Nhân cách Nguyn
Công Tr, nhìn tquan
điểm bản thlun
1) c chc trách ông đảm nhiệm trong thời gian dài không liên quan gì đến văn
chương mà ông đã dùi mài, nhưng n ợng mạnh nhất, thành công nht lại thuc ngạch võ
quan: những nơi khó khăn nht, phc tp nhất cả nưc hiy vquân s đều thấy có mặt ông
(vùng núi phía Bc với các cuc nổi loạn, đin hình là ca Nông Văn Vân; các cuộc xâm nhập
quấy rối của hải tc người Hoa vùng biển Đông Bc; th ph Thanh Hóa; vùng biên giới
Trấn Tây và Cămpuchia). Tuy lần b pht hay giáng cp, nhưng tháng 5-1835, nhân đo
quân ca ông phc giết đưc Nông n n, đưc vua cho v Kinh ăn mừng, vua ban thưởng
nghi thc trọng th “ôm gối vua, chính tay vua rót rượu ban cho và d: “Nay ng Tr xut
thân t quan văn, thế mà ngày ny làm đưc vic quân, đến nay đã 3 năm, không qun ngại
khó nhc, k cũng đáng khen. Vy chuẩn cho một người con đưc tp ấm làm Hiệu uý v Cẩm
y. Tháng 7/1835, đưc gichức Thượng thư B Binh! Đến năm 1838, Minh Mạng cho dng
“bia võ công đ ghi ng nhng người nhiều công lao trong quân l nht, 20 người trong
đó Nguyn Công Trứ đưc đ nghị ghi tên vào bia này, con ca h đưc tp ấm.
2) c hot động đa dạng trong lĩnh vc kinh tế: khai hoang, tr thy (đê sông Hồng);
đấu tranh với t cường hào nông thôn; kiến nghị v quĩ xã thương (dự tr gạo), v việc cấp
tin dưỡng liêm đchống tham nhũng… ng được Nguyễn Công Tr thực hin đầy tinh thần
trách nhiệm, có hiệu qu, dù có những kiến ngh không đưc vua và đình thầnng h.
Trong mọi lĩnh vc hoạt động, ông đu t rõ s tinh nhạy, kh năng phát hiện và giải
quyết các vấn đ do thc tiễn cuc sống đt ra. Vic giải quyết những vấn đnày rt xa l vi
công thức “vì dân hayđi ngược với lợi ích của dân mà nhiều nhà nghiên cứu hiện đại từng
vận quan điểm giai cấp chật hẹp đ đánh giá ông, ng rất xa lvới khuôn kh quan niệm ph
biến ca nhà Nho v tu k tr nhân, nội thánh ngoi vương. Có l ngoi tr bài đối sách trong
k thi Hương năm 1819 - k thi ông đã đ đầu - là ông có vận dụng kiến thc ch v nhà Nho
(bàn v lòng ái dân, hu n, tí dân ca bc vương gi trong lch sử). Ngoài ra, c din ngôn
có màu sc ch v hầu như không bắt gặp trong thơ văn, trong c bản tấu của ông. Ông liên
tc đưa ra các bản tấu, kiến ngh phân ch vàu hướng gii quyết nhiu vn đc th, thc tế
ca nưc ta trong na đu thế k XIX. Năm 1827, nhân việc công dẹp lon Phan Bá Vành,
ông đưc Minh Mạng cho phép bản tấu nào thì đưc niêm phong gi thẳng lên vua. Chng
hạn, cái t hại của bọn cường hào được ông phát hiện rt sc sảo nh ông đi sát thc tế nông
thôn. Tháng 9-1827, ông tấu: T trước đến nay, nhng người bàn việc đều đ lỗi cho quan lại
mà không biết phần nhiều là ti hào cường. i hi quan lại là 1, 2 phần 10, i hại ờng hào
đến 8, 9 phần 10, bởi vì quan lại là chẳng qua kiếm li nh giấy t, đòi tiền ngoài l thuế
kh, cái hại gn và nhỏ, vic đã phát l, thì gng ch ngay, ri cũng biết hối. n cái hi hào
cưng, làm con người ta thành m côi, v người ta thành goá bụa, giết c tính mng của
người ta, hết c gia tài của người ta, mà vic không lộ, cho nên c công nhiên không kiêng s
gì. Ch nào chúng cũng cùng nhau anh ch, chuyên li làm giàu, dối ct quan li, đ thoả lòng
riêng. Có công điền công thổ thì chúng thường thường bày vic thuê mướn làm béo mình,
những dân nghèo ng không kêu vào đâu đưc. Giáo hoá không thấm xung dưới, đức trch
không đến khp nơi, chưa hn là không bởi đó. Thm chí còn n lu đinh đin, ruộng đến
ngn mẫu không nộp thuế, ch đy túi của hào cưng, đinh đến tm suất kng đăng s ch
phục dch riêng cho hào cường. Nay xin trích lấy mt vài ni đưa ra pháp lut và bãi l thuê
mướn ruộng đất ng (ch in ng do chúng tôi nhn mạnh). Phi lăn ln trong thc tế nông
thôn Việt Nam và có quan điểm thc tiễn cao mới thấy đưc nhng vấn đ như thế. Trong kiến
ngh tr thủy sông Hồng của Nguyễn Công Trđ trình Minh Mạng tháng 10 - năm 1835, mấy
tháng sau khi ông ng các đồng sự thanh toán được ng Văn Vân cũng khẳng định điều đó.
