nghành tham gia hưởng lợi, trong đó có các doanh nghiệp sử dụng nước thô từ hệ thống để sản xuất nước sạch không đủ để trang trải chi phí quản l ý vận hành duy tu bảo dưỡng các công trình của hệ thống cấp nước và hệ thống thủy lợi dẫn nước tạo nguồn. Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thực trạng hệ thống ngày một xuống cấp, đời sống cán bộ công nhân viên của đơn vị ngày càng khó khăn. Trên thực tế, hàng năm nhà nước vẫn phải cấp bù một khoản ngân sách không nhỏ tuy nhiên khoản kinh phí đó chỉ để duy trì hoạt động cầm chừng của các công trình thủy lợi. Nên cần phải có những định hướng đúng trong quản lý và sản xuất kinh doanh cũng như cũng phải có những chính sách về giá nước hợp lý từ việc cấp nước của hệ thống thuỷ lợi, mới có thể thúc đẩy các doanh nghiệp hoạt động phục vụ ngày một kịp thời, có chất lượng hơn, khai thác các công trình thuỷ lợi mang lại hiệu quả ngày càng cao trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Kế quả nghiên cứu về phương pháp xây dựng định mức chi phí cấp nước thô là một căn cứ quan trọng trong chiến lược xác định giá cấp nước.
Hệ thống công trình thủy lợi An Kim Hải do xí nghiệp khai thác công trình thủy lợi Kim Thành (Hải Dương) và công ty khai thác công trình thủy lợi An Hải (Hải Phòng) quản lý. Hệ thông công trình năm trên địa bàn của cả hai tỉnh Hải Dường và Hải Phòng. Trong phương pháp tính toán đã có tính chi phí tạo nguồn với giá trị tương đối lớn (chiếm 16,5% tổng chi phí cấp nước thô). Tuy nhiên trong thực tế việc thực hiện các nghĩa vụ của các doanh nghiệp đối với công việc trên là tương đối khó khăn nên dẫn đến tính trạng các hệ thống công trình thủy lợi không được duy tu, cải tạo thường xuyên. Do đó cần phải xây dựng đinh mức chi phí cụ thể cho từng hệ thống công trình để
101
ban hành áp dụng và nhà nước có các biện pháp, chế tài đủ mạnh để các doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình.
Kết quả tính toán định mức chi phí cấp nước thô từ hệ thống An Kim Hải của tác giả trong luận văn này, ở một chừng mực nhất định, mới chỉ là tĩnh mẫu và vẫn còn cần phải tiếp tục điều chỉnh, hoàn thiện (Như việc cập nhật đầy đủ và kịp thời, các yếu tố dân sinh, kinh tế xác hội thay đổi, điều kiện kỹ thuật , xây dựng trên cơ sở quy ước một mặt bằng về thời gian, giá cả,…). Do đó, trong quá trình áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn cần phải tiến hành điều chỉnh và tính toán bổ sung, cập nhật các thông tin đầu vào cho phù hợp.
Để giảm thiểu khối lượng tính toán trong công tác xây dựng định mức chi phí cấp nước thô khi các yếu tố đầu vào thay đổi, tác đề xuất một số phương pháp tính toán điều chỉnh như sau:
(3 - 11)
Trong đó :
: Tiền lương điều chỉnh theo mức lương tối thiểu mới (đồng);
: Mức lương tối thiểu mới (đồng);
CTL : Chi phí tiền lương tính theo mức lương tối thiểu 880.000 đồng/tháng
* Chi phí tiền lương Trong tính toán, chi phí tiền lương được tính toán với mức lương tối thiểu 880.000 đồng/tháng, khi có sự thay đổi chế độ tiền lương và mức tiền lương tối thiểu chung hay có sự thay đổi về hệ số lương và hệ số phụ cấp thì căn cứ vào hệ số lương cấp bậc công việc và hệ số phụ cấp mới và số lao động định mức được tính toán để điều chỉnh chi phí tiền lương cho phù hợp. Phương pháp tính toán điều chỉnh như sau:
* Chi phí nạo vét các tuyến kênh phục vụ cấp nước thô Do chiều dày bồi lắng kênh mương hàng năm bình quân trên tuyến là 0,011m, nên phải sau một số năm (một chu kỳ nạo vét) mới phải tiến hành nạo vét. Hàng năm, khi chưa thực hiện nạo vét Công ty thực hiện trích trước số tiền
tính bình quân trích trước cho 1 năm. Khi thực hiện nạo vét thì chi trả những khoản chi trích trước đó.
