Nguồn gốc và tiến hoá
của phân ngành có mang
Căn cứ vào các mẫu vật hoá thạch, chứng t
rằng động vật có mang được hình thành rất
sớm (từ k Cambri), chúng được hình thành t
tổ tiên gần với giun đốt và sớm có hướng tiến
hoá riêng.
Bằng chng là các giáp xác c (Remipedia,
Cephalocarida và Anostraca), đều thể hiện đặc
điểm chung của tổ tiên của giun đốt, tùy theo
mức độ biểu hiện khác nhau như cơ thể phân
đốt đồng hình, có nhiều đốt, tất cả hay phần lớn
còn giđặc điểm phần ph hai nhánh, còn chưa
tách biệt rõ ràng phn đầu và phn ngực, phần
phụ của phần hàm và phần ngực còn gần nhau
về cấu tạo và chức phận, còn có cấu trúc thần
kinh bậc thang...
Từ tổ tiên này đã sớm tách thành các hướng
tiến hoá riêng: Remipedia gần với tổ tiên nhất
thể hiện phân đốt đồng hình, chưa phân thành
các phần cơ thể.
Cephalocarida và Branchiopoda có đặc điểm
chung là có phần bụng không mang phần
phụ, giảm dần số đốt, hình thành vỏ giáp.
Ostracoda, Maxillopoda và Malacostraca đều có
xu hướng giảm và ổn định số đốt, hình thành
phần đầu phức tạp và hình thành phần phụ một
nhánh. Tuy nhiên mỗi nhóm có hướng phát triển
riêng: Maxillopoda hình thành các nhóm định
cư, ký sinh và cá thể lưỡng tính. Còn Ostracoda
giảm số đốt cơ thể đến thấp nhất, phần phụ biến
đổi nhiều về cấu tạo và chức năng. Còn
Malacostraca có kích thước lớn, vẫn giữ phần
đầu nguyên thy và phn bụng vẫn có phần phụ
2 nhánh. Trên con đường tiến hoá từ giun đốt
đến giáp xác, hiện tượng quan trọng giúp cho
sự biến đổi này là đầu hoá và phân đốt các
phần phụ. Giáp xác có quan hệ khá gần gũi với
trùng ba thùy. Hai nhóm động vật này có các
đặc điểm chung như số lượng và đặc điểm của
phần phụ đầu, cấu tạo 2 nhánh của phần phụ,
hình thành mắt kép, hình dạng và phát triển của
ấu trùng...Tuy nhiên trùng ba thùy gần với tổ
tiên giun đốt hơn (các đốt nhiều, phân đốt đồng
hình...).
Hương Thảo