Ông đã tham vấn các lão là những người hiểu biết nhiều, nhn thy ch 2-3/10 s người
đưc hỏi đồng ý gi đê, đa phần xin b đê; t đó, ông đưa ra phương án bđê và nạo vét lòng
sông đ nưc đ nhanh ra bin (phương án này đã không được vua chấp nhận). Dễ thấy cách
nn ca ông rt khác với cung cách quant cuc sống trong thi ca nhà Nho thường thấy:
motip đi qua một vùng quê, nn quan t thấy một hiệnợng gì thuộc đời sống xã hội thì
cảm xúc và ao ưc v đưc bc tranh dâng lên vua rõ là motip khá phbiến trong thơ nhà Nho
xưa, phản ánh một cung ch suy ng sách vở, kháquan liêu”, hời hợt, lười biếng của h, coi
như thế đã là th hiện đầy đ bổn phn của nhà Nho thân n. Theo chúng tôi, tinh thần thc
tin ca Nguyn ng Tr bc l một mặt ch ông đã không viết những bài thơ bằng ch
Hán tinh thn “thân dân kiểu đó; mặt khác là các kiến nghị, các bản tấu đậm đà hơi th
ca thc tiễn cuc sống. Ông hiu biết u sc cuc sống và ưa hành đng đ giải quyết các
vấn nạn của thc tế hơn là than th hay phiếm luận. Nhân đây chúng ta ng nên đặt Nguyễn
Công Tr vào bi cnh văn hóa Nho giáo Việt Nam, nơi mà hu như không thấy nhà Nho Việt
Nam nào có trưc tác bàn v nông nghiệp hay thy lợi vốn là những lĩnh vc thiết yếu đối với
một xã hội nông nghip như nưc ta. Xa hơn na, ta nh đến câu chuyn Khổng Tử chê Phàn
T là tiểu nhân ch vì người học trò này xin thầy dy cho ngh làm vườn, ngh làm ruộng(2).
Tht khó qui Nguyn Công Trứ vào mt truyền thống Nho giáo, dù là Vit Nho hay Nguyên
Nho, Hán Nho, Minh Nho, Tng Nho, Thanh Nho... Nhng diễn ngôn của ông có th mượn
nhng từ ng nào đó của Nho gia như trung hiếu, qn tn, công nghip hay chương trình k
sĩ (Luận k ), sau nhng t ng đó là một con người với phương pháp suy nghĩ đầy nh hiện
thc, tự nhiên, trong môi trưng văn hóa phương Đông đầy nh giáo điều, kinh viện. Không ít
diễn ngôn của ông th hiện khát vọng lp công danh như mt s thôi thúc t bên trong, t
nhiên, khác với tinh thần Nho giáo:
Chí những toan xẻ núi lấp sông
Làm nên đng anh hùng đâu đy t
Nhng dạng hoạt đng mà ông kinh qua chc chắn không có trong chương trình hc và
thi ca nhà Nho. Hc vn nhà nho xoay quanh nhng vấn đ tu thân và nguyên lý tr đo v
phương din đạo đức. Ch có người chp nhn thâm nhập cuc sống muôn hình ngàn v mới
có kiến thc và khnăngng phó, sáng kiến tích cực. Nguyễn Công Tr thành công trong hot
động quân sự và kinh tế nhờ tài năng thiên bẩm, nh tinh thần năng động sáng tạo, nh tinh
thần xông pha không qun khó khăn nguy hiểm, nh sự tận tâm ca bản thân ông, không quản
nhng lời dị nghị hay dư luận đn đoán ng như sự tht thường trong cách dùng người của
một ông vua chuyên chế như Minh Mạng. Biết bao lần ông b trách pht, bị giáng cp, bị bc
đãi, nhưng ông không nản chí, không h nhiễm tinh thn dụng chi tắc hành, x chi tc tàng đầy
cao ngạo ca nhà Nho vn cậy mình đức. Tuy Minh Mạng nghiêm khc quá mức với
ông trong nhiu lần trách pht, giáng chc như thế (đth uy ?), song nhìn chung, ông ta vẫn
biết đánh giá đúng tài năng ca Nguyn ng Trứ và Nguyn Công Trứ cũng không ly vic
b trách phạt làm điu. Những câu thơ ờng như đưc ông viết t khi chưa nhp thế hành đo
đã báo trưc phương ch xthế ca ông cho c cuc đời, không chút ảo tưởng v kh năng
gi nhân cách cao c khi phi làm quan ới trưng ca một ông hoàng đế “con trời chuyên
chế; chấp nhận dấn thân vì “con trời đồng nghĩa với chấp nhn cả vinh và nhc, đón nhận cả
ân và uy:
Đương n kh nhục lắm người khinh,
Vn h m ngưi nhc có vinh.
Vn đ ghe người cho mui cá
Hi đen lm kẻ c xương kình.
Đi nhân bao quản nhi chênh lch,
Quân t khôn t chn đá đanh.
Thôi hẵng đợi trời bình tr đã,
Gp thi v nh s ra danh.
Nhng cch ân cần không phải đơn thuần ch là ngh thuật lung lạc nhân tài mà phản
ánh s quí trọng thc scủa nhà vua dành cho viên quan văn nhưng lại làm quan võ giỏi,
quan kinh tế tài năng: năm 1826, có tang m, ông v để tang, được Minh Mạng ban tặng cho
100 lạng bạc; tng được đ ngh ghi tên vào bia võ ng và được bnhiệm Binh bThượng
thư…