102
* Chi phí dụng cụ, vật tư vệ sinh, thu gom rong rác, phế thải các tuyến kênh phục vụ cấp nước thô
Chi phí dụng cụ, vật tư vệ sinh, thu gom rong rác, phế thải các tuyến kênh phục vụ cấp nước thô trong báo cáo đã xác định được tính với giá vật tư tại thời điểm quý I năm 2010. Khi thực hiện, ở các năm thì căn cứ vào giá vật tư ở thời điểm cụ thể tính toán để áp dụng.
* Chi phí vật tư, nguyên nhiên liệu để bảo dưỡng CT cấp nước thô
Thành phần chi phí này sẽ phụ thuộc vào hai yếu tố:
1. Giá vật tư, nguyên nhiên vật liệu: Định mức chi phí này được tính với giá vật tư tại thời điểm quý I năm 2010. Khi thực hiện ở các năm thì căn cứ vào giá vật tư ở thời điểm đó và phụ lục tính toán để áp dụng;
2. Chi phí được tính với lượng nước thô cần cấp là 35.747.180 m3, khi
sản lượng nước thô cung cấp thay đổi thì chi phí này được xác định như sau:
(3 - 12)
Trong đó:
Cvt: Chi phí vật tư, nguyên nhiên liệu để bảo dưỡng vận hành công trình
khi lượng nước thô cung cấp đã thay đổi;
W: Lượng nước thô cung cấp yêu cầu.
* Các định mức chi phí khác
Các thành phần chi phí khác như Chi phí lãi vay ngân hàng, chi trả tạo nguồn, Quản lý doanh nghiệp,...cũng thường xuyên bị phụ thuộc và có những thay đổi. Khi áp dụng, tuỳ theo điều kiện thực tế mà thay đổi cho phù hợp và kịp thời.
103
Kết luận chương 3
Để đảm bảo nguồn tài chính bổ sung cho việc vận hành các hệ thống công trình thuỷ lợi đáp ứng được nhiệm vụ cấp nước thô và để có cơ sở thiết lập giá thanh toán giữa các công ty khai thác công trình thuỷ lợi cung cấp nước thô và các tổ chức dịch vụ sản xuất và cung cấp nước sạch thì cần thiết phải xây dựng được hệ thống các định mức chi phí cho các công tác cấp nước thô có căn cứ khoa học và theo đúng chế độ chính sách của nhà nước.
Từ cơ sở khoa học về phương pháp luận xây dựng định mức, từ thực trạng kỹ thuật, tổ chức bộ máy quản lý sản xuất, dựa trên các nhân tố tự nhiên, xã hội cụ thể của hệ thống, chương 3 của luận văn đã tiến hành xây dựng được hệ thống định mức chi phí cấp nước thô cho hệ thống công trình thuỷ lợi An Kim Hải, Hải Phòng. Kết quả tính toán đã cho thấy, chi phí thực tế mà doanh nghiệp bỏ ra để tổ chức vận hành hệ thống công trình làm dịch vụ cấp nước cao hơn rất nhiều so với nguồn thu từ các đơn vị hưởng lợi hoàn trả theo quy định hiện hành.
104
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Xây dựng hệ thống định mức chi phí nói chung, định mức chi phí cấp
nước thô từ hệ thống công trình thủy lợi phục vụ sản xuất của các ngành dân
sinh kinh tế nói chung, sản xuất nước sạch phục vụ sinh hoạt và công nghiệp
nói riêng, là một trong những công tác rất cần thiết và cấp bách. Kết quả của
việc nghiên cứu này sẽ là cơ sở quan trọng để các đơn vị có thể chủ động tổ
chức xây dựng, rà soát điều chỉnh định mức cho đơn vị mình, đồng thời giúp
các cơ quan quản lý có thẩm quyền ở địa phương kiểm tra, thẩm định kết quả
tính toán và quyết định ban hành áp dụng các chỉ tiêu định mức chi phí trong
hoạt động quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi. Hoàn thành bản luận
văn của mình, tác giả đã giải quyết được những vấn đề sau.
1. Đã thu thập được một khối lượng đáng kể các tài liệu về tình hình dân sinh - kinh tế, hiện trạng hệ thống công trình thuỷ lợi cấp nước thô, tài liệu thống kê về các mặt quản lý khai thác, sản xuất kinh doanh của Công ty quản lý khai thác công trình thuỷ lợi An Hải Hải Phòng và Xí nghiệp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi Kim Thành, Hải Dương;
2. Đã thu thập khá đầy đủ và sắp xếp một cách hệ thống các văn bản pháp quy, các quy định, hướng dẫn, các định mức của Nhà nước, của địa phương của các doanh nghiệp có liên quan đến công tác xây dựng định mức chi phí quản lý khai thác công trình thuỷ lợi trên địa bàn Thành phố Hải Phòng nói riêng, và Cả nước nói chung;
3. Đã tổng quan những nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề có liên quan đến nội dung định giá nước, khai thác, quản lý tài nguyên nước và đưa ra những luận cứ về mặt khoa học, thực tiễn và pháp lý cho việc lựa chọn, tính toán và thực hiện các nội dung định mức chi phí cấp nước thô cho công nghiệp và sinh hoạt;
4. Luận văn đã phân tích và đề xuất phương pháp và áp dụng phương
105
pháp lựa chọn để xây dựng định mức chi phí cấp nước thô từ hệ thống công trình thủy lợi phục vụ sinh hoạt và công nghiệp của hệ thống thuỷ lợi An Kim Hải - Hải Phòng ứng với mặt bằng thời điểm nghiên cứu tính toán Quý I năm 2010. Do các số liệu phục vụ việc tính toán được thu thập và cập nhật tại thực tiễn sản xuất, các văn bản hướng dẫn là văn bản quy định hiện hành của Nhà nước, của địa phương, nên kết quả nghiên cứu của luận văn có thể áp dụng vào thực tiễn quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị nghiên cứu điểm ;
5. Do trong thực tiễn các yếu tố đầu vào và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất luôn biến động, Luận văn đã đề cập và đưa ra được những phương pháp hiệu chỉnh một số định mức chi phí trường hợp các yếu tố đầu vào thay đổi. Kết quả tính toán của luận văn cho thấy, chi phí thực tế mà danh nghiệp thuỷ lợi bỏ ra để vận hành hệ thống cấp nước thô lớn hơn rất nhiều so với giá trị được các đơn vị sử dụng nước thô sản xuất nước sạch phục vụ công nghiệp và sinh hoạt thanh toán lại
2. Kiến nghị
1. Các công ty khai thác công trình thủy lợi cần phải tiến hành rà soát, kiểm tra lại hệ thống định mức chi phí hiện có, tiến hành xây dựng bổ sung hoàn thiện hệ thống định mức mới, đặc biệt là hệ thống định mức chi phí cấp nước thô để làm căn cứ xây dựng cơ chế giá cấp nước thô;
2. Vấn đề nghiên cứu xây dựng định mức chi phí cấp nước thô đang là một đòi hỏi bức thiết của thực tiễn nước ta trong giai đoạn hiện nay. Một trong những tác dụng quan trọng của nó là nhằm cung cấp số liệu đầu vào cho việc xây dựng khung giá nước sạch cho các tỉnh, thành phố theo Quyết định của Thủ tướng chính phủ;
3. Nhà nước và các cấp có thẩm quyền cần sớm ban hành các quy định về việc chính sách giá dịch vụ cấp nước, để các hệ thống thuỷ lợi có thể có đủ nguồn thu để quản lý khai thác, vận hành hệ thống công trình bền vững và hiệu quả
106
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Formatted: Indent: First line: 0.63 cm
I. Tiếng Việt:
1. Ngô Thế Bính (2008), Bài giảng định mức lao động, Đại học Mỏ - Địa
chất, Hà Nội.
Formatted: Bullets and Numbering
2. Trương Đức Toàn (2010), Xây dựng và áp dụng định mức kinh tế - kỹ
thuật trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi, bài đăng trên trang
web: www.iwem.gov.vn, ngày 9 tháng 2 năm 2010.
1.3. Nguyễn Bá Uân (2008), Nghiên cứu xây dựng định mức chi phí
cấp nước thô từ các hệ thống công trình thuỷ lợi, Tạp chí Khoa học
Thuỷ lợi và Môi trường.
2.4. Nguyễn Bá Uân, Ngô Thị Thanh Vân (2006), Giáo trình kinh tế
thuỷ lợi, Nhà xuất bản xây dựng, Hà Nội.
3. Trương Đức Toàn (2010), Xây dựng và áp dụng định mức kinh tế - kỹ
thuật trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi, bài đăng trên trang
web: www.iwem.gov.vn, ngày 9 tháng 2 năm 2010.
II. Tiếng Anh
4.5. Briscoe J. (1996), Managing Water as an Economic Good: Rules
for Reforms. Water Supply;
5.6. Cost Recovery and Water Pricing for Irrigation and Drainage
Projects, 2005 The International Bank for Reconstruction and
Development/ The World Bank 1818 H Street, NW, Washington, DC
20433;
107
6.7. Dinar, Ariel (ed.) (1997). Water Pricing Experiences: An
International Perspective. World Bank Technical Paper No. 386.
Washington, D.C: The World Bank.
108
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ------------------------------------------------------------------------------------------------- 1
1. Tính cấp thiết của đề tài --------------------------------------------------------------------- 1
2. Mục đích nghiên cứu ------------------------------------------------------------------------- 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu --------------------------------------------------------- 3
4. Phương pháp nghiên cứu -------------------------------------------------------------------- 3
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ------------------------------------------------- 3
6. Nội dung nghiên cứu ------------------------------------------------------------------------- 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC KINH TẾ
KỸ THUẬT TRONG QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI -------- 5
1.1. Một số khái niệm về định mức ----------------------------------------------------------- 5
1.2.Vai trò, chức năng của định mức kinh tế - kỹ thuật --------------------------------- 13
1.3.Tình hình xây dựng và áp dụng định mức kinh tế - kỹ thuật trong công tác quản
lý khai thác công trình thuỷ lợi ở nước ta -------------------------------------------------- 16
Kết luận chương 1------------------------------------------------------------------------------- 32
CHƯƠNG 2. NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC
CHI PHÍ CẤP NƯỚC THÔ TỪ HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI -------- 34
2.1. Vấn đề cấp nước thô cho nhu cầu sản xuất nước sạch phục vụ sinh hoạt và công
nghiệp---------------------------------------------------------------------------------------------- 34
2.2. Tổng quan những nghiên cứu về chi phí cấp nước --------------------------------- 48
2.3. Nghiên cứu đề xuất phương phát xây dựng định mức chi phí cấp nước thô từ hệ
thống công trình thuỷ lợi ---------------------------------------------------------------------- 54
2.4. Nội dung các bước xây dựng và triển khai áp dụng định mức chi phí cấp nước
thô ------------------------------------------------------------------------------------------- 635763
Kết luận chương 2------------------------------------------------------------------------ 645764
CHƯƠNG 3: ÁP DỤNG NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC CHI PHÍ CẤP
NƯỚC THÔ TỪ HỆ THỐNG THUỶ LỢI AN KIM HẢI - HẢI PHÒNG ----- 655765
3.1. Giới thiệu khái quát về hệ thống thuỷ lợi An Kim Hải --------------------- 665766
3.2. Các khoản mục chi phí cấp nước thô cần định mức ------------------------- 715771
3.3. Tính toán xây dựng các định mức ----------------------------------------------- 755775
3.4. Bàn luận về kết quả tính toán ------------------------------------------------- 10057100
Kết luận chương 3--------------------------------------------------------------------- 10357103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ---------------------------------------------------------- 10457104
1. Kết luận ------------------------------------------------------------------------------ 10457104
2. Kiến nghị ---------------------------------------------------------------------------- 10557105
TÀI LIỆU THAM KHẢO --------------------------------------------------------------- 10657106
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Các đơn vị thực hiện xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật --------------- 19
trong giai đoạn 1990-1999 ---------------------------------------------------------------------- 19
Bảng 1.2: Số lượng doanh nghiệp đã xây dựng và áp dụng định mức kinh tế - kỹ
thuật giai đoạn 1990 - 1999 --------------------------------------------------------------------- 24
Bảng 1.3: Thống kê số đơn vị đã xây dựng định mức từ năm 2000 đến 2009 ---- 25
Bảng 3.1: Định mức dụng cụ vệ sinh-------------------------------------------------- 885788
Bảng 3.2: Bảng tổng hợp định mức chi phí cấp nước thô ----------------------- 985798
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang
Hình 1.1. Đoàn điều tra số liệu xây dựng mức tại Công ty khai thác công trình
thuỷ lợi Vĩnh Bảo - Hải Phòng ------------------------------------------------------------- 21
Hình 1.2. Giám đốc Công ty TN Đan Hoài báo cáo tình hình áp dụng ĐM ------ 23
Hình 1.3. Báo cáo kết quả xây dựng định mức KT-KT của 1 đơn vị tư vấn------ 24
Hình 3.1. Bản đổ quy trình vận hành cấp nước thô hệ thống thuỷ lợi An Kim Hải675767
Hình 3.2 Sơ đồ tổng quát Hệ thống thuỷ lợi An - Kim - Hải phục vụ cấp nước thô.705770
Hình 3.3. Công tác nạo vét kênh mương do bị bồi lắng do cấp nước tưới cho
công ty khai thác công trình thuỷ lợi An Hải------------------------------------- 835783
Hình 3.4. Công tác nạo vét kênh mương bị bôi lắng do tiêu nước cho xí nghiệp
khai thác công trình thuỷ lợi Kim Thành ----------------------------------------- 865786
Hình 3.5. Công tác sửa chữa kênh mương của công ty An Hải -------------- 925792
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 3.1: Định mức chi phí tiền lương nhặt, thu gom phế thải và vớt rau,
rong, bèo trên kênh của hệ thống thủy lợi An Kim Hải.
Phụ lục 3.2: Định mức lao động vệ sinh, thu gom phế thải và vớt rau, rong, bèo
trên kênh của hệ thống thủy lợi An Kim Hải.
Phụ lục 3.3: Định mức chi phí nạo vét kênh mương cấp nước thô của hệ thống
thủy lợi An Kim Hải.
Phụ lục 3.4: Định mức lao động phân bổ đối với sản xuất nông nghiệp.
Phụ lục 3.5: Định mức tiền lương phân bổ đối với sản xuất nông nghiệp.
Phụ lục 3.6: Định mức chi phí nạo vét kênh mương bị bồi lắng tiêu thoát nước
vụ mùa của hệ thống An Kim Hải.
Phụ lục 3.7: Định mức chi phí nạo vét kênh mương cấp nước tưới vụ chiêm
xuân của hệ thống thủy lợi An Kim Hải.
Phụ lục 3.8: Tổng hợp vật tư bảo dưỡng cống và thiết bị.
Phụ lục 3.9: Bảng tính toán vật tư, dụng cụ cho công tác vệ sinh kênh.
Phụ lục 3.10: Tổng hợp tính toán chi phí cho công tác vệ sinh kênh.
Phụ lục 3.11: Tổng hợp chi phí khấu hao TSCĐ phân bổ cho cấp nước thô.
Phụ lục 3.12: Chi phí khấu hao TSCĐ phân bổ cho cấp nước thô – Nhóm
TSCĐ: Các nhà trạm.
Phụ lục 3.13: Chi phí khấu hao TSCĐ phân bổ cho cấp nước thô – Nhóm
TSCĐ: Nhà làm việc, nhà kho và nhà xưởng.
Phụ lục 3.14: Chi phí khấu hao TSCĐ phân bổ cho cấp nước thô – Nhóm
TSCĐ: Nhà quản lý.
Phụ lục 3.15: Chi phí khấu hao TSCĐ phân bổ cho cấp nước thô – Nhóm
TSCĐ: Thiết bị quản lý, máy móc khác và phương tiện vận tải.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
CTTL
: Công trình thủy lợi
KTKT
: Kinh tế kỹ thuật
QLKT
: Quản lý khai thác
SCTX
: Sửa chữa thường xuyên
TSCĐ
: Tài sản cố định

